39.5 C
Hanoi
Chủ Nhật, 7 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 34

Phân loại tinh hệ theo nhóm bệnh

0
Sách Trung châu tử vi Đẩu số – Tam Hợp phái – Dịch giả Nguyễn Anh Vũ

Nhóm 1: Bệnh hệ thần kinh

Các tổ hợp sao chủ yếu là Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng. Cũng có thể nói tổ hợp cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” rất dễ bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh, như suy nhược thần kinh, tâm thần, thiểu năng chí tuệ,.v.v…

Nhiều lúc bệnh mang tính suy nhược thần kinh có liên quan đến “Thiên đồng – Cự môn”. Nếu “Tử Vi – Tham lang” thủ cung Tật Ách gặp sao Đao hoa quá nặng, thì lúc đến hạn “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thủ cung Tật Ách, thường dễ mắc chứng bệnh này, biểu hiện là dương nuy, di tinh, xuất tinh sớm. Ở đây không cần xem Cự Môn.

Người bị bệnh tâm thần, chủ yếu xem Thiên cơ, đông y gọi là Can phong.

Nếu “Thiên cơ – Thái âm” đồng cung với Hỏa Đà, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, là rối loạn Tâm thần kinh (hysteria), thường có biểu hiện kích động, cử chỉ thất thường. Nhưng cần phải hội Thiên Lương và có Thái Dương không có nhập miếu tương chiếu, mới ứng nghiệm.

Bệnh viêm não Nhật bản-B, cũng có liên quan với tinh hệ “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, năm phát bệnh là cung hạn Tật Ách Thiên Lương lạc hãm, hội chiếu Hỏa tinh, Linh tinh. Phỉ liêm, Âm sát. Nhóm tinh hệ này khác với nhóm tinh hệ chủ về bệnh Hysteria nên cẩn thận phân biệt.

Tinh hệ chủ về viêm màng mão đại khái tương tự với tinh hệ chủ về chủ về viêm mang não Nhật bản – B, chỉ khác nhau một điều, là Thái Dương nhập miếu, nếu Thái dương lạc hãm, phần nhiều là viêm não Nhật Bản-B, thời gian ứng nghiệm thường là lúc hạn Tật Ách là Thất Sát hoặc Phá Quân. Thất sát thường chủ về chứng viêm, Phá quân chủ về chứng viêm cấp tính.

Chứng miệng méo, miệng chảy nước dãi (không phải do trúng phong), thì xem các tinh hệ chủ về bệnh chủ ở tạng Thận. Có lúc cung Tật Ách ở nguyên cục là Tham lang, niên hạn ứng nghiệm là lúc cung hạn Tật Ách “Thiên cơ – Thái Âm”, cũng có lúc ngược lại, nguyên cục là “Thiên cơ Thái âm”, thời kỳ ứng nghiệm là hạn Tham lang. Đây là một ví dụ. Hai chứng này đều gặp nhiều Tạp diệu như Thiên hư, Thiên sứ, Thiên diêu, thì phải lưu ý.

Trong số các bệnh hệ thần kinh, có bệnh “rỗng tủy sống” (syringomyelia), xem hệ “Thiên đồng – Cự môn” và hệ “Thất sát – Phá quân”. Người bệnh thường cảm thấy chân tê, không có cảm giác, nếu nghiêm trọng các ngón tay ngón chân có thể bị co quắp, hoặc tê liệt phần mặt. Cổ nhân cho rằng Thất sát, Phá quân là sao chủ về tổn thương, tàn tật, nguyên nhân có liên quan đến chứng bệnh này.

Ngoài ra còn có bệnh múa tay múa chân (ST. Vitu’s dance), người bệnh không thể kiểm soát hoạt động của chân tay, thường có một số động tác nhanh không tự chủ, có lúc thì mắt máy giật, nhíu may, lè lưỡi, bệnh tình tuy không đau, nhưng rất phiền phức. Tinh hệ chủ về chứng này là Tham lang đồng cung với Địa không, Địa kiếp, lại gặp thêm Kình dương, Thiên sứ, có lúc là Thiên đồng hóa Kị đồng cung với Hỏa linh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, cũng chủ về chứng này, nhưng cung Tật Ách của nguyên cục phải là Kình dương ở cung Ngọ, cũng là một nhân tố quan trọng chủ về chứng này.

Đau dây thần kinh tam thoa, tinh hệ chủ yếu là “Thái Dương – Thiên Lương”, có Hỏa Linh hội chiếu hoặc đồng độ, lại gặp thêm Thiên thương, còn có Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn” hội chiếu cung mệnh, đều chủ về chứng bệnh này.

Tinh hệ chủ về liệt thần kinh mặt, và tinh hệ chủ về đau dây thần kinh tam thoa rất khó phân biệt. Điều cần chú ý là, Kình dương phần nhiều chủ về tê liệt thần kinh mặt, tinh hệ ứng nghiệm phát bệnh phần nhiều là Thiên Cơ, còn đau dây thần kinh tam thoa thì không phải vậy.

Bệnh thiên đầu thống mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương”, tạp diệu hội hợp phần nhiều có Thiên nguyệt, Thiên hình. Có lúc là “Thiên cơ – Cự môn” đồng cung với Hỏa tinh cũng chủ về bệnh xuất huyết não, khác với bệnh thần kinh đơn thuần, phân biệt chủ yếu là tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” có biểu hiện choáng ngất.

Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” mà Thiên cơ hóa Kị, còn gặp thêm Thiên hư, thì càng ứng nghiệm.

Bàn tay chân run mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn”, cũng có quan hệ với Đà la và Cô thần.

Bệnh tay chân run do trúng độc, thì xem tinh hệ “Thái dương – Thiên lương”, có Thiên nguyệt cùng bay đến tì càng đúng. Do trúng độc cũng có thể gây ra chứng tắc ruột, thời kỳ ứng nghiệm phải xem cung hạn Cự Môn

Viêm da mang tính thần kinh là tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”, thời kỳ ứng nghiệm ắt cung hạn phải gặp Thiên cơ, Thiên Đồng.

Nhóm 2: Bệnh hệ tiêu hóa

Cơ quan thuộc hệ tiêu hóa, bao gồm Trường (ruột), Vị (dại dày), Can (gan), Đảm (mật). Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, có thể phân chia như sau:

Vị hàn, thòng dạ dày (sa bao tử), thì xem Thiên phủ thuộc loại “kho lộ”, “kho rỗng”, hoặc Tử vi là cách “tại dã cô quân”, nhưng không được có Hỏa tinh đồng độ mới đúng, có Hỏa tinh thì nhuyễn hóa thành chứng viêm.

Nếu tinh hệ “Tử vi – Thiên tướng” thủ cung Tật Ách, thì thường là Vị hàn, buồn nôn, hoặc tiêu chảy thuộc chứng Hàn, Thiên phủ đồng cung với Hữu bật, phần nhiều là sa bao tử.

Chứng vị hàn cũng có thể là chứng dạ dày dư acid, các sao ứng nghiệm là Thiên phủ gặp Thiên lương, Phá toái, Âm sát, gặp Liêm trinh hóa Kị thì bệnh rất nghiêm trọng, có thể phát triển thành chứng đay dạ dày, thần kinh dạ dày quá mẫn cảm.

Nếu là viêm dạ dày, thì xem Thiên cơ hoặc Cự môn. Thiên cơ thì chủ về bệnh mãn tính, thường còn chủ về đau Gan. Cự môn đồng cung với Hỏa linh thì chủ về viêm dạ dày cấp tính, hay viêm đại tràng cấp tính. Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” đồng độ, nguy cơ bị viêm dạ dày hay viêm đại tràng rất lớn. Có sao Lộc thì giảm nhẹ, không có sao Lộc mà còn hóa Kị thì càng nặng thêm. Nhưng nếu có Lộc thì thường chủ về bệnh Trường Vị bất hòa, mức độ nhẹ thì viêm dạ dày cấp tính. Bệnh viêm ruột thừa cấp tính thì xem Thiên lương gặp Kình dương, hay Thất sát gặp Kình dương, hoặc Phá quân gặp Kình dương. Trường hợp Phá quân gặp Kình dương cũng chủ về viêm ruột kết, viêm đại tràng cấp tính

“Thiên đồng – Thiên lương” đồng độ, cũng chủ về bệnh dạ dày, phần nhiều thuộc chứng hàn. Nếu có Thiên mã đồng độ, lại gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì phần nhiều là rối loạn tiêu hóa, hoặc tiến triển thành tiêu chảy.

Tử vi cũng chủ về tiêu chảy, nhưng khác tính chất. Tiêu chảy của Tử vi thông thường là hấp thụ không tốt, còn tiêu chảy của tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” là không tiêu hóa được.

Xơ gan thì xem Thiên cơ, cũng xem Thất sát ở hai cung Dần và Thân, nhưng trường hợp sau phần nhiều là viêm gan siêu vi.

Hễ Thiên cơ đồng cung với Phỉ Liêm, gặp các sao Sát – Kị, còn lại gặp thêm các sao Hư, Hư hao, Hao, Thiên nguyệt, phần nhiều chủ về gan nhiễm ấu trùng (Clonorchiasis) dẫn đến sơ hóa.

Nếu sơ gan do ống mật tắc nghẽn gây ra, thì xem Thiên tướng, có Đà la đồng độ thì càng đúng.

Ống mật tắc nghẽn thường do sỏi mật gây ra, tinh hệ ứng nghiệm là “Liêm trinh – Thiên tướng” đối nhau với Phá quân có sát tinh đồng độ.

Giun chui ống mật (gây nên sỏi mật), ngoại trừ Thiên tướng, Đà la, còn phải xem Phỉ liêm. Hễ bệnh liên quan đến ấu trùng, giun, đều phải xem Phỉ Liêm và Thiên Nguyệt.

Có lúc Cự môn cũng chủ về bệnh túi mật, thì vẫn lấy cung hạn Thiên tướng làm thời kỳ ứng nghiệm, nhất là tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” thì càng đúng.

Bệnh ở hậu môn chủ yếu xem Thiên đồng, phối với tạp diệu thì xem Âm sát, Long đức, Phá toái.

Trúng độc đường tiêu hóa khác với trúng độc mang tính thần kinh. Trường hợp sau có thể ví dụ là sử dụng ma túy, trường hợp trước chỉ là ăn uống trúng độc. Cung Tật Ách gặp Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn”, Thiên phủ lại không gặp sao Lộc, hoặc gặp sao Lộc mà đồng thời gặp Kình Đà, thì đều phải chú ý vấn đề ẩm thực. Nếu lại gặp Liêm trinh hóa Kị, thì càng phải đề phòng độc tố thức ăn nhiễm vào máu.

Nhóm 3: Bệnh hệ tuần hoàn

Nhóm bệnh này chủ yếu là bệnh tim mạch, huyết áp, phần nhiều xem Thái dương, kế đến là Thiên tướng.

Nhưng bệnh hệ tuần hoàn có khi do bệnh hệ thần kinh gây ra, Đông y gọi là “Tâm Thận bất giao”, hoặc suy nhược thần kinh, có thể dẫn đến tâm thần phân liệt, nhịp tim rối loạn, các chứng bệnh này lại không liên quan đến Thái dương hoặc Thiên tướng, bạn đọc có thể tham khảo ở mục đã thuật ở trước.

Thái dương ở cung vượng, lại gặp Quyền – Lộc, cũng có thể chủ về huyết áp cao, không nhất định phải gặp sát tinh mới đúng.

Thái dương hóa Kị, hoặc Thái dương có Tứ sát tinh giao hội, cũng là điềm tượng huyết áp cao. Nếu là tổ hợp “Thái dương – Cự môn” thì càng đúng.
Tổ hợp “Thái dương – Thiên lương” cũng chủ về trúng phong, bại liệt, vì Thiên lương có tính chất bệnh kinh niên. Tinh hệ này cũng thường gặp các sao Thiên Nguyệt, Thiên Hình hội hợp.

Thiên tướng chủ về Thận, cho nên lúc Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn”, hoặc có các sao hung sát trùng trùng giao hội, cũng chủ về huyết áp cao, cũng có thể là đau tim. Nếu cung Tật Ách của nguyên cục, có khuynh hướng chủ về bệnh hệ thần kinh, lúc đến niên hạn Thái Dương thủ cung Tật Ách, cũng dễ bị chứng huyết áp cao.

Còn chứng huyết áp thấp có liên quan đến hệ nội tiết, cũng xem tinh hệ “Thái dương – Thiên lương”, nhưng thường có Địa không, Địa kiếp hội hợp. Một tinh hệ quan trọng khác là “Thái dương – Thái âm”, hễ có chứng trạng âm dương bất hòa, thì cũng là rối loạn nội tiết.

Cự môn đồng độ với Đà la, hội Thái dương có sát tinh, có lúc chủ về đau thắt ngực (angina pectoris), xơ vữa động mạch; nhưng cũng có thể là bán thân bất toại, tức trúng phong (tai biến mạch máu não)

Tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” cũng chủ về đau thắt ngực, nếu hội các sao Hình – Kị, thì chủ về tắc nghẽn cơ tim, tắc nghẽn mạch máu.

Bệnh hệ tuần hoàn cũng bao gồm các chứng thiếu máu, tăng bạch cầu, các chứng này thì xem Liêm Trinh, nếu Liêm trinh hóa Kị, có các sao ác sát tụ hội, thì chứng bệnh càng nghiêm trọng.

Nếu do trúng độc gây ra thiếu máu, thì vẫn xem Thiên Lương, hoặc xem tinh hệ “Thái dương – Thái âm”.

Thiếu tiểu cầu da có thể bị bầm tím, chứng bệnh này lấy Thiên đồng hóa Kị làm điềm tượng. Có lúc Thái dương hóa Kị ở nguyên cục có Âm Sát đồng độ, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung tật ách Thiên đồng hóa Kị gặp các sao Sát – Hình; hoặc Thiên đồng của nguyên cục hóa Kị, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung hạn tật ách Liêm Trinh đồng cung với Âm Sát. Nhưng trường hợp sau có sự khác biệt tinh tế, y học gọi là da bị bầm tím có tính mẫn cảm, không có liên quan đến tình trạng thiếu tiểu cầu.

Nhóm 4: Bệnh hệ hô hấp

Nhóm bệnh này chủ yếu xem Vũ Khúc, kế đến là Thiên Đồng. Nếu Thất sát, Phá quân hội hợp với các sao Sát – Kị, nhất là Vũ khúc hóa Kị, thì bệnh tình nghiệm trọng, hoặc bị ác tính.

Nhưng cũng có một số bệnh chứng không có liên quan đến các tinh hệ chủ về bệnh đường hô hấp như đã thuật ở trên; như hen suyễn thường xem Thái âm, Thiên lương, nếu hen suyễn là tính bẩm sinh thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”. Trường hợp trước là bệnh ở ống phế quản, trường hợp sau là bệnh dị ứng bẩm sinh.

Nếu là bệnh viêm ống phế quản cấp tính, thì lấy tinh hệ Vũ khúc gặp Hỏa tinh, Linh tinh làm ứng nghiệm, có Thiên mã cùng bay đến, thì bệnh tình càng nghiêm trọng. Bệnh viêm ống phế quản mãn tính cũng có thể xem Vũ khúc, nhưng nếu do ngoại vật xâm nhập lâu ngày mà gây ra bệnh, như người hút nghiện thuốc lá, hay công nhân làm việc ở nơi nhiều bụi, thì xem Thiên đồng, Cự môn có các sao Sát – Kị tụ tập, có thể phát triển thành bệnh tràn khí phổi (pulmonary emphysema)

Ho gà thì lấy Thiên Lương làm điềm tượng, nhất là tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” gặp sát tinh, có Thiên mã, phần nhiều chủ về bệnh ho gà. Khác với tắc nghẽn cơ tim là tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” gặp sát tinh, mà không có Thiên mã.

Lao phổi (phổi kết hạch) thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”, hoặc tinh hệ “Vũ khúc – Thất sát”. Nếu nguyên cục gặp tinh hệ này, đến đại hạn hoặc lưu niên, gặp cung hạn tật ách Thái âm hóa Kị hội Hỏa Linh là bệnh tình nghiêm trọng, thường phát triển đến giai đoạn cuối.

Bệnh tràn khí phổi cũng xem Vũ khúc, nếu Vũ khúc hóa Kị, bị Liêm trinh hóa Kị của cung hạn xung hội, lại gặp các sao Thiên hình, Thiên nguyệt, Âm sát thì ứng nghiệm.

Một nhóm sao khác chủ về tràn khí phổi, là Phá quân đồng cung với Văn khúc hóa Kị. Còn Vũ khúc hóa Kị đồng cung với Văn khúc hóa Kị thì chủ về kéo đàm, hen suyễn.

Nếu bệnh ở cổ họng thông thường là viêm amidan, xem Cự môn hóa Kị thì càng đúng. Nếu là bệnh bạch hầu, thì xem tình hình Thái âm và Cự môn xung hội, nếu các sao Sát – Kị trùng trùng thì ứng nghiệm. Nếu là viêm họng thì lấy Địa không, Địa kiếp, Đại hao làm biểu trưng.

Nhóm 5: Bệnh hệ tiết niệu, cơ quan sinh dục

Nhóm bệnh này, thì xem Thiên đồng, Thiên tướng, Liêm trinh.

Khi bệnh tình phát triển đến giai đoạn cuối, nhất là những bệnh có tính viêm, thì xem Thiên lương, Thất sát, Phá quân.

Hễ viêm thận cấp tính hay mãn tính, phần nhiều đều lấy Liêm Trinh làm ứng nghiệm. Nếu Liêm trinh gặp Tham lang đồng độ, hoặc vây chiếu có sát tinh, hoặc Liêm trinh hóa Kị có sát tinh, đều chủ về viêm thận.

Nhưng nếu viêm thận do hệ sinh dục bị nhiễm trùng gây nên, thì không gặp Tham Lang cũng ứng nghiệm, ví dụ như tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” bị Kình Đà giáp cung, Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay cách “Hình Kị giáp ấn” đều có thể mắc bệnh nhiễm trùng này.

Nếu bệnh viêm thận phát triển đến giai đoạn mặt bị thũng, hoặc thậm chí ngực hay bụng giữ nước, thì lấy niên hạn cung tật ách gặp tinh hệ “Thiên đồng – Thái âm” và các sao sát kị, làm thời kỳ ứng nghiệm.

Bệnh bàng quang làm khó tiểu tiện, thì xem Thiên tướng, trường hợp đồng cung với Đà la là đúng. Nếu là bệnh do tuyến tiền liệt gây ra tiểu tiện khó, thì lấy Tham lang, Liêm trinh làm ứng nghiệm, tinh hệ “Hỏa Tham”, hay “Linh Tham” càng chủ về bệnh này.

Niệu đạo kết sỏi, hay sỏi bàng quang, thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”, lấy trường hợp khi bị Kình dương và Đà la giáp cung, hay cách “Hình Kị giáp ấn” là đúng. Có lúc tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn” hóa Lộc, bị Hỏa tinh và Linh linh giáp cung, cũng chủ về bệnh này. Tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn” chủ về bệnh ở đường ống niệu, niệu đạo kết sỏi cũng có thể gây tiểu tiện khó.

Bệnh tiểu tiện khó trái ngược với bệnh đái tháo nhạt, là tiểu ra quá nhiều nước. Chứng đái tháo nhạt, Đông y cho rằng do thận hư, vì vậy xem Thái âm, Thiên đồng. Nhưng cũng do “thùy thể” sau não phân tiết thất thường mà gây ra, thì chọn xem Thái dương hóa Kị, hội Cự môn gia sát tinh làm ứng nghiệm.

Các bệnh về tính dục liên quan đến hệ tiết niệu, đều xem Tham lang, Liêm trinh, lấy trường hợp gặp các sao Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kị làm ứng nghiệm. Thời kỳ ứng nghiệm, có khi kéo dài đến lúc gặp niên hạn Thiên Đồng thủ cung tật ách mới phát tác. Hoặc ngược lại, cung Tật Ách của nguyên cục gặp Thiên đồng, đến niên hạn “Tham lang – Liêm trinh” thủ cung tật ách mới phát tác. Hai nhóm tinh hệ cũng có sự phân biệt, trường hợp trước là do thể chất dễ nhiễm bệnh tính dục, trường hợp sau là do thể chất dễ nhiễm bệnh hệ tiết niệu.

Cho nên, các bệnh như thoát vị bẹn, sa đì, viêm tinh hoàn, lấy tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” làm điềm tượng. Nhóm tinh hệ này, dù có gặp sao Lộc, cũng không thể xem là tránh được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nếu nguyên cục là “Liêm trinh – Thiên tướng”, mà Liêm trinh hóa Lộc (có lúc còn hội Lộc tồn), thường ở Đại hạn Liêm trinh lại gặp Lưu lộc thì phát bệnh. Cho nên Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa không đại biểu cho việc tránh mắc bệnh, đây là một ví dụ.

Nhóm 6: Bệnh ở ngũ quan

Bệnh ở ngũ quan rất phức tạp, thông thường là do bệnh ở nội tạng phát bệnh mà dẫn đến. Đẩu Số nghiên cứu về bệnh tật, cổ nhân để lại tư liệu chứng nghiệm không nhiều. Vương Đình Chi tuy có nỗ lực nghiên cứu bổ xung, nhưng do thời gian và kiến thức y học đều có giới hạn, nên tư liệu chứng nghiệm về bệnh tật ở ngũ quan càng không được đầy đủ.

Đông y giải thích bệnh tật ở ngũ quan chỉ căn cứ lý luận âm dương ngũ hành và lý thuyết tạng phủ, thực ra không đủ để từ đó, luận đoán ra nhiều bệnh tật ở ngũ quan. Ví dụ như mắt bị cườm nước (glaucoma) rất khó tìm ra tinh hệ chính xác tuyệt đối. Vương Đình Chi kể, ông từng tình cờ gặp một trường hợp Thái dương lạc hãm hóa Kị mà mắt bị bệnh cườm nước (glaucoma), nhưng trước đó Ông cũng từng gặp một người bị mù mắt vì bệnh cườm nước, mà cung Tật Ách lại là Thiên Lương. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị xem Thái Dương, Thiên Lương, Cự Môn, là điềm tượng chủ các bệnh về mắt, để bạn đọc tham khảo.

Viêm giác mạc mắt là Thái Dương gặp sát tinh, hoặc Thái Dương đồng cung với Hỏa tinh. Chứng bệnh này lấy trường hợp Thái dương hóa Quyền hay hóa Lộc làm ứng nghiệm. Nếu gặp các sao Kình dương, Thiên hình, Thiên sứ, mà Thái dương hóa làm sao Kị, sẽ chủ về phẫu thuật ở bộ phận mắt, nhẹ thì viêm thần kinh thị giác.

Mắt mù do bệnh tiểu đường gây ra, thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”. Nếu do nguyên nhân khác gây ra, vẫn xem Thái dương, hoặc tinh hệ “Thiên đồng – Thái âm”.

“Thiên đồng – Thái âm” chủ về Thận, gây ra bệnh mắt là do tạng thận gây ra. Vì vậy, thận khí hư, thường sẽ bị chứng ruồi bay trước mắt, cũng lấy nhóm tinh hệ này làm ứng nghiệm

Bệnh tai, các nhà Đẩu Số cổ đại chỉ xem Thất Sát, nếu có Long Trì đồng độ, sẽ chủ về tai điếc.

Nếu do thận hư gây bệnh ở lỗ tai, tai ù, thì có thể dùng tinh hệ chủ về bệnh thận để luận đoán, như tinh hệ Thái Âm.

Nhưng nếu là bệnh viêm tai giữa, theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, thì tinh hệ “Vũ khúc – Thiên tướng” có Hỏa tinh hội hoặc vây chiếu, thường chủ về chứng bệnh này.

Viêm họng, lấy Cự Môn làm ứng nghiệm, và cũng xem Thiên đồng, Thái âm.

Khoang miệng thường bị lở, miệng lưỡi bị rát bỏng, thì lấy Cự môn hóa Kị làm điềm tượng.

Đau răng thì phải xem Phá Quân, Vũ Khúc, sâu răng thì xem Thiên tướng có bị sát tinh giáp cung hoặc hội chiếu hay không.

Chảy máu mũi thì xem Liêm Trinh, không cần hóa Kị, gặp sát tinh và Âm Sát, là chủ về bị chảy máu mũi.

Mũi dị ứng và viêm mũi, thì lấy tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”, và tinh hệ “Liêm trinh – Phá quân” có kèm sát tinh làm điềm tượng.

Nhóm 7: Bệnh phụ khoa

Các sao về bệnh phụ khoa, cổ nhân tương truyền là Liêm Trinh và Tham Lang, các sao khác như Tử vi, tinh hệ “Thái âm – Thiên cơ”, Thiên đồng, Thiên tướng, Phá quân, cũng chủ về đau bụng kinh, huyết trắng, nhưng ý nghĩa trùng lặp, phân biệt giới hạn không rõ, cho nên lúc luận đoán hơi chung chung.

Luận đoán đặc biệt như Thiên Lương đồng cung với Hỏa tinh, Linh tinh, chủ về bệnh ung thư vú, mức độ chính xác rất cao. Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, nếu Tham Làm hóa Kị xung hội Liêm trinh hóa Kị, hoặc Vũ khúc hóa Kị, đồng thời còn gặp Kình Đà xung chiếu, thì chủ về tử cung hoặc ống dẫn trứng có khối u, độ chính xác cũng cao. Nhưng đáng tiếc, những chứng nghiệm như vậy không nhiều, vẫn còn chờ nghiên cứu thêm. Hiện chỉ thuật một số nguyên tắc rất có giới hạn.

Bệnh phụ khoa thường gặp nhất là đau bụng kinh. Mếu không kèm bị viêm thì có thể là Thiên Tướng, có lúc là tinh hệ “Tử vi – Thiên tướng”. Nếu có kèm bị viêm là Tham Lang. Nếu ở hai cung Tỵ hoặc Ngọ mà gặp sát tinh, thì chủ về lệch tử cung, nội mạc tử cung bị dị dạng bẩm sinh.

Nếu kinh nguyệt không điều hòa và ra nhiều máu, thì xem Thiên Đồng, hoặc tinh hệ “Thiên cơ – Thái âm”. Trường hợp tính chất của Thiên Đồng là ôn hòa, thì không kèm bệnh biến, gọi là “xuất huyết có tính cơ năng”. Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Thái âm” có sát tinh, sẽ chủ về bệnh biến, nếu nghiêm trọng có thể là sa tử cung.

Bệnh sa tử cung cũng gặp ở trường hợp Thiên Tướng thủ cung tật ách, gặp các sao Đào Hoa và Thiên Hư, Địa không, Địa kiếp, phần nhiều là do sau khi sinh cơ thể hư nhược gây ra.

Nếu viêm nội mạc tử cung, viêm ống dẫn trứng, thì lấy Tử vi độc tọa ở hai cung Tí và Ngọ làm điềm tượng; nếu có Kình dương đồng độ, lại gặp Hàm Trì, Đại Hao, nhất là gặp Hỏa tinh, Linh tinh, thì càng chính xác.

Hai sao Liêm Trinh, Thiên Cơ chủ về bệnh kín của phụ nữ, phần nhiều là kinh nguyệt kho ít, hoặc huyết trắng (bạch đới), còn kèm bị viêm âm đạo.

Nhưng nếu đã gặp tinh hệ chủ về bị viêm, mà đến niên hạn có sao Thiên Tướng, Đà la, Âm sát, Thiên hình, Thiên nguyệt, Thiên đức thủ cung tật ách, thường thường có thể phát triển thành khối u, hoặc ung thư. Có lúc đến niên hạn Vũ khúc hóa Kị thì cung tật ách cũng chủ về ứng nghiệm.

Phá Quân thủ cung tật ách, thì bệnh tình rất là nghiêm trọng, nhất là hội hợp với Vũ khúc hóa thành sao Kị, lại gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, tạp diệu lại gặp các sao hư, hao, hình, nguyệt, phần nhiều chủ về ung thư cổ tử cung, nhưng hiện tượng bề ngoài chỉ là ra huyết trắng.

Nếu là viêm âm đạo do nhiễm trùng, thì cần chú ý Phỉ Liêm

Viêm tuyến vú thì xem Thiên lương, cần chú ý xem có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ hay không, có thì bệnh tình có thể phát triển thành ác tính.

Phụ nữ mang thai thì lấy trường hợp cung Mệnh, cung Phúc đức, hoặc cung Phu thê, gặp Hồng loan, Thiên hỷ làm nguyên tắc luận đoán. Nếu lưu niên gặp Lưu Xương, Lưu Khúc hội chiếu, cung Tử Tức của Lưu niên cát lợi, thì có thể mẹ tròn con vuông. Nhưng nếu cung Tử Nữ của nguyên cục gặp Thiên đồng, Thái âm, nhưng một sao hóa làm sao Kị, lại gặp sao Không, và các sao Hoa cái, Âm sát, Thiên sứ, Thiên hư, Đại hao, thì có thể không sinh đẻ. Lúc này cung Tật ách cũng có điềm tượng, có thể hiển thị bệnh biến về tính dục bẩm sinh, hoặc bệnh biến về tính dục hậu thiên. Hai tinh hệ Tham lang và “Thiên cơ – Thái âm” ở hai cung Tỵ hoặc Ngọ là điềm tượng dị dạng bẩm sinh. Có thể bổ cứu là Thiên Tướng, nhưng nếu Thiên tướng là cách “Hình Kị giáp ấn”, gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay Kình dương và Đà la giáp cung, thì cũng có thể bị dị dạng bẩm sinh.

Bảy nhóm bệnh chứng thuật ở trên chưa được toàn diện, còn rất nhiều chứng bệnh thiếu chứng nghiệm, Vương Đình Chi kể, ông từng gặp một trường hợp, đoán là bị sa tử cung, không sinh nở được, nhưng rốt cuộc lại là chứng bệnh rất hiếm gặp, gọi là chứng “thạch nữ”, bà ta kết hôn hơn 10 năm mà vẫn không thể gần gũi với chồng. Những căn bệnh hiếm gặp, cổ nhân không để lại nguyên tắc luận đoán, ứng nghiệm như thế nào phải do người đời nay tìm tòi nghiên cứu

Trung Châu Phái tạp diệu luận

0

Tử Vi Đẩu Số lấy các tổ hợp sao làm chủ, cho nên 14 chính diệu tổ hợp thành sáu mươi tinh hệ có tính chất khác nhau, sau đó thêm vào các sao phụ, tá, khiến cho tính chất của chúng xảy ra sự biến hoá, hình thành một tính chất khác cụ thể hơn. Về phương diện, tạp diệu cũng có tác dụng khá quan trọng. Dưới đây xin trình bày tính chất cơ bản của các tạp diệu.

1. SAO ĐÔI

1.1. Thiên Thương, Thiên Sứ

Thiên Thương thuộc dương thuỷ, Thiên Sứ thuộc âm thuỷ, là các sao của Trung Thiên, tính chất thường là, Thiên Thương chủ về hư hao, Thiên Sứ chủ về nạn tai, bệnh tật.

Thiên Thương và Thiên Sứ luôn luôn giáp cung thiên di. Dương nam, âm nữ đi thuận, an Thiên Thương ở cung giao hữu, an Thiên Sứ ở cung tật ách; âm nam, dương nữ đi ngược, an Thiên Thương ở cung tật ách, an Thiên Sứ ở cung giao hữu.

(1) Cung vị Thiên Thương và Thiên Sứ giáp, nếu là chính diệu Hoá Kị, hoặc có tứ sát tinh cùng hội chiếu, bị các sao sát, kị của lưu niên xung khởi, sẽ chủ về tai nạn tật ách.

(2) Thiên Cơ hoặc Cự Môn, cũng không ưa Thiên Thương và Thiên Sứ giáp cung, chủ về nhiều bệnh; gặp các sao sát, kị thì càng đúng.

(3) Thiên Thương và Thiên Sứ giáp cung thiên di, ắt sẽ đồng thời hội chiếu cung huynh đệ và cung phụ mẫu, nếu trong đại vận gặp tiểu hạn rơi vào cung bị Thiên Thương và Thiên Sứ giáp (chú ý, là tiểu hạn, chứ không phải là cung mệnh của lưu niên), cần phải quan sát cung huynh đệ và cung phụ mẫu xem có tinh hệ “Thiên Cơ, Cự Môn” toạ thủ hay không; có tứ sát và Hoá Kị hay không. Nếu có, mà các sao sát, kị lại nặng, thì có thể anh em hoặc cha mẹ mắc bệnh tử vong. Nhưng vì dùng tiểu hạn để luận đoán, nên ứng nghiệm dễ bị sai lệch một hai năm.

(4) Thiên Thương và Thiên Sứ có phân biệt hoạ nhẹ và hoạ khẩn. Thiên Thương ưa kim cục (tức ba cung Tỵ, Dậu, Sửu), không ưa phương hoả (tức hai cung Ngọ, Mùi); Thiên Sứ ưa ba cung Tí, Ngọ, Mùi mà không ưa ba cung Thìn, dậu, Tuất.

(5) Người sinh năm dương không ưa Lưu Lộc đồng cung với Thiên Thương hay Thiên Sứ, chủ về bệnh hoạn.

1.2. Thiên Hình, Thiên Diêu

Thiên Hình thuộc dương hoả, Thiên Diêu thuộc âm thuỷ, Thiên Hình chủ về tự kềm chế, Thiên Diêu chủ về phóng túng, là cặp sao đôi có bản chất trái ngược nhau.

Thiên Hình ưa Văn Xương, Văn Khúc kết thành đôi hội chiếu hoặc đồng độ, chủ về tự kềm chế mà không có sát khí. Nếu Thiên Hình ở các cung Dần, Mão, Dậu, Tuất là nhập miếu; gặp Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân gọi là “chấp chưởng biên cương”, nhưng lại không phải là võ tướng, phần nhiều chủ về chức võ mà nghiệp văn, tương tự như hải quan ngày nay.

Thiên Hình hội hợp với “Thái Dương, Cự Môn” là sao chấp chưởng hình pháp.

Thiên Hình hội hợp với “Thái Dương, Thiên Lương”, gặp thêm các sao sát, kị, lại chủ về phạm pháp kiện tụng, mà không chủ về chấp chưởng hình pháp, không giống trường hợp hội hợp với “Thái Dương, Cự Môn”.

Tử Vi hội Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hoặc đồng độ với Tham Lang ở hai cung Mão hoặc Dậu, ưa gặp Thiên Hình, không phải là “Đào hoa phạm chủ”, mà chủ về có thể tự kềm chế.

“Vũ Khúc, Thất Sát” đồng độ với Kình Dương, lại có Thiên Hình cùng bay đến, cổ nhân nói là dùng dụng cụ sắc bén để kiếm tiền, như thợ cắt tóc, đồ tể, thời hiện đại cũng có thể là bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ.

Thiên Hình ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có sắc thái “cô độc và hình khắc”, bất lợi đối với lục thân, cần phải xem xét kỹ các cung lục thân mà định.

Cung tật ách có Thiên Hình, lại có các sao sát, kị xung hội, đề phòng tuổi trẻ tàn tật, hoặc sinh ra đã bị dị tật. Cung tật ách của lưu niên hoặc đại vận mà gặp Thiên Hình, bị Lưu Dương xung hội, chủ về phải phẫu thuật.

Thiên Diêu chủ về đào hoa, có duyên gặp gỡ, hoặc có tính chất “tiếng sét ái tình”. Gặp thêm Hàm Trì, Đại Hao, Mộc Dục, có thể làm mạnh thêm bệnh của Thiên Diêu, như hiếu sắc, trùng hôn (tức cùng lúc kết hôn với hai người), bệnh về tính dục. Gặp thêm Hồng Loan, Thiên Hỉ thì có thể giảm nhẹ những bệnh này, có lúc chủ về có duyên với người khác giới, hay được người khác giới chào đón.

Thiên Diêu cũng không ưa thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chủ về dễ quyến luyến chốn phong hoa tuyết nguyệt.

Văn Xương, Văn KHúc đồng độ với Thiên Diêu, ắt là người phong lưu, tự đánh giá mình cao.

Thiên Diêu đồng độ với Văn Xương, Văn Khúc và Thiên Hình thì có thể hành động một cách thiết thực.

Thiên Diêu hội các sao sát, kị, sẽ làm mạnh thêm tính chất vì sắc mà gây ra hoạ; cần phải xem xét kỹ tính chất của tổ hợp tinh hệ chính diệu, và xem ở cung nào mà định. Nếu ở cung tài bạch, chủ về vì tửu sắc mà phá tài, ở cung điền trạch, chủ về sản nghiệp của ông bà hay cha mẹ bị phá tán, ở cung phu thê, chủ về trùng hôn, tái hôn, ở cung phúc đức, chủ về tư tưởng dễ bị hỗn loạn.

Thiên Diêu thủ cung thiên di, có sao cát cùng bay đến, tổ hợp tinh hệ chính diệu cũng cát, chủ về đi xa, chuyển dời đến nơi khác sẽ gặp nhiều cơ hội, và được người ở tha hương trợ lực.

Cung Thiên Diêu toạ thủ, có Mộc Dục, Hàm trì, Đại Hao đồng độ, lưu niên mà gặp chúng, chủ về đau khổ mang tính chất đào hoa.

1.3. Thiên Khốc, Thiên Hư

Thiên Khốc thuộc dương kim, chủ về hình khắc, buồn đau; Thiên Hư thuộc âm thổ, chủ về lo nghĩ, trống rỗng.

Thiên Khốc là sao tình cảm, chủ về đau khổ nội tâm, vì vậy không nên ở cung phúc đức.

Thiên Hư là sao có tính vật chất, chủ về thiếu thốn vật chất. Vì vậy Thiên Hư không nên ở cung tài bạch, cũng không ưa ở cung tật ách, chủ về thân thể hư nhược, hoặc bệnh tật có tính hao tổn.

“Thiên Khốc, Thiên Hư” đồng độ với Lộc Tồn hoặc Hoá Lộc, nếu ở hai cung Mão hoặc Thân, tinh hệ chính diệu có tài khí vượng, sẽ chủ về nhờ tiền bạc mà tăng tiếng tăm; hoặc dễ có tiền của, ắt sẽ làm cho người ngoài biết.

Tinh hệ Thiên Đồng thủ cung huynh đệ, có “Thiên Khốc, Thiên Hư” cùng bay đến, chủ về anh chị em bất hoà với người phối ngẫu.

1.4. Hồng Loan, Thiên Hỉ

Hồng Loan thuộc âm thuỷ, Thiên Hỉ thuộc dương thuỷ, Hồng Loan chủ về hôn nhân, Thiên Hỉ chủ về sinh con cái. Hai sao này vĩnh viễn đối nhau, cho nên tính chất của chúng ảnh hưởng lẫn nhau.

Nữ cung mệnh gặp Hồng Loan thì kiều diễm, gặp Thiên Hỉ thì có vẻ đẹp lạnh lùng.

Ở cung tử nữ gặp Hồng Loan hay Thiên Hỉ, chủ về nhiều con gái, ít con trai.
Tử Vi có Hồng Loan hay Thiên Hỉ đồng độ, lại gặp cát tinh, tuổi trẻ thì chủ về kết hôn, tuổi già thì chủ về được phong hàm danh.

Cung tài bạch có chính diệu cát, gặp Hồng Loan hay Thiên Hỉ, chủ về “hoan hỉ tài” (như tiền thắng cá cược hay ăn cờ bạc); cũng thích hợp với những nghề liên quan đến “hỉ khánh” (chuyện mừng).

Về luận đoán thời gian kết hôn và mang thai, có thể lấy cung mệnh hoặc cung phu thê của lưu niên có Hồng Loan, Thiên Hỉ bay đến làm ứng kỳ, nhưng cần phải có tinh hệ chính diệu cát lợi ổn định mới đúng, nếu không, nên trì hoãn một hai năm, chờ đến khi cung mệnh hoặc cung phu thê của lưu niên có tổ hợp tinh hệ cát lợi mới ứng nghiệm.

Hồng Loan hay Thiên Hỉ bay đến cung điền trạch của lưu niên, chủ về có thêm nhân khẩu (thời cổ đại là mua nô tì, sinh con cái), nếu gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, là có khách đến tá túc.

1.5. Tam Thai, Bát Toạ

Tam Thai thuộc dương thổ, Bát Toạ thuộc âm thổ, đều là sao “nghi trượng”, cần phải kết thành đôi để hội chiếu, mới chủ về tăng cao địa vị.

Cho nên Tam Thai, Bát Toạ ưa hội hợp các chính diệu như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, chủ về quý hiển, hội hợp Thiên Lương cũng thích hợp.

Nếu Tam Thai, Bát Toạ hội hợp cung phụ mẫu, gặp chính diệu cát, chủ về gia thế cao quý, xuất thân trâm anh thế phiệt. Nếu tinh hệ chính diệu không cát tường, lại gặp sao lẻ phụ tá, hoặc có các sao đào hoa cùng bay đến, chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”.

Tam Thai, Bát Toạ không ưa ở cung phu thê, nếu nguyên cục có các sao không cát tường, sẽ làm mạnh thêm tính chất bất lợi của chúng.

1.6. Long Trì, Phượng Các

Long Trì thuộc dương thuỷ, Phượng Các thuộc dương thổ, đều là sao văn minh, nếu kết thành đôi hội nhập, chủ về tài nghệ.

Long Trì, Phượng Các hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, có thể làm tăng sức mạnh, lợi về thi cử, cạnh tranh.

Long Trì Phượng Các giáp cung tài bạch hoặc cung sự nghiệp, mà không có Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, hoặc Văn Xương, Văn Khúc giáp cung, chủ về có danh tiếng trước rồi có tiền của sau, hoặc tiền của do danh tiếng mà có, hoặc nhờ tài nghệ mà có tiền của.

Long Trì, Phượng Các chủ về “thanh quý” (sang quý thanh cao) mà không phải là “phú quý” (giàu sang), cũng chủ về nghệ thuật, kiến trúc, xây dựng.

Long Trì, Phượng Các ưa giáp Thiên Phủ, Thiên Tướng, chủ về làm tăng phong thái văn nhã.

Thất Sát và Long Trì cùng ở cung mệnh hoặc cung tật ách, tuổi già chủ về tai điếc; Thất Sát đồng độ với Phượng Các, chủ về rối loạn khứu giác và vị giác. Cần phải có lưu sát tinh xung khởi mới đúng.

1.7. Cô Thần, Quả Tú

Cô Thần thuộc dương hoả, Quả Tú thuộc âm hoả, chủ về cô quả, không ưa bay đến cung phụ mẫu và cung phu thê.

Nếu tinh hệ chính diệu là tổ hợp Vũ Khúc, Thiên Lương, Thiên Cơ, Cự Môn, Thất sát, Phá Quân, thì có thể phát huy tính chất của Cô Thần, Quả Tú, chủ về sớm mồ côi hoặc vợ chồng hình khắc, rời xa quê hương, con cái phân ly. Vì vậy, cung phu thê mà gặp các tổ hợp kể trên, cần phải kết hôn muộn mới có thể tránh sinh ly tử biệt, hoặc bằng mặt mà không bằng lòng.

Nữ mệnh có cung phu thê là Vũ Khúc Hoá Kị, Cô Thần và Quả Tú hội hợp, chủ về không có đời sống vợ chồng.

Cung phúc đức gặp Cô Thần, Quả Tú, chủ về tinh thần trống rỗng; nhưng cũng chủ về tư tưởng độc lập, cần phải xem bản chất của tổ hợp tinh hệ chính diệu mà định.

Cung tài bạch gặp cát tinh, có Cô Thần, chủ về tuổi trẽ tự lập gia nghiệp.

Cung sự nghiệp gặp cát tinh, có Quả Tú, chủ về tuổi trẻ tự lập, không hưởng phúc ấm của cha anh.

1.8. Ân Quang, Thiên Quý

Ân Quang thuộc dương hoả, Thiên Quý thuộc dương thổ; chủ về vinh dự đặc biệt, tước lộc, có tính chất được tưởng thưởng; không giống như Tam Thai, Bát Toạ thuần tuý chủ về địa vị, nhưng nhờ được tưởng thưởng mà địa vị tăng cao một cách tương ứng.

Ân Quang, Thiên Quý có thể mang lại lợi ích thực tế, như trợ giúp cạnh tranh đắc lợi, thi cử đỗ đạt.

Rất ưa hội hợp với Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Âm, Thái Dương hoặc giáp cung có các tinh hệ kể trên.

Hai sao Ân Quang, Thiên Quý giáp cung sự nghiệp, lại được Thiên Khôi, Thiên Việt cùng giáp cung, ở thời cổ đại là chủ về được thế tập chức tước của cha. Ở thời hiện đại thì lợi về phát triển chuyên môn, cũng lợi về chuyên nghiệp. Nếu giáp cung tài bạch, thì danh lợi song thu, hoặc nhờ có danh mà đạt được lợi.

Ân Quang, Thiên Quý hội chiếu cung phu thê, nếu có “Lộc trùng điệp”, chủ về được tiền của là nhờ vợ.

Ân Quang, Thiên Quý giao hội với Văn Xương, Văn Khúc, lợi về thi cử.

(Nguồn: sưu tầm)

Luận cung Mệnh – Thân của phái Trung Châu

0

I.Tử Vi ở cung mệnh (thân)

Tử Vi độc toạ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu là trường hợp “bách quan triều củng” thì ưa đến đại hạn hay lưu niên được Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa. Nếu Tử Vi Hoá Quyền hoặc Hoá Khoa ở nguyên cục mà không có “bách quan triều củng”, thì ưa đến đại hạn hoặc lưu niên có các sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp.

Nếu nguyên cục vốn là cách cục “tại dã cô quân”, đến niên hạn dù được Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, thì cát lợi cũng nhỏ, e rằng chỉ là nhất thời đắc ý. Nếu nguyên cục vốn là cách cục “vô đạo cô quân”, lại đến niên hạn có các sao sát, kị tụ tập, thường chủ về tai hoạ, mà phần nhiều là tự chuốc lấy.

Phàm là Tử Vi toạ mệnh đều ưa đến cung hạn Thiên Phủ hay Thiên Tướng toạ thủ, ưa nhất là cung hạn Tử Vi độc toạ ở Tí hoặc Ngọ.

Tử Vi độc toạ ở hai cung Tí hoặc Ngọ ưa có Lộc Tồn đồng độ. Có điều, Tử Vi “tại dã cô quân” thì phần nhiều chủ về ích kỷ, hay nghi kị. Đến niên hạn có các sao sát, kị, hình cùng chiếu, phần nhiều chủ về oán trách, thị phi, thường còn gây nên hoạ kiện tụng.

Phàm là Tử Vi toạ mệnh đều không ưa đến cung hạn Thiên Cơ hay Thiên Lương toạ thủ, có Cự Môn đồng độ, gặp Hoá Kị thì càng tệ. Tử Vi độc toạ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp cung hạn Thiên Cơ sẽ chủ về phá tán, nhưng tai ách chỉ là một phen hú vía; gặp cung hạn Cự Môn sẽ chủ về gặp rắc rối khó xử về tình cảm, có cát hoá thì có thể giải quyết, gặp các sao sát, hình thì ứng nghiệm.

“Tử Vi, Phá Quân” thủ mệnh, tối kị là cách cục “tại dã cô quân”, đến vận hạn Thiên Cơ, Thiên Lương, hay Cự Môn, thường là vận trình có tính then chốt của cuộc đời. Nếu cung hạn gặp các sao sát, kị, hình hội chiếu, chủ về dễ xảy ra sự cố, thường có thể ảnh hưởng đến cả cuộc đời; cũng không nên đến niên hạn Thái Dương Hoá Kị, thường dẫn đến thị phi, oán trách.

“Tử Vi, Phá Quân” thủ mệnh, Vũ Khúc Hoá Kị ở nguyên cục, đến đại hạn “Vũ Khúc, Thất Sát” đồng độ, lại đến lưu niên Thái Dương Hoá Kị hoặc Cự Môn Hoá Kị, chủ về vì tiền mà chuốc hoạ.

“Tử Vi, Phá Quân” không ưa đến niên hạn Thiên Phủ là “kho trống”, “kho lộ”, chủ về phá tài; nếu Thiên Phủ có sao lộc, thì chỉ chủ về vì tiền mà mất nghĩa.

“Tử Vi, Phá Quân” đến niên hạn “Thiên Đồng, Thiên Lương” toạ thủ, gặp Thiên Cơ Hoá Kị kèm có sát tinh đến xung, chủ về xử sự cần phải thận trọng, có cơ tâm mưu mẹo càng càng nhiều thì phá tán, thất bại càng lớn.

“Tử Vi, Thiên Phủ” thủ mệnh, rất ưa gặp sao lộc, có Lộc Tồn đồng độ, Liêm Trinh Hoá Lộc đến hội, chủ về cự phú. Lấy trường hợp gặp Hoá Lộc, Lộc Tồn của niên hạn làm ứng nghiệm. Ví dụ “Tử Vi, Thiên Phủ” ở cung Dần, người sinh năm Giáp, đến hạn Đinh Mão chủ về kiếm được tiền, hoặc gặp cơ hội làm đại lý mà phát đạt.

“Tử Vi, Thiên Phủ” ưa đến cung hạn Vũ Khúc độc toạ, gặp Lưu Lộc hoặc Tham Lang Hoá Lộc, Liêm Trinh Hoá Lộc, chủ về kiếm được nhiều tiền. Nếu lại có sao phụ, tá cát, không có các sao sát, kị, hình hội chiếu, nguyên cục là “Tử Vi, Thiên Phủ” lại có kết cấu cát lợi, tay trắng làm nên mà thành cự phú.

“Tử Vi, Thiên Phủ” không có sao lộc, đến niên hạn gặp sao lộc cũng cát lợi.

“Tử Vi, Thiên Phủ” có sao lộc, đến niên hạn Thái Dương độc toạ ở cung Tỵ, gặp các sao phụ, tá cát, chủ về địa vị thăng tiến, trường hợp Thái Dương ở cung Hợi là tốt kế đó.

Đối với người “Tử Vi, Thiên Phủ” thủ cung mệnh, đại vận tính theo chiều nghịch, thì đại hạn Thái Dương giữ cung hoặc Vũ Khúc giữ cung, là then chốt của mệnh vận cả đời; đại vận đi thuận, thì đại hạn Tham Lang (Vũ Khúc ở đối cung) hoặc đại hạn Cự Môn (Thái Dương ở đối cung) là then chốt của mệnh vận cả đời. Các đại vận này cát hay hung, có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời.

“Tử Vi, Tham Lang” ở cung mệnh, ưa gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, cũng ưa gặp Tham Lang Hoá Lộc, chủ về phát lên một cách đột ngột, mà còn kéo dài. Nếu Tham Lang Hoá Kị, thì cuộc đời gặp nhiều vất vả khổ luỵ, mà còn không được như ý. Nếu sát tinh lại nặng, thường thường lúc sắp thành công thì đột nhiên thất bại.

Nữ mệnh “Tử Vi, Tham Lang” không ưa đến niên vận Thái Dương thủ cung phu thê của niên vận, chủ về gặp kẻ bất lương. Nam mệnh “Tử Vi, Tham Lang” không ưa đến niên vận cung phu thê là Thiên Đồng (hoặc Cự Môn) toạ thủ, chủ về rơi vào lưới tình, khó mà thoát ra.

“Tử Vi, Tham Lang” thủ mệnh đến đại hạn “Vũ Khúc, Phá Quân”, mà Vũ Khúc Hoá Kị, lại gặp lưu niên Văn Xương Hoá Kị hay Văn Khúc Hoá Kị, chủ về xảy ra phá tán, thất bại.

“Tử Vi, Tham Lang” thủ mệnh ở cung Mão, đến đại vận hoặc lưu niên Thiên Lương ở cung Ngọ, nếu Thiên Lương Hoá Lộc, thì tham tiền hiếu sắc, đều dể gây ra phiền phức; gặp thêm sát tinh thì có hung hoạ, nhưng cuối cùng hoá giải được.

“Tử Vi, Tham Lang” thủ mệnh, cung hạn Thái Dương, Cự Môn tương hội và cung hạn “Thiên Cơ, Thái Âm” đồng cung, là then chốt của mệnh vận cả đời.

“Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh, gặp lưu niên “Sát, Phá, Lang” đều chủ về biến động thay đổi, là cát hay hung, phải xem xét tính chất các tổ hợp sao mà định.

“Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh, đến đại vận “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ cung tật ách, phải đề phòng bệnh tim mạch.

“Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh, đến đại vận “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ cung phu thê, phải đề phòng hôn nhân đổ vỡ.

“Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh, đến đại vận gặp “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, nếu Vũ Khúc Hoá Kị, hoặc Thiên Phủ là “kho lộ”, “kho trống”, sẽ chủ về vì tình hình tráo trở, điên đảo mà gây nên phá tán, thất bại (như thất nghiệp, ngừng kinh doanh, vỡ nợ, sập tiệm, v.v…).

“Tử Vi, Thiên Tướng” ở cung mệnh, lại đến lưu niên “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh, trong các tình hình thông thường, không nên hợp tác với người khác, năm kế tiếp hợp tác cũng không được lâu dài.

“Tử Vi, Thiên Tướng” thủ cung mệnh, không ưa cung hạn Tham Lang Hoá Kị. Gặp nó ở bất cứ cung viên nào, cũng đều chủ về ứng nghiệm xấu ở cung đó. Ví dụ như đến đại vận hoặc lưu niên gặp Tham Lang Hoá Kị thủ cung phụ mẫu, chủ về người cấp trên trọng dụng mệnh tạo lại bị hoán chuyển công tác; đến lưu niên gặp Tham Lang Hoá Kị thủ cung phu thê, chủ về xảy ra sự thay đổi trong tình cảm.

Đối với người “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh mà đại vận tính theo chiều nghịch, thì các đại vận Tham Lang, Vũ Khúc, Thiên Phủ thủ cung hạn là những vận hạn có tính then chốt của mệnh vận cả đời. Đối với người “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ mệnh mà đại vận tính theo chiều thuận, thì các đại vận Thất Sát, Liêm Trinh thủ cung hạn là những vận hạn có tính then chốt của mệnh vận cả đời.

“Tử Vi, Thất Sát” thủ mệnh, cung tài bạch là “Vũ Khúc, Tham Lang”, nếu gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, chủ về hoạch phát hoạch phá, phát lên một cách đột ngột mà suy sụp cụng nhanh chóng. Sau khi phát cần phải khéo giữ gìn, mới có thể duy trì thành tựu đã đạt được.

“Tử Vi, Thất Sát” mà Tử Vi Hoá Quyền, thì “tài khí” trong đời không đủ để giúp cho sự nghiệp.

“Tử Vi, Thất Sát” thủ mệnh, chủ về năng tinh thần trách nhiệm. Người sinh năm Quý, cung sự nghiệp là “Liêm Trinh, Phá Quân”, mà Phá Quân Hoá Lộc, lại chủ về gánh vác trách nhiệm quá mức, việc gì cũng đích thân làm.

“Tử Vi, Thất Sát” ở cung mệnh, cung độ “Thái Dương, Cự Môn” là có tính then chốt. Thái Dương ở cung Dần thì tốt hơn ở cung Thân, nhưng vẫn phải xem xét các sao cát hung ra sao mà định.

Nữ mệnh “Tử Vi, Thất Sát”, hôn nhân phần nhiều không như ý. Nếu cung mệnh và cung phu thê gặp sát tinh, nếu không khéo khắc chế, thì tình cảm rất dể thay đổi.

“Tử Vi, Thất Sát” thủ mệnh, đại hạn Thiên Tướng, Vũ Khúc, hay Tham Lang thủ cung hạn, là có tính then chốt của mệnh vận cả đời.

II. Thiên Cơ ở cung mệnh (thân)

Thiên Cơ độc toạ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, rất ưa Hoá Quyền. Thiên Cơ Hoá Quyền lại ưu hơn Cự Môn Hoá Quyền. Hoá Quyền thì vững vàng, cho nên tốt hơn Hoá Lộc, Hoá Lộc phần nhiều nóng nảy, trôi nổi bất định.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu đối cung là Cự Môn Hoá Quyền, ở thời hiện đại có thể chỉ là người phân phối, nhà phát hành trong giới làm ăn kinh doanh, không chủ về là người vạch kế sách hay quản lý. Thiên Cơ Hoá Quyền, thì có thể là người vạch kế sách phía sau. Một trong một ngoài, tính chất khác nhau.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ, người sinh năm Đinh phần nhiều vất vả khổ luỵ, nếu cung tật ách là Thiên Tướng lại thuộc loại bị “Hình kị giáp ấn”, thì dễ mắc bệnh sỏi mật, sỏi thận.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ rất kị đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh; chủ về lúc bé đã rời xa cha mẹ, hoặc cảnh ngộ của cha mẹ bị biến động thay đổi, ảnh hưởng đến phúc ấm của mệnh tạo lúc còn bé.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ đến cung hạn “Vũ Khúc, Thất Sát” đồng độ, gặp Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa thì cát; gặp Hoá Kị thì hung. Đây là có tính then chốt của mệnh vận cả đời.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ đến cung hạn Thiên Phủ toạ thủ, gặp “kho phủ đầy ắp” thì cát, gặp “kho lộ”, “kho trống” ắt sẽ hung nguy.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ, Thái Âm thủ cung thân, chủ về mệnh tạo ngày đêm bôn ba bận rộn, thường làm việc ban đêm, hoặc đến tối vẫn cần phải suy nghĩ kế hoạch. Không gặp sát tinh, thì kinh doanh làm ăn có thể trở thành giàu có.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Tí hoặc Ngọ chủ về giỏi nói năng; nếu có Kình Dương, Đà La đồng độ, lại gặp Cự Môn Hoá Kị đến hội, thì tài ăn nói hoá thành miệng lưỡi, thích hợp làm những nghề nghiệp dùng lời nói để kiếm tiền.

Thiên Cơ ở cung Mùi, cung phu thê là Thái Dương ở cung Tỵ, nếu hoá làm Quyền Lộc, chủ về kết hôn với người ngoại quốc (hay người phương xa). Thái Dương ở cung Sửu thì không phải.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Sửu hoặc Mùi, rất ưa Hoá Lộc, thì Thiên Lương đối cung cũng sẽ Hoá Quyền, là nhân tài về kế hoạch, nghiên cứu, lại là mạng không thích hợp tự kinh doanh làm ăn; cung phúc đức là Thái Âm cũng đồng thời Hoá Kị, đây là ứng nghiệm lao tâm tổn thần, chẳng phải là điềm hung.

Thiên Cơ độc toạ hai cung Sửu hoặc Mùi, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, chủ về mệnh tạo có tư tưởng đặc biệt; có Thiên Tài đồng độ là trí tuệ cực cao. Nhưng hai tình hình này đều chủ về người ta khó mà hiểu được mệnh tạo; cho nên cung huynh đệ và cung phụ mẫu cần phải gặp cát tinh, mới có thể đứng vững, nếu không cuộc đời dễ chìm nổi.

Đối với Thiên Cơ độc toạ hai cung Sửu hoặc Mùi, cung hạn “Thái Dương, Thái Âm” đồng độ là đại hạn có tính then chốt của mệnh vận cả đời, và cung hạn “Thiên Đồng, Cự Môn” đồng độ là lưu niên có tính then chốt.

“Thiên Cơ, Thái Âm” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, là chính cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”. Ở cung Thân, Thiên Lương ở cung Tí ưu hơn Thiên Lương ở cung Ngọ, cho nên oán trách, thị phi ít hơn.

“Thiên Cơ, Thái Âm” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân rất ngại Hoá Kị, chủ về quyền biến, nhiều thủ đoạn. Ở cung Dần, đặc biệt còn chủ về hí lộng quyền bính.

“Thiên Cơ, Thái Âm” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Thiên Lương Hoá Lộc, đến đại hạn Cự Môn hoặc Thiên Đồng, thường dễ chuốc hoạ tai, thị phi, cần phải khiêm tốn, ôn hoà, mới có thể bình an vượt qua.

“Thiên Cơ, Thái Âm” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cung phúc đức là Cự Môn cần phải gặp cát tinh mới tốt; nếu Cự Môn có các sao sát, kị đồng độ, đến lưu niên “Liêm Trinh, Thất Sát” đồng độ, thường dễ gây ra phá tán, thất bại.

“Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu, cần phải gặp sao lộc mới cát; rất kị có Hoả Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, chủ về khinh bạc, phóng đãng, thiếu trang trọng, phá phách.

Đối với “Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu, cung hạn “Thái Dương, Thái Âm” đồng độ là lưu niên có tính then chốt; rất kị Thái Dương Hoá Kị, nếu có các sao cát, hình trùng trùng; sao kị của lưu niên lại xung khởi Thái Dương Hoá Kị, chủ về vì gây oán thù mà gặp sóng gió nghiêm trọng.

“Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu đến đại hạn Thái Âm Hoá Kị, thường thường dễ sinh phá tán, thất bại, mà thường vì tự cho thông minh mà gây ra.

“Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu, nam mệnh Cự Môn Hoá Lộc, chủ về chồng già lấy vợ trẻ; Thiên Cơ Hoá Lộc, thì phần nhiều là tái hôn. Nữ mệnh Cự Môn Hoá Lộc, cũng nên lấy người lớn tuổi; Thiên Cơ Hoá Lộc, phần nhiều đều có khiếm khuyết trong hôn nhân.

“Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu, nữ mệnh gặp Thiên Đồng đồng độ với Lộc Tồn, đến vận Tham Lang, thường chủ về bị người ta bỏ rơi, hôn nhân gặp sóng gió, trắc trở, vì vậy không nên kết hôn sớm. Ở cung Dậu tuy tốt hơn, nhưng cũng ngại đào hoa quá nặng. Thiên Đồng chủ về tình cảm, nên có ứng nghiệm như trên.

Đối với “Thiên Cơ, Cự Môn” đồng độ hai cung Mão hoặc Dậu, cung hạn “Thái Âm, Thái Dương” đồng độ, và cung hạn Thất Sát toạ thủ là hai đại hạn có tính then chốt, cát hung của hai đại hạn này gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời. Cung hạn “Sát Phá Lang” là lưu niên có tính then chốt.

“Thiên Cơ, Thiên Lương” đồng độ hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về có tay nghề, ở thời hiện đại cũng có thể định là nhân tài chuyên nghiệp; không thích hợp làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán, nếu không, phúc không được lâu dài, vận tốt thường chỉ trong chớp mắt.

“Thiên Cơ, Thiên Lương” đồng độ hai cung Thìn hoặc Tuất, là thiên cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, cần phải dùng miệng lưỡi để dùng lời nói để kiếm tiền, mới có thể phát triển. Ở thời hiện đại, thường thường là chuyên viên bán hàng, chào hàng, tiếp thị.

“Thiên Cơ, Thiên Lương” đồng độ hai cung Thìn hoặc Tuất, có sao không và sát tinh cùng bay đến, cổ nhân định là mạng tăng nhân, đạo sĩ; ở thời hiện đại cũng là người truyền giáo. Nữ mệnh phần nhiều linh đinh.

“Thiên Cơ, Thiên Lương” ở cung Thìn, mà Thiên Cơ Hoá Kị, cần phải dùng lời nói để kiếm tiền. Không có Hoá Kị, chủ về kết hôn với người ngoại quốc (hay người phương xa).

Đối với “Thiên Cơ, Thiên Lương” đồng độ hai cung Thìn hoặc Tuất, cung hạn “Vũ Khúc, Tham Lang” đồng độ là đại hạn có tính then chốt; ba cung hạn “Tử Vi, Thất Sát”, “Liêm Trinh, Phá Quân”, và “Vũ Khúc, Tham Lang” là các lưu niên có tính then chốt.

Thiên Cơ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, cuộc đời gặp nhiều rắc rối khó xử về tình cảm. Nếu cung phu thê là Thái Dương Hoá Lộc, hoặc cung thiên di là Thái Âm Hoá Lộc, thì dục tình rất nặng, gặp thêm sát tinh và các sao đào hoa, thì dễ lạm dâm. Thiên Cơ đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, là mạng rời xa quê hương; hoặc chủ về làm con nuôi người khác; tuổi trẻ bất lợi về cha. Đến đại hạn Thất sát toạ thủ, nếu có các sao sát, kị, hình cùng chiếu, chủ về có bệnh tật nghiêm trọng ở mắt.

Thiên Cơ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, nữ mệnh không nên Hoá Kị hoặc có sao kị hội chiếu; gặp thêm sát tinh, chủ về hình khắc, sinh ly, hoặc làm nhị phòng, tì thiếp.

Thiên Cơ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, gặp các sao phụ, tá cát, thì có thể phú quý, thích hợp làm những công việc mang tính phục vụ công chúng, đặc biệt về truyền thông hay thông tấn, báo chí.

Đối với Thiên Cơ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, hai cung hạn “Thiên Đồng, Cự Môn” và “Liêm Trinh, Thiên Phủ” là hai lưu niên có tính then chốt, “Sát, Phá, Lang” là đại hạn có tính then chốt.

III. Thái Dương ở cung mệnh (thân)

Thái Dương ở cung mệnh nhập miếu hay lạc hãm có liên quan đến việc sinh vào ban ngày hay sinh vào ban đêm. Nếu nhập miếu mà còn là người sinh vào ban ngày thì rất tốt, người sinh vào ban đêm là kế đó; lạc hãm mà còn sinh vào ban đêm thì rất hung, người sinh vào ban ngày hơi giảm hung.

Thái Dương ở cung mệnh, cần phải lưu ý Cự Môn ở cung độ nào, và có sát tinh hay không. Nếu Cự Môn kèm có sát tinh, Thái Dương ở cung miếu vượng thì còn được (lợi nhất là người sinh vào ban ngày), bất quá chỉ hao tổn sức lực mà thôi; nếu Thái Dương ở cung lạc hãm (tệ nhất là người sinh vào ban đêm), ắt sẽ bị Cự Môn “ám”; cần phải xem Cự Môn ở cung độ nào mà luận cát hung. Ví dụ như Thái Dương lạc hãm ở cung Tí, cung sự nghiệp là Cự Môn ở cung Thìn, có Đà la đồng độ, người sinh ban ngày chủ về làm việc hao tổn tâm lực, nghề nghiệp phải nói năng vất vả; người sinh vào ban đêm thì chủ về cuộc đời hao phí sức lực mà không có hiệu quả, mà còn lo lắng về sự nghiệp.

Thái Dương ở cung mệnh còn cần phải lưu ý Thiên Lương ở cung độ nào. Cự Môn tính “ám”, Thiên Lương tính “cô độc”. hễ Thái Dương nhập mệnh là đã bất lợi về người thân phái nam, nếu Thiên Lương lại có Cô Thần, Quả Tú, Thiên Hình và sát tinh đồng độ (ngại nhất là Hoà Tinh, Linh Tinh), sẽ chủ về hình khắc; nhưng vẫn cần phải xem Thiên Lương ở cung độ nào để luận đoán chi tiết. Như Thái Dương ở cung Tí lạc hãm, cung thiên di là Thiên Lương đồng độ với Kình Dương ở cung Ngọ, người sinh ban ngày chỉ chủ về rời xa quê hương và xa cách cha; nhưng người sinh vào ban đêm thì có thể từ sinh ly biến thành tử biệt. lại như “Thái Dương, Thái Âm” ở cung Sửu, Thiên Lương ở cung Tỵ là cung sự nghiệp, nếu gặp sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, người sinh vào ban ngày chỉ chủ về không thừa kế được sự nghiệp của cha, và lúc phát triển sự nghiệp của bản thân không có bậc tôn trưởng nâng đở; nhưng người sinh vào ban đêm, phần nhiều chủ về tổ nghiệp phá tán, thất bại, sau đó mới tự lập.

Thái Dương lạc hãm, Hoá Kị, lại đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, người sinh vào ban đêm phần nhiều chủ về tuổi trẻ khắc cha, vãn niên mất con. Nếu là người sinh vào ban ngày, lục thân phái ma, cũng bất lợi. Nếu gặp thêm Thiên Hình, thì bất kể là người sinh vào ban ngày hay ban đêm, đều chủ về phạm pháp, kiện tụng phiền phức.

Thái Dương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu Hoá Lộc, lúc trẻ bất lợi, trung niên có thể phát vượt lên; nếu Hoá Kị, thì tuổi trẻ tự lập, đến trung niên vẫn phải đề phòng phá tán, thất bại.

Đối với Thái Dương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, cung hạn “Thiên Cơ, Thái Âm” và cung hạn “Thiên Đồng, Cự Môn” là hai đại vận có tính then chốt; các cung hạn Cự Môn, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Tướng là những lưu niên có tính then chốt. Có lúc cung hạn có “Thiên Cơ, Thái Âm” ở đối cung là lưu niên có tính then chốt (cung này ắt sẽ vô chính diệu, mượn “Thiên Cơ, Thái Âm” để an sao).

Thái Dương ở hai cung Sửu hoặc Mùi, cần phải gặp các sao phụ, tá cát tụ tập mới tốt; không gặp các sao phụ, tá, dù không có sát tinh cũng chỉ bình bình; nếu gặp sát tinh mà không có sao cát, thì không ổn định, sự nghiệp không có nền tảng, hoặc không giữ một nghề. Nếu các sao cát hung tụ tập lẫn lộn, thì cũng không tốt, chủ về dễ lên dễ xuống, lúc ở lưu niên hay đại vận không tốt còn dễ có tâm trạng tiêu cực.

Đối với Thái Dương ở hai cung Sửu hoặc Mùi, các cung hạn “Tử Vi, Thiên Tướng”, Phá Quân, “Thiên Cơ, Cự Môn” là những lưu niên hay đại vận có tính then chốt. Nếu nguyên cục không có sao lộc thì ưa đến vận hạn có Hoá Lộc. Nếu Thái Dương Hoá Lộc, đến vận hạn Thái Âm Hoá Lộc là tốt nhất.

Thái Dương ở hai cung Dần hoặc Thân, thích hợp làm việc cho công ty, làm việc cho người khác; chỉ trong tình hình có các sao phụ, tá cát tụ tập, mà còn được “bách quan triều củng”, mới chủ về có thể tự mình phát triển, nhưng sự nghiệp vẫn cần phải có sắc thái phục vụ.

Hễ Thái Dương ở hai cung Dần hoặc Thân, phần nhiều chủ về bất lợi trong hôn nhân, nên kết hôn muộn.

Thái Dương thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, dễ mắc bệnh tiểu đường, cổ nhân gọi là bệnh “tiêu khát”, thường có triệu chứng ăn nhiều mà mau đói, còn ưa thức ăn có mỡ; ở cung Dần càng đúng.

Thái Dương ở hai cung Dần hoặc Thân, Cự Môn Hoá Kị, thích hợp với các nghề dùng lời nói để kiếm tiền; nếu Thái Dương Hoá Kị ở cung Thân thì chủ về cuộc đời thường bị người ta gây luỵ. Thái Dương Hoá Kị ở cung Dần, nữ mệnh chủ về lấy chồng không lương thiện.

Đối với Thái Dương thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, các cung hạn “Tử Vi, Thất Sát”, Thiên Tướng, “Thiên Đồng, Thái Âm” là đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt. Cung hạn này rất ưa gặp Thiên Đồng Hoá Lộc, Thái Âm Hoá Quyền, Tử Vi Hoá Khoa.

Thái Dương ở hai cung Mão hoặc Dậu, trường hợp cấu tạo thành cách cục “Dương Lương Xương Lộc” là tốt nhất, Ở cung Mão thì thanh danh khá lớn; ở cung dậu thì chỉ có thanh danh trong phạm vi nhất định, công chúng ít người biết.

“Thái Dương, Thiên Lương” thủ mệnh là người khéo nói chuyện, suy nghĩ cẩn thận; ở cung Dậu thì cường kí.

“Thái Dương, Thiên Lương” dù gặp cát tinh, cũng chủ về rời xa quê hương mà thành gia nghiệp, nhưng ắt sẽ được cha mẹ che chở.

“Thái Dương, Thiên Lương” ở cung Dậu, nếu là người sinh vào ban đêm sẽ chủ về bất lợi trong hôn nhân; người sinh vào ban ngày phần nhiều thất bại trong mối tình đầu.

Đối với “Thái Dương, Thiên Lương” ở cung Mão, cung hạn có Thái Âm là vận may có tính then chốt; đối với “Thái Dương, Thiên Lương” ở cung Dậu, cung hạn có Thiên Cơ vận trình quan trọng có tính then chốt.

Thái Dương ở cung Thìn, Thái Âm ở cung Tuất, là cục “Nhật Nguyệt toàn bích”. Nếu gặp các sao phụ, tá cát và cát hoá, chủ về phú quý; nhưng nếu Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở cung Thìn, thì đây là “Nhật Nguyệt thất huy” (Thái Dương, Thái Âm mất sáng), chủ về cuộc đời biến thiên bất định.

Thái Dương ở cung mệnh, Thái Âm thủ cung thân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về rời xa quê hương.

Thái Dương Hoá Khoa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Thái Âm Hoá Quyền, thích hợp làm quan thuế, cũng thích hợp nắm quyền tài chính của công ty, tập đoàn lớn.

Đối với Thái Dương ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn Thái Âm, Thiên Cơ, “Thiên Đồng, Thiên Lương” là những đại hạn hay lưu niên có tính then chốt.

Thái Dương độc toạ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, ở cung Tỵ hơn xa cung Hợi. Ở cung Tỵ có thể được người ngoại quốc (hay người ở phương xa) trợ lực, ở cung Hợi thì chủ về điều tiếng thị phi, rối rắm khó xử.

Thái Dương thủ mệnh ở cung Hợi, nếu cung phúc đức là Thiên Cơ có cao cát hội hợp thì có thể bổ cứu; nếu Thiên Cơ Hoá Kị, hoặc hội các sao ác, sát, hình, kị, thì tâm chí bạc nhược, phần nhiều lúc sắp thành công thì đột nhiên thất bại, còn chuốc thị phi, oán trách. cần phải lấy nổ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thái Dương thủ mệnh ở cung Tỵ, nếu có Văn Xương, Văn Khúc ở cung phu thê hội chiếu, chủ về được vợ đẹp, mà còn được nhạc gia nâng đở.

Thái Dương ở cung Hợi dễ bị suy nhược thần kinh, rối loạn nhịp tim.

Thái Dương ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, gặp sát tinh, đều chủ về bệnh tật ở mắt.

Đối với Thái Dương ở cung Tỵ, các cung hạn Thái Âm, “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, Thất sát là đại hạn hoặc lưu niên có tính then chốt.

Đối với Thái Dương ở cung Hợi, các cung hạn “Tử Vi, Thiên Phủ”, Tham Lang, Thiên Lương là các đại hạn hoặc lưu niên có tính then chốt.

IV. Vũ Khúc ở cung mệnh (thân)

Vũ Khúc là sao tiền tài; phân biệt tỉ mỉ là hành động kiếm tiền, khác với Thái Âm là kế hoạch kiếm tiền. Cho nên cổ nhân xếp Thái Âm thuộc văn, còn Vũ Khúc thuộc võ.

Cổ quyết nói: Người sinh năm Thìn, cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Thìn; người sinh năm Tuất, cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Tuất; người sinh năm Sửu, cung mệnh là “Vũ Khúc, Tham Lang” ở cung Sửu; người sinh năm Mùi, cung mệnh là “Vũ Khúc, Tham Lang” ở Mùi; đều chủ về lập được chiến công, lấy công để khởi nghiệp.

Vũ Khúc là sao cô quả, vì vậy không thích hợp với nữ mệnh. Dù có cuộc sống hôn nhân, cũng chủ về vợ đoạt quyền chồng. Ở thời hiện đại, thường thường là điềm tượng thao túng sự nghiệp của chồng, mà còn chủ về kết hôn muộn.

“Vũ Khúc, Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ở cung Ngọ tốt hơn. Tuy cổ quyết nói: “Vũ Khúc, Thiên Phủ” đồng cung chủ về sống thọ, nhưng “Vũ Khúc, Thiên Phủ” thủ mệnh ở cung Tí, lại ngại cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm,e rằng còn nhỏ đã mồ côi, hoặc khó được cha mẹ che chở, vì vậy không bằng cung Ngọ.

“Vũ Khúc, Thiên Phủ” khí rất hoà hoãn, cho nên cổ nhân cho rằng rất thích hợp với nữ mệnh. Ở thời hiện đại, bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, “Vũ Khúc, Thiên Phủ” mà có sao lộc, lại gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, phần nhiều chủ về đắc ý trong giới làm ăn kinh doanh. Nếu không có Thiên Khôi, Thiên Việt, nhưng gặp Tả Phụ, Hữu Bật cũng cát; gặp Văn Xương, Văn Khúc, chỉ chủ về thông minh, không chủ về đắc ý.

Đối với “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, hai cung đại hạn Thiên Đồng, “Thái Âm, Thái Dương” là đại vận có tính then chốt của đời người. Hai cung hạn này ưa gặp cát tinh và cát hoá, được vậy thì tuổi trẻ hưởng thụ, trung niên và vãn niên phúc trạch cũng dầy. Nếu hai cung hạn này gặp các sao sát, kị, hình, thì tuổi trẻ không cát tường, trung niên và vãn niên cũng bị ảnh hưởng.

Đối với “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, các cung hạn Tham Lang, “Tử Vi, Thiên Tướng”, Thất Sát, Phá Quân là các lưu niên có tính then chốt.

“Vũ Khúc, Tham Lang” thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có Hoả Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ là rất tốt. Ở cung tài bạch và cung điền trạch cũng cát. Cổ quyết nói: “Vũ Khúc, Tham Lang ở tài trạch vị, hoạnh phát tiền của”. Không có cát tinh mà có sát tinh, sẽ chủ về hoạnh phát hoạnh phá.

“Vũ Khúc, Tham Lang” đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, gặp sao lộc chủ về phú; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ Hữu Bật chủ về quý, hoặc phú nhờ quý mà có.

“Vũ Khúc, Tham Lang” Hoá Kị (Vũ Khúc Hoá Kị nặng hơn), gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, thì luận gặp sát tinh, nhưng còn chủ về thông minh, có nghề đặc biệt để mưu sinh. Ở thời hiện đại cũng có thể theo ngành công nghệ, khoa học kỹ thuật.

Đối với “Vũ Khúc, Tham Lang”, các cung hạn “Thái Dương, Cự Môn”, “Thiên Đồng, Thái Âm” là đại vận có tính then chốt của đời người. Vận trình lúc còn trẻ tốt hay xấu có thể ảnh hưởng suốt cuộc đời.

Đối với “Vũ Khúc, Tham Lang”, các cung hạn Thiên Phủ, “Liêm Trinh, Phá Quân”, “Thiên Cơ, Thiên Lương” là các lưu niên có tính then chốt.

“Vũ Khúc, Tham Lang” ở cung thân không bằng ở cung mệnh. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, chủ về cuộc đời nhiều hung hiểm. Nếu đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, cũng chủ về hoạnh phát liền hoạnh phá.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, phần nhiều chủ về là người làm việc hưởng lương, chỉ nên làm chức phó, không nên một mình cán đáng công việc.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, chủ về thông minh, tay nghề khéo. Cổ quyết nói: “Vũ Khúc, Thiên Tướng gặp Văn Xương, Văn Khúc, thông minh, tay nghề khéo mưu sinh”. Ở thời hiện đại cũng là điềm tượng công nghệ, khoa học kỹ thuật.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” có Văn Khúc đồng độ, lại gặp các sao đào hoa (Thiên Riêu càng nặng), chủ về là người trôi nổi, không yên một nghề. Cần phải lấy nổ lực hậu thiên để khắc chế, mới có thể dựa vào nghị lực mà sáng lập sự nghiệp.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” thủ mệnh cung Dần, Tham Lang thủ cung thân ở cung Tí; nếu cung thân có các sao sát, kị hội hợp, thì gặp năm Tí có nguy cơ về sông nước, lấy năm có lưu sát tinh xung hội làm ứng nghiệm.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” thủ mệnh, nếu cung tài bạch là “Liêm Trinh, Thiên Phủ”, mà Liêm Trinh Hoá Kị, nên làm công việc có tính hung sự để kiếm tiền. Ở thời hiện đại, các ngành nghề như ẩm thực, y dược, ngoại khoa, hoá nghiệm, tang lễ, v.v… đều thuộc “hung sự”; ở thời cổ đại là đồ tể, chăn nuôi, v.v…

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” rất ưa cung thiên di là Phá Quân Hoá Lộc, thì tuy có chức phó nhưng cũng có thanh danh, mà cuộc đời phần nhiều gánh vác toàn trọng trách khó khăn.

“Vũ Khúc, Thiên Tướng” có Văn Khúc đồng độ; đối cung có Thiên Mã, mà không có Hoá Lộc, Lộc Tồn; các sao cát và sát tinh lẫn lộn; cổ nhân cho là mang linh đinh.

Đối với “Vũ Khúc, Thiên Tướng”, các cung hạn “Thái Dương, Thiên Lương”, Thiên Cơ, Thái Âm là các đại vận có tính then chốt; các cung hạn có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Tử Vi là những lưu niên có tính then chốt.

“Vũ Khúc, Thất Sát” thủ mệnh ở cung Mão, gặp các sao sát, kị sẽ chủ về nạn tai bất trắc. Cổ quyết nói: “Các sao ác, sát, hao, tù hội hợp ở cung Chấn, chủ về cây đè, sét đánh”. Ở cung Dậu, là điềm tượng vì tranh giành tiền bạc mà động võ. Cổ quyết nói: “Vũ Khúc, Kiếp Sát hội Kình Dương, vì tiền mà cầm đao”. Cổ quyết còn nói: “Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La kiêm Hoả Tinh, mất mạng vì tiền”. Đều nói về “Vũ Khúc, Thất Sát” ở hai cung Mão Dậu.

Tóm lại, “Vũ Khúc, Thất Sát” đồng cung, là tổ hợp sao có nguy cơ. “Vũ Khúc, Thất Sát” ở bản cung không có các sao sát, kị, thì thích hợp với võ nghiệp, có thể lập công trạng.

Đối với “Vũ Khúc, Thất Sát”, các cung hạn “Thiên Đồng, Thiên Lương”, Thái Dương, Thái Âm, là những đại vận có tính then chốt; các cung hạn “Liêm Trinh, Tham Lang”, “Tử Vi, Phá Quân” và bản cung “Vũ Khúc, Thất Sát” là các lưu niên có tính then chốt.

Vũ Khúc độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh cũng chủ về nắm quyền tài chính; gặp sát tinh, là tiểu thương, tuyệt đối không nên theo võ nghiệp.

Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, ắt sẽ đối nhau với Tham Lang, tính chất tương tự như “Vũ Khúc, Tham Lang” ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Các đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt cũng tương tự.

Vũ Khúc thủ mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cung thiên di là Tham Lang đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, không chủ về rời xa quê hương, mà chỉ chủ về phát đột ngột. Nếu cung mệnh có Hoả Tinh, Linh Tinh, mới chủ về rời xa quê hương để lập nghiệp.

“Vũ Khúc, Phá Quân” ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, chủ về phá tổ nghiệp mà tự lập. Được cát hoá và có sao cát, thì cuộc đời phần nhiều gánh vác trọng trách, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.

“Vũ Khúc, Phá Quân” ở cung mệnh hay cung thân, phần nhiều ưa hợp tác với người khác. Vì vậy nên xem xét kỹ cát hung của cung huynh đệ.

“Vũ Khúc, Phá Quân” ở cung Hợi, phần nhiều chủ về thị phi, không ổn định. Nếu cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm ở cung Tí, cuộc đời thiếu sự che chở của cha mẹ, hoặc cấp trên không lấy lòng thành để đối xử với mệnh tạo. Nhưng người sinh năm Nhâm, tuy Vũ Khúc Hoá Kị, nhưng Thái Dương được Thiên Lương Hoá Lộc vây chiếu, mới chủ về được người ta đề bạt, trọng dụng. Cho nên “Vũ Khúc, Phá Quân” Hoá Kị, là cách cục “phản bối” thì chủ về cát tường.
Đối với “Vũ Khúc, Phá Quân”, các cung hạn Thái Dương, “Thiên Cơ, Thái Âm”, Thiên Đồng là những đại vận có tính then chốt; các cung hạn Thái Dương, Thiên Lương, “Tử Vi, Tham Lang”, “Thiên Cơ, Thái Âm” là những lưu niên có tính then chốt.

V. Thiên Đồng ở cung mệnh (thân)

Thiên Đồng ở 12 cung đều có khuyết điểm, cổ nhân nói, “Thiên Đồng vào 12 cung đều là phúc trạch”, đây là nói rốt cuộc nó có thể khắc phục khuyết điểm. Như ở cung mệnh, chủ về tay trắng làm nên, tức là cần phải lưu ý cung phụ mẫu, xem cha mẹ của mệnh tạo có phá tán, thất bại hay không, hay vận trình lúc còn trẻ có phá tán, thất bại hay không.

Thiên Đồng chủ về tâm trạng, cho nên lúc có các sao phụ, tá tụ hội, chưa chắc đã cát lợi, bởi vì có thể xảy ra tính ỷ lại, khiến đời người dễ vì thành tựu nhỏ mà đã an vui không chịu tiến thủ.

Thiên Đồng thuần tuý là sao tinh thần, ưa được kích phát, mới có tinh thần phấn chấn. Vì vậy, gặp sát tinh và Hoá Kị, có lúc lại chủ về trải qua gian nguy sau mới có được thu hoạch lợi ích.

Thiên Đồng gặp các sao cát, hình trùng trùng, chủ về tinh thần rối rắm khó xử. Nếu gặp thêm các tạp diệu Thiên Hình, Thiên Hư, Đại Hao, Âm Sát, mà bản thân Thiên Đồng lại hoá làm sao kị, thì nên đề phòng bệnh tinh thần, hay tâm lý mất quân bình mà gây ra bệnh hoạn. Nếu gặp thêm cát tinh cũng chủ về tinh thần bị áp lực.

Do Thiên Đồng ưa được kích phát, trừ phi nguyên cục có các sao sát, kị, hình, hao trùng trùng, nếu không, thông thường nó ưa đến cung hạn Thất Sát tọa thủ. Cung hạn này hơi gặp cát tinh, mà tam phương tứ chính còn có sao lộc, tức là vận mệnh chủ về phát mạnh. Bất kể đại hạn hay lưu niên đều như vậy.

“Thiên Đồng, Thái Âm” đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ở cung Tí thì tốt hơn, vì ở cung Ngọ thì Thái Âm lạc hãm, còn gây ảnh hưởng khiến Thiên Đồng có tâm trạng không ổn định. Nếu lại gặp sát tinh, sẽ chủ về bệnh mang tính thần kinh, âm dương không điều hoà, nội tiết mất quân bình, âm hư, v.v… Không gặp sát tinh cũng chủ về thần kinh quá mẫn cảm.

“Thiên Đồng, Thái Âm” ở cung Ngọ, gặp cát tinh, nhưng có Kình Dương đồng độ, gọi là “Mã đầu đới tiễn”. Người sinh năm Bính, Thiên Đồng Hoá Lộc, tốt hơn người sinh năm Mậu, Thái Âm Hoá Quyền (ắt cũng gặp Thiên Cơ Hoá Kị). Người sinh năm Mậu phải trải qua gian nguy để lập nghiệp, lại thường vì nghi kị mà sinh phá tán, thất bại. Người sinh năm Bính, sau khi lập nghiệp thì nhiều phúc trạch.

“Thiên Đồng, Thái Âm” ở cung Tí tuy không tốt bằng ở cung Ngọ thuộc cách cục “Mã đầu đới tiễn”; nhưng lại hơn xa “Thiên Đồng, Thái Âm” ở cung Ngọ mà không thành cách. Vì có thể mượn “Thái Dương, Cự Môn” của cung Dần, nếu được cát hoá, chủ về được người ngoại quốc (hay người ở phương xa) đề bạt. Nữ mệnh thường kết hôn với người ngoại quốc (hay người phương xa). Nhất là cung Tí vô chính diệu, mượn “Thiên Đồng, Thái Âm” của cung Ngọ để an sao thì càng đúng; hoặc cung Ngọ vô chính diệu, mượn “Thiên Đồng, Thái Âm” của cung Tí cũng vậy.

“Thiên Đồng, Thái Âm” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, rất kị Thiên Đồng hay Thái Âm Hoá Kị; khi đến cung hạn Thiên Tướng toạ thủ, bất kể lưu niên hay đại hạn đều có khuyết điểm, thông thường là niên hạn chủ về trắc trở. Nếu người sinh năm Đinh, Thiên Đồng Hoá Quyền, Thái Âm Hoá Lộc, thì cung phúc đức Cự Môn ắt sẽ Hoá Kị, thích hợp với các nghề nghiệp cần đến tài ăn nói. Nữ mệnh đến vận Thiên Tướng, chỉ cần đề phòng trắc trở trong hôn nhân.

Đối với “Thiên Đồng, Thái Âm” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp sát tinh, thì các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang là những niên vận có tính then chốt; không gặp sát tinh mà gặp cát tinh, thì các cung hạn “Tử Vi, Thất Sát”, Thiên Tướng, “Thiên Cơ, Thiên Lương” là các niên vận có tính then chốt.

“Thiên Đồng, Cự Môn” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Cự Môn là ám tinh, ảnh hưởng đến sắc thái tâm trạng của Thiên Đồng. Cho nên bản thân các tổ hợp sao đã có khuyết điểm. Như Thiên Đồng Hoá Kị, thì tâm chí bạc nhược, hoặc có nỗi đau khổ thầm kín; Cự Môn Hoá Kị sẽ chủ về nỗi đau khổ thầm kín trong đời người thường là do bản thân mệnh tạo chủ động gây ra.

“Thiên Đồng, Cự Môn” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Hoá Lộc thì tài lộc dồi dào, nhưng vẫn không tránh được, có nỗi đau khổ thầm kín. Cần phải Cự Môn Hoá Quyền, hoặc hội các sao Hoá Khoa, Hoá Quyền mới chủ về tâm trạng ổn định, có thể tránh bị người ngoài gây ra nỗi đau khổ thầm kín.

Tổ hợp “Thiên Đồng, Cự Môn”, nếu Cự Môn Hoá Kị, thì Thiên Đồng ắt sẽ hoá thành sao quyền. Thiên Đồng Hoá Quyền có thể ổn định tâm trạng, Cự Môn Hoá Kị thì sinh lực kích phát; nhưng lúc này, nếu ở cung Sửu, thì bị Kình Dương, Đà La chiếu xạ; nếu ở cung Mùi, ắt sẽ có Kình Dương đồng cung, lực kích phát thái quá sẽ thành rối rắm khó xử. Vì vậy không tốt bằng Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất đối nhau với Cự Môn.

Đối với “Thiên Đồng, Cự Môn”, ngoài trừ cung hạn Thất Sát là vận hạn có tính then chốt ra, còn có các cung hạn khác là “Thái Dương, Thiên Lương”, Thái Âm, Phá Quân, Thiên Cơ là những hạn có tính then chốt.

Hễ “Thiên Đồng, Cự Môn” đồng độ với Đà La, là chủ về buồn phiền, đời người ắt phải trải qua sóng gió lớn mới phát mạnh. Về vận phát mạnh, nam mệnh nên đến cung hạn Thất Sát, nữ mệnh đến cung hạn “Liêm Trinh, Thiên Phủ”.

“Thiên Đồng, Thiên Lương” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, thành cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”. Kết cấu này ổn định hơn “Thiên Cơ, Thái Âm” thủ mệnh thành cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”. Có điều, Thiên Đồng chủ về tâm trạng, Thiên Lương chủ về nguyên tắc, hai sao đồng cung, khó tránh mâu thuẩn, xung đột. Nhưng vẫn lấy trường hợp gặp Hoá Lộc, Hoá Quyền làm cách cục cát lợi; gặp Hoá Khoa thì chỉ sang quý thanh cao, có địa vị xã hội, nhưng không giàu có, thu nhập sẽ tuỳ theo địa vị mà định.

“Thiên Đồng, Thiên Lương” ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về bất lợi trong hôn nhân, cung phu thê là Cự Môn Hoá Kị thì càng đúng.

Đối với “Thiên Đồng, Thiên Lương” ở hai cung Dần hoặc Thân, các cung hạn “Vũ Khúc, Thất Sát”, Cự Môn, Thái Âm, Thái Dương là những lưu niên hay đại vận có tính then chốt.

Thiên Đồng độc toạ ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối nhau với Thái Âm. Trường hợp Thái Âm ở cung Dậu thì tốt hơn. Nếu người sinh năm Đinh, có tứ hoá diệu tụ hội, do Cự Môn Hoá Kị ở cung tài bạch, nên không chủ về lực kích phát, mà chỉ chủ về dùng lời nói để kiếm tiền, nếu không sẽ thành điều tiếng thị phi.

Thiên Đồng ở cung Dậu, nếu đối cung là Thái Âm Hoá Kị, thì dễ thất chí, hoặc nhiều mặc cảm tự ti. Thiên Đồng ở cung Mão, đối cung là Thái Âm Hoá Kị, sẽ chủ về thủ đoạn.

Thiên Đồng ở hai cung Mão hoặc Dậu, nếu hội Cự Môn Hoá Lộc hoặc Cự Môn Hoá Kị, thì cũng dể sinh nỗi đau khổ thầm kín, nhất là đau khổ vì mối tình không bình thường, giống như “Thiên Đồng, Cự Môn” ở hai cung Sửu hoặc Mùi.

Đối với Thiên Đồng ở hai cung Mão hoặc Dậu, các cung hạn Thiên Cơ, Thất Sát, Thiên Lương, Cự Môn là những niên hạn có tính then chốt.

Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối nhau với Cự Môn, cũng có đặc tính của “Thiên Đồng, Cự Môn”. Có điều, Thiên Đồng ở cung Tuất ưa đối cung là Cự Môn Hoá Kị kích phát, gọi là cục “phản bối”, chủ về gian khổ sáng lập sự nghiệp, cần phải chú ý điều hoà quan hệ nhân tế, vì có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp.

Thiên Đồng ở cung Thìn, đối cung là Cự Môn Hoá Kị, cho nên không thành cục “phản bối”, vì hội Thiên Lương có tính “cô kị” ở cung Tí không bằng hội Thiên Lương ở cung Ngọ, cho nên đời người khá thuận lợi toại ý, nhưng lại ít tính chất “qua cơn mưa trời lại sáng” để thành sự nghiệp lớn.

Thiên Đồng ở cung Thìn, thông thường đều độc đoán, có thành kiến. Vì vậy không nên hợp tác làm ăn với người khác.

Đối với Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn “Liêm Trinh, Thất Sát”, Thiên Lương, Cự Môn, “Thiên Cơ, Thái Âm” là những niên vận có tính then chốt.

Thiên Đồng ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, ở cung Tỵ tốt hơn. Ở cung Hợi thì Thiên Lương của đối cung ở cung Tỵ, dễ mang lại thị phi, kiện tụnh, khắc hại.

Thiên Đồng đối nhau với Thiên Lương, có tính lười biếng. Vì vậy nên thận trọng trong việc kết bạn, dễ giao du với bạn xấu, khiến ảnh hưởng xấu đến cuộc đời.

Thiên Đồng ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, rất ngại Hoá Kị, nhất là ở cung Hợi, chủ về cuộc đời vất vả, rời xa người thân, lưu lạc, không nơi nương tựa; ở cung Tỵ thì có thể tự lập, chỉ cần giữ ổn định, không được thấy mới nới cũ, mới có thể lập nghiệp.

Thiên Đồng ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, lúc hơi thành tựu, nhất thiết không được hợp tác với người khác, nếu không sẽ có kết cục rất xấu.

Đối với Thiên Đồng ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, các cung hạn “Thiên Cơ, Cự Môn”, Thất Sát, Liêm Trinh là những niên hạn có tính then chốt.

VI. Liêm Trinh ở cung mệnh (Thân)

Liêm Trinh chủ về tình cảm, cũng chủ về máu. Liêm Trinh Hoá Kị, về phương diện quan hệ nhân tế là tình cảm bị tổn thương, hoạ hại; về phương diện cơ thể là bệnh tật liên quan đến máu.

Vì Liêm Trinh chủ về tình cảm, nên khi có các sao đào hoa hội hợp, bèn chuyển biến thành tình cảm nam nữ, vì vậy gọi nó là sao “đào hoa thứ”. “Đào hoa thứ” là đối nhau với “đào hoa chính” của Tham Lang. Tham Lang chủ về hành động, Liêm Trinh chủ về tư tưởng, nên gọi là “thứ”. Nói cách khác, đào hoa của Tham Lang chủ về theo đuổi sắc tình; còn đào hoa của Liêm Trinh là chủ về ghi lòng tạc dạ.

Liêm Trinh còn là chính trị, hoặc đối với chính trị rất cuồng nhiệt và có lý tưởng. Tinh hệ “Liêm Trinh, Thiên Tướng” đặc biệt có tính chất này. Tính chất này khi nhuyễn hoá sẽ thành quyền biến hay thủ đoạn; khác với khuynh hướng quan hệ giao tế thiên về tửu sắc của Tham Lang.

Liêm Trinh trôi nổi, nóng nảy, thuộc về phương diện tinh thần; Tham Lang lẳng lơ, thuộc về hành vi, cử chỉ. Cho nên Liêm Trinh ưa Thiên Tướng, nhuyễn hoá thành thủ đoạn chính trị linh hoạt và tính chất phục vụ; còn Tham Lang thì ưa Vũ Khúc, nhuyễn hoá thành thủ đoạn kiếm tiền linh động, khéo ăn khéo ở.

Liêm Trinh có thể văn mà cũng có thể võ. Cho nên cổ nhân nói: “Liêm Trinh gặp Văn Xương thì giỏi lễ nhạc, gặp sát tinh võ nghiệp hiển hách.” Vì vậy lúc có Văn Xương, Văn Khúc, các sao đào hoa cùng bay đến, đây là thi tửu phong lưu; đồng độ với Phá Quân, gặp sát tinh, sẽ chủ về võ nghiệp, hoặc làm những nghề nghiệp có tính hung hiểm, hay có công cụ bén nhọn. Rất ưa đồng độ với Thiên Phủ, hội Tử Vi của cung Ngọ và “Vũ Khúc, Thiên Tướng” của cung Dần, đây là kết cấu tốt. Gặp cát tinh có thể trở thành người hữu dụng. Đây đều là đặc tính văn võ bắt nguồn từ Liêm Trinh.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở hai cung Tí hoặc Ngọ rất ngại có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về gặp trắc trở nghiêm trọng, hoặc có khuynh hướng tự sát. Nhất là lúc Liêm Trinh Hoá Kị bị Vũ Khúc Hoá Kị xung hội, lại gặp thêm Kình Dương, Đà La, Thiên Hình xung hội, khuynh hướng này càng đúng.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, người sinh năm Bính Liêm Trinh Hoá Kị, đến cung hạn Thiên Đồng thì hoạnh phát, đến cung hạn Vũ Khúc thì phải đề phòng hoạnh phá.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở hai cung Tí hoặc Ngọ rất ưa “tài ấm giáp ấn”, Liêm trinh Hoá Lộc, hoặc Phá Quân Hoá Lộc ở đối cung, sẽ chủ về phú quý, nhưng vẫn chủ về chỉ nên ở vị trí phụ tá, hay phó, nghề nghiệp có tính chất làm việc hưởng lương.

“Liêm Trinh, Thiên Tướng” ngoại trừ người sinh năm Bính lấy hai cung hạn Thiên Đồng, Vũ Khúc làm vận trình có tính then chốt, còn lại là đều lấy các cung hạn “Tử Vi, Thiên Phủ” Vũ Khúc, Cự Môn, Phá Quân làm đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt.

“Liêm Trinh, Thất Sát” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chỉ có cung Mùi mới có thể cấu thành cách cục “Hùng tú kiền nguyên”. Điều kiện là gặp các sao phụ, tá cát, không có tứ sát tinh và các sao hình, kị, Địa Không, Địa Kiếp xung hội, chủ về trải qua gian khổ mà thành giàu có. Ở cung Sửu chỉ có mức sống trung bình. Ở cung Mùi, Liêm Trinh Hoá Lộc, là cách “thanh bạch”, cũng chủ về dư giả, nếu không có Hoà Tinh, Linh Tinh hội chiếu sẽ chủ về phú quý; ở cung Sửu cũng chỉ thành cục trung bình.

“Liêm Trinh, Thất Sát” ở hai cung Sửu hoặc Mùi không ưa có Kình Dương đồng độ, chủ về gặp nhiều thị phi; cũng không ưa có Đà La đồng độ, chủ về gặp nhiều rối ren vô vị; còn không ưa gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, chủ về bị trắc trở nghiêm trọng.

“Liêm Trinh, Thất Sát” đồng độ, mà Liêm trinh Hoá Kị, lại gặp các sao hình, hao, sát, chủ về chết ở xứ người. Nếu Vũ Khúc Hoá Kị, hoặc Văn Khúc hay Văn Xương Hoá Kị xung khởi, lại có Hoả Tinh, Linh Tinh hội hợp, chủ về sự cố bấc trắc, nghiêm trọng thì ngầm có ý định tự sát.

Đối với “Liêm Trinh, Thất Sát” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, các cung hạn Thiên Lương, “Vũ Khúc, Phá Quân”, Thiên Đồng là những lưu niên hay đại hạn có tính then chốt.

Liêm Trinh độc toạ ở hai cung Dần hoặc Thân, trường hợp ở cung Thân cũng thành cách cục “Hùng tú kiền nguyên”, có thể tham khảo ở trên. Trường hợp ở cung dần, không thành cách cũng như trên.

Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân, rất kị Văn Khúc bay đến cung thiên di, cung mệnh lại hội Văn Xương, còn hội các tạp diệu Âm Sát, Đại Hao, Thiên Hư, Thiên Hình, và Vũ Khúc Hoá Kị đến hội; các sao ác sát nặng, chủ về có khuynh hướng trộm cắp, mà còn chủ về quyến luyến tửu sắc, truỵ lạc, mà dẫn đến thất bại. Cổ quyết nói, “Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân gặp nhau, Văn Khúc ở thiên di là làm giặc”.(Liêm Trinh Tham Sát Phá Quân phùng, Văn Khúc thiên di tác bối nhung). Theo Vương Đình Chi, hai chữ “bối nhung” ghép lại là chữ tặc. Đời nay, có người cho rằng đây là do chép lầm của hai chữ “binh nhung”, giải thích là “võ nghiệp hiển quý”, hoàn toàn trái ngược với kiến giải của Vương Đình Chi.

Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân, cũng ưa Tham Lang ở đối cung thành cách “Hoả Tham” hay cách “Linh Tham”, chủ về phát lên một cách đột ngột, cũng chủ về được tiền của nhờ vợ, hoặc nhờ vợ trợ giúp mà trở nên giàu có.

Đối với Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân, các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Lương và bản thân Liêm trinh, là những lưu niên có tính then chốt; và các cung hạn Thất Sát, Thiên Lương, “Thiên Cơ, Cự Môn”, Vũ Khúc, Thiên Phủ” là những đại vận có tính then chốt.

“Liêm Trinh, Phá Quân” ở hai cung Mão hoặc Dậu, rất ngại có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về suy sụp nhanh chóng; gặp sát tinh nặng, còn gặp thêm Thiên Hình, sẽ chủ về bị phẩu thuật, hoặc xảy ra sự cố bất trắc; Liêm Trinh Hoá Kị ở lưu niên xung khởi là năm ứng nghiệm (cung mệnh của nguyên cục là “Liêm Trinh, Phá Quân”, lúc cung tật ách của lưu niên cũng là “Liêm Trinh, Phá Quân”, có sao kị xung phá cũng vậy).

“Liêm Trinh, Phá Quân” ở hai cung Mão hoặc Dậu, có năng lực sáng tạo, gặp Kình Dương đồng độ, không có các sao hình, hao, là chủ về suy nghĩ khéo, có tay nghề khéo.

“Liêm Trinh, Phá Quân” ở hai cung Mão hoặc Dậu, người sinh năm Bính cũng chủ về hoạnh phát, hoạnh phá. Đến đại hạn Thiên Phủ thì hoạnh phát, đề phòng đến cung hạn “Thiên Đồng, Thái Âm” thì hoạnh phá.

Ngoài những điều thuật ở trên, đối với “Liêm Trinh, Phá Quân”, các cung hạn “Vũ Khúc, Tham Lang”, “Thiên Đồng, Thái Âm”, “Thái Dương, Cự Môn” là những niên hạn có tính then chốt.

“Liêm Trinh, Thiên Phủ” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, khí rất hoà hoãn, gặp sao lộc thì cát; Thiên Phủ là “kho trống”, “kho lộ” thì hung, nhưng nhẹ hơn các tổ hợp sao khác; có điều, kết hôn sớm thì bất lợi, thường dễ bị tình trạng “ngó đứt mà tơ chưa lìa”, hoặc có một thời kỳ hữu danh vô thực.

“Liêm Trinh, Thiên Phủ” gặp sao lộc, lại có sao phụ, tá cát, có thể làm việc trong giới kinh tế tài chính, hoặc là quan thuế. Gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật thì rất tốt.

Nếu “Liêm Trinh, Thiên Phủ” được Thái Dương và Thái Âm giáp cung, thì ở cung Tuất ưu hơn ở cung Thìn. Nếu hội các sao cát là đại phú đại quý.

Đối với “Liêm Trinh, Thiên Phủ”, các cung hạn Phá Quân, Tham Lang, “Thái Dương, Thiên Lương”, có Văn Xương, Văn Khúc là những đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt.

“Liêm Trinh, Tham Lang” đồng độ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, gặp các sao sát, kị, chủ về phiêu lưu tứ hải, rời xa quê hương. Gặp các sao phụ, tá (không nên chỉ gặp Văn Xương, Văn Khúc), thì khí chất cao thượng, phong lưu nho nhã, làm việc trong chính giới hay quân đội có thể hơn người.

“Liêm Trinh, Tham Lang” ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, phần nhiều bất lợi trong hôn nhân, dễ “ngó đứt mà tơ chưa lìa”. cần phải xem xét kỹ cung phu thê mà định mức độ.

Đối với “Liêm Trinh, Tham Lang” ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, các cung hạn Cự Môn, Thiên Tướng, “Tử Vi, Phá Quân”, “Thiên Đồng, Thiên Lương” là những niên vận có tính then chốt. Cần chú ý, “Liêm Trinh, Tham Lang” ở cung Tỵ, cuộc đời gặp nhiều nạn tai, nhưng có thể chuyển nguy thành an.

VIII. Thái Âm ở cung mệnh (thân)

Thái Âm nên nhập miếu, không nên lạc hãm, nên là người sinh vào ban đêm, không nên là người sinh vào ban ngày. Nếu người sinh vào ban đêm gặp Thái Âm nhập miếu thì rất tốt; người sinh vào ban ngày thì giảm phúc. Nếu người sinh vào ban đêm gặp Thái Âm lạc hãm, chưa chắc đã hung, vẫn cần phải xem xét các sao phụ, tá, sát, hoá mà định; nếu người sinh vào ban ngày gặp Thái Âm lạc hãm, ắt sẽ bất lợi đối với người thân phái nữ. Nữ mệnh cũng bất lợi đối với bản thân, hoặc sớm mồ côi.

Cung mệnh vô chính diệu, cung thân ở cung thiên di là Thái Âm lạc hãm, gặp sát tinh (sợ nhất là Hoả Tinh, Linh Tinh), người sinh vào ban ngày chủ về theo mẹ cải giá, hoặc làm con thừa tự của bác hay chú.

Thái Âm thủ mệnh, lại còn chia ra hai nhóm, nhóm người sinh vào thượng huyền (ngày 1 đến 15) và người sinh vào hạ huyền (ngày 16 đến 30). Sinh vào thượng huyền thì cát, đây là thời kỳ trăng tròn dần; sinh vào hạ huyền thì không cát tường, đây là thời kỳ trăng khuyết dần. Người sinh vào hạ huyền càng đúng với ứng nghiệm “theo mẹ cải giá” thuật ở trên.

Thái Âm nhập miếu, gặp sao cát ở tam phương đến hội, chủ về hưởng thụ, nhất là hưởng thụ tinh thần. Tức không mang toàn bộ tinh thần tập trung vào việc kiếm tiền và theo đuổi sinh hoạt vật chất. Còn gặp Văn Xương, Văn Khúc thì thiên về văn chương; gặp Thiên Đồng thì ưa thích âm nhạc, dù gặp Thiên Cơ cũng chủ về có hứng thú nhiều lãnh vực, lấy đó để tiêu khiển. Chỉ đồng độ với Thái Dương là thiếu sinh hoạt tinh thần.

Hễ Thái Âm ở cung mệnh, lúc luận đoán cần phải xem kèm cung phúc đức, mà cung phúc đức ắt sẽ là Cự Môn toạ thủ, cát hung của nó có thể ảnh hưởng đến Thái Âm của cung mệnh, nhất là về phương diện hưởng thụ tinh thần. Thái Âm chủ về phú, nên ưa có Lộc Tồn hoặc Hoá Lộc đồng độ hoặc vây chiếu; trường hợp Lộc Tồn hoặc Hoá Lộc ở cung tam hợp là kế đó. Gặp Hoá Quyền, Hoá Khoa mà không gặp sao lộc, sẽ chủ về tài lộc do địa vị xã hội và học lực quyết định. Cho nên cần phải cực lực tranh thủ tiến bộ; gặp Văn Xương, Văn Khúc là chủ về thông minh; gặp Tả Phụ, Hữu Bật mới có thể làm tăng địa vị.

Thái Âm có bản tính hướng nội, nhưng nếu hướng nội thái quá sẽ chủ về tiêu trầm. Nó không ưa các sao Đà La, Linh Tinh, Hoá Kị, Âm Sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình. Nếu có các sao hình, hao tụ tập, sẽ chủ về chứng tự kỷ, thiểu năng trí tuệ, hoặc có tâm lý mặc cảm; nhất là ở bốn cung Dần, Thân, Mão, Dậu thì càng đúng.

Cổ quyết: “Thái Dương ở cung Tỵ, Thái Âm ở cung Dậu, an mệnh ở cung Sửu là chủ về phú, bước lên cung Hằng” (Nhật Tỵ Nguyệt dậu, an mệnh Sửu phú, bộ thiềm cung); “Thái Dương ở cung Mão, Thái Âm ở cung Hợi, an mệnh ở cung Mùi, phần nhiều đỗ đạt” (Nhật Mão Nguyệt Hợi, an mệnh Mùi cung, đa chiết quế). Đây là Thái Dương, Thái Âm miếu vượng, hội chiếu cung mệnh. Còn nói: “Thái Dương, Thái Âm cùng ở cung Mùi, an mệnh ở cung Sửu, là tài đến bậc hầu bá” (Nhật Nguyệt đồng Mùi, an mệnh Sửu, hầu bá chi tài). Đây là mệnh vô chính diệu, mượn “Thái Âm, Thái Dương” của cung Mùi để an sao, cũng bằng Thái Dương, Thái Âm hội chiếu. Hễ Thái Dương, Thái Âm hội chiếu, trong các tình hình thông thường thì tốt hơn Thái Dương, Thái Âm đồng cung. Vì tính chất của Thái Dương, Thái Âm đồng cung không hợp nhau, dễ sinh khuyết điểm.

Cung mệnh được Thái Dương, Thái Âm giáp, nếu Thái Dương và Thái Âm miếu vượng thì cũng chủ về phú quý. Giáp Thiên Phủ Hoá Khoa, hoặc Thiên Phủ đối nhau với Liêm Trinh Hoá Lộc là cát lợi; giáp Vũ Khúc, Tham Lang Hoá Lộc là kế đó.

Thái Dương ở cung Hợi, Thái Âm ở cung Mão, không phải là cách cục “phản bối”, các sách thường lầm. “Phản bối” là Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở cung Thìn. Cách cục “phản bối” chủ về rời xa quê hương, hay làm con nuôi người khác, nếu có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng cung, thì còn bé đã rời xa cha mẹ, sát tinh nặng chủ về bị bỏ rơi. Nếu lại gặp các sao phụ, tá cát, thì rời xa quê hương mà phát phúc.

Thái Âm không ưa có Kình Dương, Đà La cùng ở cung mệnh, chủ về gian khổ. Nếu Thái Âm Hoá Kị (hoặc hội sao kị, hoặc Thái Âm Hoá Kị bị Kình Dương, Đà La giáp cung), đều chủ về không có duyên với lục thân, cô quả linh đinh, còn chủ về dễ đầu tư sai lầm.

Thái Âm chủ về ẩn tàng, vì vậy cũng không nên có Địa Không, Địa Kiếp, Thiên không đồng độ. Mức độ không cát tường lớn hơn so với Thái Dương.

Thái Âm chủ về phú, cho nên rất ưa gặp sao lộc. Hoá Lộc là rất tốt, Lộc Tồn là kế đó. Thái Âm Hoá Quyền chỉ chủ về quản lý tài chính, hoặc nắm quyền tài chính, dù có thể phú cũng nhờ đó mà ra.

Thái Âm độc toạ ở hai cung Mão hoặc Dậu, ở cung dậu ưu hơn ở cung Mão rất nhiều. Có điều, nếu ở cung Mão gặp các sao phụ, tá cát mà không gặp sát tinh, lại được cát hoá, đây là cách cục “phản bối”, chủ về đại phú.

Đối với Thái Âm độc toạ ở hai cung Mão hoặc Dậu, các cung hạn Cự Môn, “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, Thất Sát, Thiên Cơ là những đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt. Cách cục “phản bối” thì không luận Thiên Cơ.

Thái Âm độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thái Dương và Thái Âm đều sáng, là thượng cách. Có điều, cần phải được cát hoá mới chủ về phú quý. Nếu không có sao cát, mà gặp sát tinh, sẽ chủ về danh lợi đều trống rỗng, hôn nhân cũng bất lợi.

Đối với Thái Âm độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn “Liêm Trinh, Tham Lang”, Cự Môn, “Vũ Khúc, Thất Sát”, Thiên Cơ là đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt.

Thái Âm độc toạ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, ở cung Tỵ phần nhiều dễ có những khuyết khuyết đáng tiếc; nữ mệnh chủ về chồng là người tính toán cho người khác nhiều hơn là tính toán cho mình; nam mệnh phần nhiều trôi dạt. Đây là do Thái Âm lạc hãm phát tán thái quá. Ở cung Hợi, gọi là “Nguyệt lãng thiên môn”, gặp sao lộc thì chủ về kiếm được tiền một cách bất ngờ mà thành đại phú.

Thái Âm độc toạ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, gặp các sao đào hoa và các sao sát, hình, kị, hao, chủ về nhiều âm mưu mà còn ham tửu sắc.

Đối với Thái Âm độc toạ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, các cung hạn “Thiên Đồng, Cự Môn”, Thất Sát, “Liêm Trinh, Thiên Phủ”, “Thái Dương, Thiên Lương” là những đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt.

IX. Tham Lang ở cung mệnh (thân)

Tham Lang chủ về vật dục lẫn sắc dục. Cho nên ưa Hoá Lộc, Hoá Quyền, không cần có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật cũng có thể phú quý. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, trái lại còn biến thành vật dục có ý vị phấn son bề ngoài, còn có ý vị xảo trá lừa dối. Tức là nói, ham muốn vật chất lợi về tranh thủ một cách đường đường chính chính, mà không ưa giấu giấu diếm diếm, che lấp lỗi lầm.

Ở phương diện sinh hoạt tinh thần, Tham Lang thích sự vật thần bí, nhất là tôn giáo, vu thuật. Ở thời cổ đại thường có biểu hiện là tu tiên, luyện đan; ở thời hiện đại, thì có sắc thái thần bí của tôn giáo.

Do Tham Lang có biểu hiện tranh thủ ham muốn vật chất, cho nên giỏi giao tế thù tạc, mà những cuộc giao tế này ắt sẽ có khuynh hướng tửu sắc. Có Liêm Trinh và Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, có thể diễn hoá thành thi tửu cầm kỳ.

Tham Lang toạ mệnh, không ưa Thất Sát thủ cung thân, cũng không ưa Phá Quân thủ cung thân; nếu hội sát tinh, thì chủ về trôi nổi, hiếu động, hiếu sắc, hoặc chủ về có thú vui không lành mạnh.

Tham Lang đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, chủ về phát đột ngột. Ở thời cổ đại chỉ có võ nghiệp mới dễ có công trạng một cách đột ngột. Cho nên cổ nhân nói “Tham Lang, Hoả Tinh ở cung miếu vượng, danh chấn các nước” (Tham Lang, Hoả Tinh cư miếu vượng, danh chấn chư bang). Ở thời hiện đại có thể luận đoán là phát một cách đột ngột.

Tham Lang Hoá Kị có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, sẽ chủ về bạo phát bạo bại. Không có Hoả Tinh, Linh Tinh, thì đây là thành công bất ngờ, tức là nói “vô tình cắm liễu, liễu xanh um”.

Tham Lang Hoá Kị, lưu diệu Hoá Lộc, cũng chủ về “vô tình cắm liễu, liễu xanh um”. Nếu Tham Lang Hoá Lộc, lưu diệu Hoá Kị, sẽ chủ về bị người ta chiếm đoạt lợi ích.

Tham Lang ở cung Tứ Mộ là nhập miếu. Cho nên cách cục “Hoả Tham”, “Linh Tham”, đều lấy trường hợp cung Tứ Mộ là tốt. Trường hợp Tham Lang độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Vũ Khúc, và trường hợp “Vũ Khúc, Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đều là thượng cách. Các trường hợp còn lại là kế đó.

Tham Lang ưa Hoả Tinh, Linh Tinh, lại không sợ sao không, cũng không sợ Thiên Hình. Tham Lang có sao không và Thiên Hình cùng bay đến, lại chủ về đoan chính. Thiên Hình chủ về tự kềm chế, nhưng vẫn không ưa có Địa Kiếp cùng bay đến, sẽ chủ về trắc trở.

Trong các sát tinh, Tham Lang chỉ không ưa Kình Dương, Đà La, sẽ chủ về tửu sắc. Tham Lang ở cung Tí thì đồng cung với Kình Dương; Tham Lang ở cung Hợi thì đồng cung với Đà La, đây gọi là “Phiếm thuỷ đào hoa”; Tham Lang ở cung Dần thì đồng cung với Đà La, gọi là “Phong lưu thái trượng”, đều chủ về vì sắc mà thất bại. Hai cách cục này nếu hội Thiên Hình, thì Thiên Hình không còn chủ về tự kềm chế, mà chủ về tai hoạ lao ngục.

Cách “Hoả Tham”, “Linh Tham” cũng không ưa gặp Kình Dương, Đà La, gặp chúng là “phá cục”. Dù lúc này Tham Lang Hoá Lộc, cũng chủ về sau khi hoạnh phát lập tức hoạnh phá. Nếu lại gặp các sao phụ, tá, sẽ chủ về trải qua nguy cơ, khốn khó mới lập được công danh.

Tham Lang độc toạ cung Thân, là ở chổ bị kềm chế. Nếu có các sao sát, kị và các sao phụ, tá tụ tập lẫn lộn, sẽ chủ về lúc đầu nghèo khổ, trải qua nguy khó mới phát đột ngột, nhưng sau khi phát đạt thì vì thú vui không lành mạnh mà phá tán, thất bại. Nếu chỉ gặp sát tinh, thì dễ đi vào con đường tà, đời người cũng vì vậy mà gặp nhiều khốn khó. Nếu chỉ gặp cát tinh, có thể phú quý, nhưng vẫn phải chú ý duy trì thành tựu đã đạt được. Cách cục “Hoả Tham”, “Linh Tham” ở cung Thân, tính chất bạo phát, bạo bại càng nặng.

Tham Lang độc toạ ở Dần cung, không có Kình Dương và Thiên Hình hội chiếu (nếu có sẽ chủ về bị hình phạt), thì lại không thành cách “phong lưu thái trượng”; nếu có cát tinh, cũng có thể thành quý cục, nhưng cuộc đời gặp sóng gió không ít; có sát tinh, thì sự nghiệp hưng thịnh, nhưng kiện tụng, phạm pháp cũng theo đó mà đến. Có điều, Tham Lang Hoá Kị thì chỉ chủ về làm các ngành nghề về công nghệ, khoa học kĩ thuật để mưu sinh.

Tham Lang độc toạ ở cung Tí, nếu không nhập cách “Phiếm thuỷ đào hoa”, mà có cát tinh, hoặc có Thiên Hình tương chế, cũng là phú cục, chủ về trung niên sẽ phát đạt.

Tham Lang ở cung Ngọ, gọi là “Mộc hoả thông minh”, không có các sao sát, kị, mà gặp cát tinh, đây là cách cự phú, hoặc là nhân vật quan trọng trong giới kinh tế tài chính. Gặp sát tinh thì bình thường, chỉ tiểu phú, nhưng tuyệt đối không nên đầu cơ.

Tham Lang độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, sau trung niên mới có thể phát đạt. Nếu có các sao sát, kị cùng đến, sẽ chủ về lúc trẻ nhiều nạn tai, bệnh tật. Khác với “Vũ Khúc, Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, “Vũ Khúc, Tham Lang” chủ về tuổi trẻ hưởng thụ (Xin xem lại tiết “Vũ Khúc ở cung mệnh”).

Người sinh năm Thân, Tí, Thìn, Tham Lang thủ mệnh ở cung Tí; người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, Tham Lang thủ mệnh ở cung Ngọ; người sinh năm Tỵ, Dậu, Sửu, “Vũ Khúc, Tham Lang” thủ mệnh ở cung Sửu; người sinh năm Hợi, Mão, Mùi, “Tử Vi, Tham Lang” thủ mệnh ở cung Mão; đều chủ về tham lợi nhỏ, có thị hiếu, thú vui không lành mạnh. Cổ nhân cho rằng đây là mạng “trộm cắp”. Thực ra đây là do tính chất ham muốn vật chất quá nặng. Nếu có các sao đào hoa bay đến, thì dục tình cũng sâu. Ưa gặp cát tinh, tính chất không lành sẽ giảm nhẹ; cũng ưa gặp Thiên Hình và sao không, gặp Thiên Hình thì có thể tự kềm chế, gặp sao không thì chủ về thanh bạch.

Hễ Tham Lang thủ mệnh, thì các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Thái Âm, Thái Dương, Cự Môn, Tử Vi là những đại vận hay lưu niên có tính then chốt.

Cách “Hoả Tham”, “Linh Tham”, phải đề phòng lưu niên có Hoá Kị trùng điệp xung khởi. Nếu lại gặp lưu sát tinh xung khởi, đây là điềm ứng nghiệm suy sụp nhanh chóng, nếu không cũng là năm dẫn đến suy sụp nhanh chóng.

Tham Lang rất kị đến cung hạn “Thái Dương, Cự Môn” giao thoa với Hoá Kị của niên vận, chủ về tai nạn, kiện tụng.

XI. Thiên Tướng ở cung mệnh (thân)

Người xưa luận Thiên Tướng, thường nhấn mạnh quá đáng phương tiện “tường hoà”. Thiên Tướng gặp thiện thì thành thiện, gặp ác thì thành ác. Ví dụ như “Tử Vi, Thiên Tướng” đồng độ, nếu có “bách quan triều củng”, thì Thiên Tướng sẽ phát huy lực tương trợ; nhưng nếu Tử Vi là “tại dã cô quân”, thì Thiên Tướng cũng có thể giúp Trụ phò ác.

Trong 14 chính diệu của Đẩu Số, chỉ có Thiên Tướng là rất xem trọng việc giáp cung. Bị các sao như Kình Dương, Đà La giáp cung; Hoả Tinh, Linh Tinh giáp cung; Địa Không, Địa Kiếp giáp cung; đều không cát tường. Phần nhiều chủ về thị phi, rối rắm, vất vả, bôn ba, đột nhiên xảy ra trắc trở. Xấu nhất là “Hình kị giáp ấn”, tức Cự Môn Hoá Kị và Thiên Lương giáp cung, chủ về phạm pháp, hình phạt (theo Vương Đình Chi, người xưa lầm là “Hình tù giáp ấn”, nên cho là Kình Dương và Liêm Trinh giáp cung). Nếu Văn Xương, Văn Khúc giáp cung; Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung; Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung; đều là điềm cát. Rất ưa “Tài ấm giáp ấn”, tức là Cự Môn Hoá Lộc đến giáp cung.

Người xưa nhấn mạnh “Thiên Tướng có thể hoá giải cái ác của Liêm Trinh”. Ở đây không phải nói tổ hợp tinh hệ “Liêm Trinh, Thiên Tướng”. Thiên Tướng toạ mệnh, đến cung hạn Liêm trinh toạ thủ, gặp sao cát thì cát, gặp sao hung thì giảm hung, cũng là điềm hoá giải cái ác.

Cục “Hình kị giáp ấn”, rất ngại Thiên Lương đồng độ với Kình Dương, là cách “Hình kị giáp ấn” khá hung. Vì đồng thời sẽ bị Kình Dương và Đà La giáp cung. Lúc này Thiên Tướng tuy đồng độ với Lộc Tồn, nhưng chủ về tiền bạc phá tán, khó tụ, mà còn dễ vì tiền bạc mà sinh điều tiếng thị phi, kiện tụng.

Thiên Tướng đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, lại gặp Kình Dương, Đà La giáp cung, hoặc “Hình kị giáp ấn”, chủ về lúc nhỏ bất lợi chủ về cha mẹ, hoặc làm con nuôi của người khác. Nếu cung phúc đức là Thất Sát lại hội các sao sát, hình, kị, hao, thì chủ về tàn tật.

Hễ Thiên Tướng toạ mệnh, nên xem kèm cát tinh của cung phụ mẫu. Vì Thiên Tướng cần được người phù trợ, cung phụ mẫu là cấp trên phù trợ. Lúc này cung phụ mẫu ắt là Thiên Lương, tối kị Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn, lại có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng cung, chủ về suốt đời không có hậu trường để nương dựa, mà bản thân lại khó tự sáng lập sự nghiệp. Có tài mà không gặp thời, thường thường là cách cục này.

Thiên Tướng gặp Văn Xương, Văn Khúc, thì không được gặp Hoá Kị và Kình Dương, Đà La mới cát. Nếu không, thì thông minh nhưng mệnh bạc, cũng là điềm có tài mà không gặp thời. Cổ nhân cho rằng, nếu là nữ mệnh là mạng tì thiếp, cũng có ý vị thông minh mà mệnh bạc.

Cổ nhân cho rằng, (Thiên Tướng) Tham Lang, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân Kình Dương, Đà La mà gặp nhau thì chủ về nhờ tay nghề khéo mà yên thân. Cổ quyết này trọng điểm là ở Liêm Trinh. Liêm Trinh gặp Thiên Tướng chủ về thông minh mẫn tiệp, lại có ý vị phục vụ. Cho nên gặp cát tinh thì thích hợp làm việc trong chính giới; nếu gặp Kình Dương, Đà La thì không nên làm việc trong chính giới, mà thích hợp làm việc hưởng lương, có thể theo ngành nghề công nghệ, khoa học kỹ thuật. Chỉ trường hợp Thiên Tướng ở hai cung Mão hoặc Dậu mới có cách cục này.

Thiên Tướng ở cung mệnh của lưu niên, cũng mẫn cảm đối với các sao cát, hung. Vì vậy không nên gặp các lưu diệu như Tang Môn, Điếu Khách, Bạch Hổ, Đại Hao, Quan Phù; ưa gặp các sao cát như Thanh Long, Tấu Thư, Long Đức, Thiên Đức.

“Thiên Tướng, Vũ Khúc” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, xin tham khảo đoạn “Vũ Khúc, Thiên Tướng” thuật ở trước.

Thiên Tướng độc toạ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, rất ưa có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ; nếu cung kế cận là Thiên Đồng Hoá Kị, tuy không thành cách “Hình kị giáp ấn”, nhưng cũng không tốt, chủ về tuy có hậu trường để dựa dẫm, nhưng thường thường vào lúc quan trọng thì lại không được trợ lực, cũng là điềm tượng có tài mà không gặp thời. Lúc này nếu có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, sẽ chủ về tuy không được bậc trên trước nâng đỡ, trợ lực, nhưng lại được bạn bè chi viện. Thiên Tướng cũng ưa “bách quan triều củng”, đây là ý tể tướng chỉ dưới một người mà trên vạn người. Nhưng rốt cuộc thì bị cấp trên gây trắc trở.

Thiên Tướng ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có “Tử Vi, Phá Quân” vây chiếu, cho nên cũng chủ về nặng thành kiến, chủ quan. Nếu có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, thường vì thành kiến chủ quan mà chuốc thất bại.

Thiên Tướng độc toạ hai cung Mão hoặc Dậu, gặp các sao sát, kị thì chỉ nên theo ngành công nghệ hay kỹ thuật để mưu sinh. Được cát hoá và có sao cát, chủ về dùng kỹ năng chuyên môn để khởi nghiệp.

Thiên Tướng độc toạ hai cung mão hoặc Dậu, ưa gặp các sao tài nghệ, như Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các; gặp Tấu Thư cũng cát. Nếu đồng thời lại gặp sát tinh và Văn Xương, Văn Khúc Hoá Kị, thì đây là thanh khách của nhà giàu thời cổ đại.

Trong các tình huống thông thường, Thiên Tướng độc toạ hai cung Mão hoặc Dậu thì nên gặp sao lộc, thì tài cao nghề giỏi, có thể lập thân, trở nên giàu có. Nhưng cuối cùng dễ bị người ta gây trắc trở hoặc điều khiển.

Thiên Tướng độc toạ hai cung Tỵ hoặc Hợi, đối cung là “Vũ Khúc, Phá Quân” cần phải gặp sao lộc hoặc Hoá Lộc, mới cát; nếu không, là bất ổn, tiêu cực; rất ưa Vũ Khúc Hoá Lộc vây chiếu.

Thiên Tướng ở cung Hợi, nếu đối cung là Vũ Khúc Hoá Kị, thì Thiên Tướng ắt sẽ bị Kình Dương và Đà La giáp cung. Trong các tình huống thông thường, Thiên Tướng không sợ Kình Dương, Đà La giáp cung. Nhưng trong tình hình này thì lại đại bất lợi, phần nhiều chủ về sắp thành lại hỏng, tài lực không đủ để chi lúc khẩn cấp.

Nữ mệnh Thiên Tướng độc toạ, chủ về nên lấy chồng lớn tuổi; nếu không, nhỏ hơn một hai tuổi cũng thích hợp.

Nữ mệnh Thiên Tướng, cũng là “phu xướng phụ tuỳ”, nên giúp chồng sáng lập sự nghiệp.

Hễ Thiên Tướng độc toạ, các cung hạn có Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Kị là những đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt. Đến các cung hạn bị “Hình kị giáp ấn”; Kình Dương, Đà La giáp cung; Hoả Tinh, Linh Tinh giáp cung; Địa Không, Địa Kiếp giáp cung; Thiên Thương, Thiên Sứ giáp cung; hoặc Văn Xương, Văn Khúc giáp cung; Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung; hay các cung hạn có Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa bị ác hoá; ứng nghiệm cát hung đều rất mẫn cảm.

XIII. Thất Sát ở cung mệnh (thân)

Thất Sát đồng cung với Tử Vi hay đối nhau với Tử Vi, đều hoá làm sao quyền. Nếu gặp Tử Vi Hoá Quyền, thì quyền quá nặng, chưa chắc có lợi. Đến các đại hạn hay lưu niên này ắt không cát tường, cần đề phòng xảy ra thất bại. Rất ghét gặp cung hạn Vũ Khúc Hoá Kị.

Thiên Lương chủ về “phong tục, luật pháp”, Thất Sát cũng chủ về “phong tục, luật pháp”, nên cũng chủ về “hình pháp, kỉ luật”. Có điều, Thiên Lương thuộc văn, Thất Sát thuộc võ; Thiên Lương có thể lui về hậu trường, Thất Sát thì bước lên phía trước. Cho nên Thiên Lương có thể nhuyễn hoá thành “giám sát”, Thất Sát thì nhuyễn hoá thành “quản lý”.

Cổ nhân nói: “Hai cung mà gặp nó, định phải trải qua gian khổ”. (Nhị cung phùng chi, định lịch gian tân.), tức là hai cung mệnh và thân mà gặp Thất Sát, đời người ắt sẽ có một thời kỳ gian khổ. Đại khái là, Thất Sát rất kị đến hai cung hạn Thiên Cơ, Cự Môn toạ thủ; cần phải có hành động thiết thực để qua giai đoạn này, mới có thể hởi lòng hởi dạ.

Thất Sát ắt sẽ đối nhau với Thiên Phủ, Thất Sát chủ về công, Thiên Phủ chủ về thủ, hai sao kềm chế lẫn nhau, cần phải xem ảnh hưởng của hai bên như thế nào. Ví dụ như Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân có Lộc Tồn đồng độ, đối cung là “Tử Vi, Thiên Phủ”, mà Thiên Phủ được Lộc Tồn vây chiếu, cho nên lợi về thủ, mà bất lợi về công. Lúc này Thất Sát tuy chịu ảnh hưởng của Tử Vi ở đối cung, quyền lực của nó cũng nên có khuynh hướng bảo thủ, rất nên phát triển trong cục diện hiện có, mà không nên lập ra cục diện mới, cũng không nên có nhiều thay đổi.

Thất Sát kị Hoả Tinh, Linh Tinh, kị nhất là tổ hợp “Kình Dương, Hoả Tinh”, hay “Kình Dương, Linh Tinh”. Trong hai nhóm, “Kình Dương, Linh Tinh” là rất xấu; nếu có Thiên Hình đồng độ, gặp các sao Âm Sát, Đại Hao, Thiên Hư, sẽ chủ về phạm pháp hình sự.

Thất Sát ở cung miếu vượng, gặp “Kình Dương, Hoả Tinh” thì còn được, chỉ chủ về lực kích phát, đời người không ngừng trắc trở nhưng có thể nhờ đó mà tiến bộ. Nếu gặp “Kình Dương, Linh Tinh”, thì có ý vị lụn bại dần dần, ở hãm địa thì càng nặng, còn chủ về không có duyên với lục thân, cuộc đời ít được trợ lực.

Thất Sát không nên chỉ hội Văn Xương, Văn Khúc, mà không hội các sao phú, tá cát khác. Nếu không, thì càng thông minh càng độc đoán, không chịu nghe ý kiến của người khác, thường là do mệnh tạo gây ra trắc trở.

Thất Sát rất ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt; thậm chí đến các cung hạn có Lưu Khôi, Lưu Việt vây chiếu hay hội hợp, thường thường đây cũng là cơ hội chuyển biến theo hướng tốt.

Thất Sát cũng ưa gặp sao lộc, ưa nhất là gặp Phá Quân Hoá Lộc, chủ về đời người trải qua một lần chuyển biến quan trọng mà được phú quý; kế đến là Tham Lang Hoá Lộc, cũng có thể được vinh hoa, nhưng đề phòng phú quý không lâu dài; Vũ Khúc Hoá Lộc cũng tốt, nhưng cách cục kém hơn.

Thất Sát đối nhau với Thiên Phủ, là đã có hàm nghĩa gây trở ngại lẫn nhau, là mâu thuẫn về tính chất. Cho nên lúc Thất sát có các sao sát, hình, không, hao đồng độ, thường dễ vì gặp trắc trở mà cảm thấy đời người là hư ảo, phần nhiều vì vậy mà có khuynh hướng tôn giáo, bước vào cửa Phật, Đạo. Có điều, nếu Thiên Phủ gặp sao lộc, thì trước sau vẫn tham luyến duyên trần.

Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có “Vũ Khúc, Thiên Phủ” vây chiếu, gặp sao lộc thì “tài tinh” Vũ Khúc có gốc rễ, có thể điều hoà khí chất của Thất Sát. Cho nên có thể nhuyễn hoá thành người trong giới làm ăn kinh doanh. Nếu là người nắm quyền về kinh tế tài chính mà không có sao lộc, chỉ cần không có các sao sát, kị, hình, cũng chủ về được bậc trưởng thượng dùng tài lực giúp đở, đây là được dư khí che chở.

Bởi vì liên quan đến “sự che chở”, cho nên Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ đặc biệt ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật. Nếu đến đại vận hoặc lưu niên có Lưu Khôi, Lưu Việt xung khởi Thiên Khôi, Thiên Việt của nguyên cục, thì vận hạn hay niên hạn này, đại khái có thể xem là cát lợi, chủ về được người tri ngộ; nhưng nếu có các sao sát, kị, hình hội hợp thì thuộc ngoại lệ.

Nếu Thất sát ở cung Ngọ, thành cách “Hùng tú kiền nguyên”, thì đại kị có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ. Cách cục này là hoả luyện âm kim, gặp Hoả Tinh, Linh Tinh thì hoả hầu quá lớn, không những đời người gian khổ, mà e rằng còn bị tàn tật. Trường hợp thành cách, cũng ưa đến các đại vận hoặc lưu niên có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt.

Thất Sát ở cung Tí không thành cách “Hùng tú kiền nguyên”, vì Tí là phương Bắc thuộc thuỷ, thuỷ có thể khắc hoả. Dù có Hoả Tinh, Linh Tinh đồng độ, cũng chỉ chủ về bôn ba vất vả, nhưng không đến nỗi phá cách.

Trường hợp thành cách “Hùng tú kiền nguyên”, rất ưa Liêm Trinh Hoá Lộc, là thượng cách. Chủ về sức sống mạnh, mà còn kiên nghị trác tuyệt, trải qua phấn đấu mà thành đại nghiệp. Vận phát đạt ắt sẽ ở cung hạn Phá Quân toạ thủ. Năm phát đạt ắt sẽ ở cung hạn Liêm Trinh hoặc Tham Lang toạ thủ.

Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không thành cách hoặc phá cách, lại không nên đến cung hạn Liêm Trinh, chủ về hôn nhân gặp nhiều sóng gió, trắc trở; cũng không nên đến cung hạn “Thiên Cơ, Cự Môn” toạ thủ, thường thường là giai đoạn thất bại.

Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với “Tử Vi, Thiên Phủ”, không ưa Tử Vi Hoá Quyền, mà rất ưa Tử Vi Hoá Khoa, Thiên Phủ Hoá Khoa. Tử Vi Hoá Khoa chủ về công, Thiên Phủ Hoá Khoa chủ về thủ.

Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, là người độc đoán; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì vì thông minh mà phạm sai lầm; gặp Lộc Tồn đồng độ, khí mà hoà hoãn thì thành cách cục tốt, nhưng tính độc đoán càng nặng. Lúc luận đoán phải chú ý điểm này, cần phải xem xét kỹ cung phúc đức và cung phu thê, để xác định phẩm tính của mệnh cục. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hậu vận.

Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Hoả Tinh, Linh Tinh thì nóng nảy, bộp chộp.

Đối với Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, các cung hạn “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, Cự Môn, Phá Quân, Thái Dương là những đại hạn hoặc lưu niên có tính then chốt.

Thất sát ở cung Thân, “Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở cung Ngọ dù không thành cách “Hùng tú kiền nguyên” (vì Thất sát thuộc kim, cung Thân cũng thuộc kim; Liêm Trinh thuộc hoả, cung Ngọ cũng thuộc hoả, hai khí kim hoả về gốc, thành mỗi bên một khí, không có tác dụng hổ tương), nhưng vẫn ưa hai cung hạn Liêm Trinh Hoá Lộc và Phá Quân Hoá Lộc, đây là giai đoạn phát đạt.

Thất sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, có “Liêm Trinh, Thiên Phủ” vây chiếu, thì nặng lý trí hơn “Liêm Trinh, Thất Sát” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, nhưng phần nhiều đều có tư tưởng đặc biệt. Cho nên rất kị có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp, nếu không, người ta sẽ khó mà hiểu được họ, vì cảm thấy đời người thiếu tri kỷ, nên thành người cô độc, thậm chí nhiều không tưởng, thiếu thực tế.

Thất sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp Văn Xương, Văn Khúc còn được, nhưng cần phải gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hoặc Tả Phụ, Hữu Bật, mới có thể phú quý. Nhưng nếu Tham Lang Hoá Lộc đến hội hợp (chú ý, Tham Lang cũng ảnh hưởng cung phúc đức), e rằng dục vọng khó thoả mãn, thế là, tuy phú quý nhưng cũng nhiều vất vả.

Đối với Thất sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn “Vũ Khúc, Thiên Tướng”, “Thiên Đồng, Cự Môn”, Tham Lang, hoặc cung hạn có tinh hệ vây chiếu thuật ở trên, là những đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt.

Thất Sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nếu cung phúc đức là Tử Vi Hoá Quyền, ắt sẽ bất lợi trong hôn nhân, nhất là nữ mệnh, thường chủ về không có sinh hoạt hôn nhân, hay thiếu lạc thú vợ chồng (vì bận rộn, hoặc vì người bạn đời bệnh tật, cần phải xem tổ hợp sao thực tế mà định).

Đại khái là, Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ thiết thực hơn Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, hay Thất Sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất. Phân biệt các tính chất nhiều dục vọng hay giữ nguyên tắc của các nhóm tinh hệ liên quan đến Thất Sát thủ mệnh, cũng giúp ích cho việc luận đoán. Cho nên, ảnh hưởng của tổ hợp tinh hệ Tham Lang đối với Thất Sát như thế nào, thường thường có quan hệ rất lớn, gặp “Hoả Tham”, “Linh Tham”, càng chủ về dễ phát dễ phá.

XIV. Phá Quân ở cung mệnh (thân)

Phá Quân có sao lộc rất tốt, là có gốc rễ, có thể tiêu trừ khuyết điểm hao tổn, phá tán của Phá Quân, làm tăng năng lực sáng tạo. Phá Quân Hoá Quyền ở cung Dần, có Lộc Tồn đồng độ cũng cát, có điều, tuy phú quý nhưng đời người ắt sẽ có khiếm khuyết. Ví dụ như bản thân sức khoẻ không tốt…Phá Quân Hoá Quyền ở cung Thân, có Lộc Tồn vây chiếu, cũng có cùng tình huống.

Phá Quân gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, chủ về phú quý, nhưng quý lớn hơn phú, tức tiền bạc nhờ địa vị mà có. Nhưng nếu có tứ sát lẫn lộn trong đó, thì thích hợp làm việc trong ngành công thương nghiệp; nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc mà có sát tinh, người này là hàn sĩ mang tâm trạng có tài mà không gặp thời. Nếu gặp sát tinh nặng mà cát tinh nhẹ, thì nên theo ngành công nghệ, hoặc làm công nhân chuyên nghiệp.

Phá Quân ở ba cung Hợi, Tí, Sửu, đều không nên có Văn Khúc đồng độ, ngại nhất là Văn Khúc Hoá Kị, chủ về tuổi trẻ rời xa quê hương, hoặc bị tàn tật, hoặc trắc trở nghiêm trọng. Cổ nhân nói: “Cùng với Văn KHúc vào thuỷ vực, thì tàn tật rời xa quê hương.” (Dữ Văn Khúc nhập vu thuỷ vực, tàn tật ly hương.), là nói lý luận này, “thuỷ vực” là nói 3 cung Hợi, Tí, Sửu, thuộc hành thuỷ.

Phá Quân sợ Kình Dương, Đà La hơn là sợ Hoả Tinh, Linh Tinh. Gặp Hoả Tinh, Linh Tinh chủ về vất vả, bôn ba mà thôi; gặp Kình Dương, Đà La thì có hoạ tai, cũng chủ về cuối mang tật, hoặc nhiễm thú vui không lành mạnh.

Phá Quân có đặc tính thừa kế cái cũ mà đổi mới, cho nên phần nhiều đều làm kiêm nghề, hay kiêm nhiều chức vụ khác nhau. Hoá Lộc sẽ chủ về nhờ sự nghiệp cũ mà có sự nghiệp mới, mà còn đồng thời kinh doanh cả hai, mới lẫn cũ.

Lực phá hoại của Phá Quân tuy lớn, nhưng lại khác với Thất Sát, lực phá hoại của Phá Quân chủ về xảy ra thay đổi lập tức, biểu hiện chủ yếu là “thà là ngọc nát, chứ không chịu là gạch ngói nguyên vẹn”, cho nên có tính chất hao tán. Nếu đồng độ với Kình Dương, tức là “hình hao”, thường thường làm mạnh thêm ý vị “thà là ngọc nát”.

Phá Quân cũng ưa đồng độ với Tử Vi, hoặc có Tử Vi vây chiếu, chủ về có quyền, nhưng khác quyền của “Tử Vi, Thất Sát”. Quyền của “Tử Vi, Phá Quân” là ở phương diện lớn, mở rộng; còn quyền của “Tử Vi, Thất Sát” chỉ thuộc phạm vi nhỏ, nội bộ, như quản đốc công xưởng. Một công, một tư, một lớn, một nhỏ; cần phân biệt tỉ mỉ.

Hễ Phá Quân ở cung mệnh hay cung thân, bất kể cát tinh hội hợp như thế nào, ắt cũng không toàn mỹ. Phú thì không quý, hoặc quý thì không phú, hoặc vợ (chồng) bất toàn, hoặc mắc bệnh mạn tính, phá tướng.

Phá Quân Hoá Lộc mà gặp các sao sát, hình; nữ mệnh chủ về giải phẩu thẩm mỹ, nam mệnh chủ về bị tổn thương làm phá tướng phải giải phẩu thẩm mỹ.

Phá Quân thủ mệnh, chủ về tay trắng lập nên sự nghiệp, nhưng khác với Thiên Đồng là phá sạch tổ nghiệp rồi mới lập nên sự nghiệp. Phá Quân có thể nhờ sự che chở, giúp đỡ của cha mẹ, rồi tự khai sáng, cải cách mà tạo sự nghiệp.

Phá Quân ắt sẽ đối nhau với Thiên Tướng, Thiên Tướng ngoại trừ bị ảnh hưởng của các sao Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung ra, còn bị ảnh hưởng của Phá Quân cũng khá lớn. Do người Phá Quân thủ mệnh phần nhiều đều rời xa quê hương, vì vậy cát hung của Phá Quân có thể ảnh hưởng đến cát hung của Thiên Tướng ở cung thiên di. Mức độ chịu ảnh hưởng của Thiên Tướng cũng quan hệ rất lớn đến đời người, cho nên không thể xem thường cung thiên di.

Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, Liêm Trinh có thể hoà với khí của Phá Quân, vì vậy nếu được cát hoá và có sao cát thì có thể phú quý. Có điều, nếu Liêm Trinh Hoá Kị, hoặc Thiên Tướng bị “Hình kị giáp ấn” thì thành bại cục.

Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, được cát hoá, gọi là cách “Anh tinh nhập miếu”, rất ưa đối cung là Thiên Tướng gặp sao lộc, ở thời cổ đại chủ về lập công ở biên cương, hoặc là trọng thần quân lữ. Ở thời hiện đại thì chủ về đột nhiên hưng phát sự nghiệp, cho nên cũng có thể thành nhân tài lãnh đạo công ty.

Cách cục “Anh tinh nhập miếu” bắt đầu phát đạt ở vận Thái Âm hoặc vận Thiên Đồng; nhưng không nên đến lưu niên Phá Quân, cũng không ưa đến cung hạn Vũ Khúc Hoá Kị, hoặc Liêm Trinh Hoá Kị, cung hạn chỉ hơi có chút sát tinh, thì không toàn mỹ. Vì vậy nên xem xét kỹ những khiếm khuyết ở 12 cung.

Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ mà không thành cách “Anh tinh nhập miếu” thì không có duyên với lục thân, việc gì cũng phải đích thân làm, mà còn dễ mắc bệnh.

Đối với Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, các cung hạn “Tử Vi, Thiên Phủ”, Cự Môn, Vũ Khúc, Thiên Lương toạ thủ, là những lưu niên có tính then chốt. Đại vận thì xem các cung hạn Vũ Khúc, hoặc “Tử Vi, Thiên Phủ” là có tính then chốt. Vũ Khúc và Thiên Phủ là hai sao tiền tài, nếu Phá Quân của nguyên cục không có sao lộc, mà gặp sát tinh, thì cũng có thể bổ cứu; nếu không gặp sao lộc mà gặp sát tinh, thì vận trình cuộc đời nhiều trắc trở.

Phá Quân ở hai cung Dần hoặc Thân, hội “Hoả Tham”, “Linh Tham”, chủ về cuộc đời gặp nhiều sóng gió, trắc trở rất lớn, bạo phát bạo bại, hoạnh phát hoạnh phá. Nguyên do gây ra thất bại thường là vì quá chủ quan, lại cố xuất đầu lộ diện, hoặc không tự lượng sức đi cạnh tranh người khác.

Đối với Phá Quân ở hai cung Dần hoặc Thân, hai cung hạn Thiên Cơ, “Liêm Trinh, Thiên Phủ” là có tính then chốt. Nếu cung hạn cát thì hậu vận cũng khá thuận lợi toại ý. Nếu không, năm cung hạn hội hợp Vũ Khúc Hoá Kị, hoặc Thiên Tướng bị “Hình kị giáp ấn” thì sẽ suy sụp nhanh chóng, mà có thể từ đó không còn đứng lên được.

Phá Quân và Tham Lang mà gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, cổ nhân cho rằng, nam phần nhiều phóng đãng, nữ phần nhiều đa dâm, tức là nói Phá Quân ở hai cung Dần hoặc Thân, hội Tham Lang. Rất kị có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, sẽ chủ về cuộc đời cô độc, nếu đối cung là “Vũ Khúc, Thiên Tướng” hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc mà còn kèm sát tinh, ở thời cổ đại là mạng lang thang khắp nơi.

Đối với Phá Quân ở hai cung Dần hoặc Thân, đại khái các cung hạn “Vũ Khúc, Thiên Tướng”, “Thái Dương, Thiên Lương”, “Thiên Đồng, Cự Môn”, “Liêm Trinh, Thiên Phủ” là lưu niên hay đại hạn có tính then chốt.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chịu ảnh hưởng của đối cung là “Tử Vi, Thiên Tướng”, cho nên danh lớn hơn lợi. Cổ nhân nói: “Gặp Tử Vi thì mất uy quyền” (Phùng Tử Vi tắc thất uy quyền.), tức là nói trường hợp này. Vì vậy, tuy có danh vọng, cũng chỉ thuộc hư danh, chẳng có thực quyền, thực chức.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp các sao sát, hình, hao, thì phần nhiều đều có cuộc đời cô độc, mà hôn nhân cũng không cát tường, sinh ly hay tử biệt, còn chủ về thân mang bệnh tật. Trường hợp chỉ có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, mà không có các sao phụ, tá cát khác, thì cuộc đời bần hàn. Phá Quân cần phải được Hoá Lộc, Hoá Quyền mới là cát lợi, Thất sát kèm sao lộc đến hội cũng cát, có thể giàu có.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nữ mệnh, nếu Liêm trinh Hoá Kị hoặc Tham Lang Hoá Kị ở cung phu thê, chủ về tái giá.

Đối với Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn Thất Sát, Tham Lang, “Tử Vi, Thiên Tướng”, “Thiên Cơ, Cự Môn” là những lưu niên hay đại hạn có tính then chốt.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp “Hoả Tham”, “Linh Tham”, phát cũng chỉ chủ về danh mà không chủ về lợi.

(Nguồn: sưu tầm)

Thiên Diêu

0

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Sao Thiên diêu thuộc âm thủy, hóa khí là phá hao, chủ về đào hoa, phong lưu

.

Sao Thiên diêu tọa mệnh, chủ đa nghi, sợ cô đơn, tư tưởng, sớm trưởng thành, tình cảm phong phú, đa tài đa nghệ, rất chú trọng quan tâm đến hình thức bên ngoài, có phong cách độc đáo, thông minh lanh lợi, có khiếu hài hước, quan hệ rộng thích giao tiếp, có sức hấp dẫn đối với người khác giới, có năng khiếu nghệ thuật.

Sao Thiên diêu nhập miếu, chủ về lịch sự phong nhã, có diễm phúc (làm bạn với người đẹp), có tài nghề giầu sang, nếu đóng tại Hợi sẽ có học thức. Nếu rơi vào cung hãm chủ về đa tình, đa nghi thái quá, dễ đi lầm đường, đam mê tửu sắc.

Sao Thiên diêu gặp phải ác tinh, chủ về khuynh gia bại sản, vì sắc dục mà phạm tội. Đại hạn, tiểu hạn, hoặc lưu niên có Thiên diêu đến, chủ về hôn nhân tùy tiện không cần mai mối, không cần nghi thức kết hôn. Cần phòng tai họa về sông nước, tái hôn.

Sao Thiên diêu ở tại Mão Dần Tuất Hợi là nhập miếu, tại Thân Tí Thìn Dần Tỵ Ngọ bình thường, ở tại Sửu Mùi là hãm.

Sao Thiên diêu nhập miếu lại gặp Cát tinh chủ về siêu phàm thoát tục, có lợi cho các lĩnh vực văn hóa văn nghệ, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật thiết kế.

Sao Thiên diêu là sao đào hoa, đã là sao đào hoa đều chủ về tính cách “thay lòng đổi dạ”, khó nắm bắt, nhanh nhạy thông minh, nhiều toan tính, kết duyên đào hoa nhanh chóng, phóng khoáng dạn dĩ, yêu hết mình, dám làm dám chịu, giầu sáng tạo thích hợp với ngành nghê năng động. Nhưng thiếu ổn định, nên dễ nản chí, thường không theo đuổi được việc gì lâu dài.
Phong cách độc đáo của sao Thiên diêu rất có sức hấp dẫn đối với người khác giới, đồng thời sao Thiên diêu cũng rất yêu bản thân mình, khao khát được người khác giới khẳng định, nhưng cũng chỉ là tình cảm thoáng qua.

Thiên diêu đóng tại cung Thân cung Mệnh, chủ về áp dụng tài năng vào trong công việc một cách thuận lợi, công việc thường có liên quan đến người khác giới, như phim ảnh biểu diễn, quân áo, trang sức.

Nếu Thiên diêu nằm cùng cung với sao Tử vi tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu, là thuộc vào cách “đào hoa phạm chủ”, chủ về phong lưu, đề phòng bệnh về máu. Thiên diêu đồng cung với Hữu bật, chủ về gặp nhiều rắc rối, mắc mớ về đường tình duyên. Thiên diêu lại gặp các sao đào hoa như Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Mộc dục, cần phải hết sức thận trọng với chuyện tình cảm sắc dục, nếu không sẽ phải nhận lấy hậu quả đau buồn.

Cung vị tam phương của Thiên diêu nếu gặp Tham lang, Liêm trinh, Mộc dục, chủ về chết yểu. Khi Thiên diêu đồng độ với Kình dương, cũng cần đề phòng chết non.

Thiên diêu nằm cùng với tứ sát, hoặc gặp Hóa Kị, chủ về tán gia bại sản vì cờ bạc, tửu sắc, dễ gặp rắc rối vì người khác giới

Thiên diêu hợp với cung Thiên di, chủ về ra ngoài được quý nhân phù trợ, Thiên diêu không hợp với cung Phúc đức chủ về thân tâm vất vả, lại gặp rắc rối về tình cảm.

Trung châu Tam hợp phái – Vương Đình Chi

Thiên diêu thuộc âm thủy, chủ về đào hoa, có duyên gặp gỡ, hoặc có tính chất “tiếng sét ái tình“, gặp thêm Hàm trì, Đại hao, Mộc dục, chủ về làm mạnh thêm bệnh của Thiên diêu, như hiếu sắc, trùng hôn (tức cùng lúc có hai ba người), bệnh về tính dục. Gặp thêm Hồng loan, Thiên hỷ thì có thể giảm nhẹ những bệnh này.

Thiên diêu không ưa thủ mệnh ở tại Sửu hoặc Mùi, chủ về dễ quyến luyến chốn phong hoa tuyết nguyệt.

Văn xương, Văn khúc đồng độ với Thiên diêu, ắt là người phong lưu ưa thiết thực, tự đánh giá mình quá cao.

Thiên diêu hội các sao Sát Kị, sẽ làm mạnh thêm tính chất vì sắc mà gây nên họa, xem xét kỹ tổ hợp tinh hệ chính diệu và xem ở cung nào mà định. Nếu ở cung Tài bạch, chủ về vì tử sắc mà phá tài; ở cung Điền trạch chủ về sản nghiệp của ông bà hay cha mẹ bị phá tán; ở cung Phu thê chủ về trùng hôn, tái hôn; ở cung Phúc đức chủ về tư tưởng thường hay bị hỗn loạn, không thể trầm tĩnh.

Thiên diêu thủ cung Thiên di, có sao Cát cùng bay đến, tổ hợp tinh hệ chính diệu cũng cát, chủ về đi xa, chuyển dời đến nơi khác sẽ gặp nhiều cơ hội, và được người ở tha hương trợ lực.

Cung có Thiên diêu tọa thủ, có Mộc dục, Hàm trì, Đại hao đồng độ, lưu niên mà gặp chúng, chủ về gặp chuyện đau khổ mang tính chất đào hoa.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Thiên Hình

0

Tử Vi Đẩu Số toàn thư

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên hình thuộc dương hỏa, hóa khí là cô khắc, chủ về hình thương, kiện tụng, cô độc. Sao Thiên hình nhập miếu sẽ trở thành thần Thiên hỷ, có tài cán quyền uy, chưởng quản binh quyền. Nếu gặp sao Thái dương chủ về phát võ nghiệp. Gặp Văn xương, Văn khúc, chủ về nắm quyền trấn giữ biên cương.

Sao Thiên hình nhập vào cung Mệnh cung Thân, chủ về tướng mạo anh tuấn, uy vũ bất khuất, có tài cán, nhưng cá tính kiên ngạo cô độc khó gần, có tư tưởng và quan niệm giá trị độc đáo khác người, không có duyên với người thân, ưa thích đoán mệnh hoặc tự nghiên cứu mệnh lý, có duyên với Thần, Phật. Chỉ khi nhập miếu tại bốn cung Dần, Mão, Dậu, Tuất, lại gặp thêm Cát tinh, mới chủ về cát lợi, và có thể nắm quyền lực lớn. Tại sáu cung Tuất, Hợi, Tí, Thìn, Tỵ, Ngọ là bình thường. Tại hai cung Sửu và Mùi là lạc hãm. Nếu hai hạn gặp phải, chủ về xuất gia, kiện tụng, mất mát phá sản. Thiên hình có tính “đột ngột, bất ngờ” ví như hỏa hoạn, cần đặc biệt đề phòng tai họa do Thiên hình gây ra.

Sao Thiên hình nhập mệnh, chủ về tích cực, biết nắm bắt trọng điểm, thiên ác phân minh, tuân thủ pháp luật và chế độ, anh hoa phát tiết ra ngoài, nhưng có nhược điểm về ngôn ngữ và hành vi, dễ bị người khác hiểu lầm.

Sao Thiên hình là sao chủ về “nợ nần”, nếu nhập vào các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan, thường có hiện tượng “tiền của đến rồi lại đi”, mà thành ra tiền của quay vòng.

Khi Thiên hình nhập miếu, ưa gặp sao Thái dương, ngoài ra cũng hợp với các sao Tử vi, Thiên tướng, Thiên lương, Tham lang, Cự môn. Nếu theo những ngành nghê pháp luật, y khoa, quân đội, cảnh sát, tôn giáo, chủ về sẽ có thành tựu. Thiên hình tốt nhất nên gặp Văn xương, Văn khúc tại cung vượng, sẽ phát cả về nghiệp văn và nghiệp võ, chủ về thành danh, có thể trở thành quan tòa hoặc thầy thuốc nổi tiếng. Nếu Thiên hình đồng cung với sao Kình dương, lại gặp sát tinh, Hóa Kị, khó tránh khỏi tai họa mà tổn thương đến thân.

Trung châu Tam hợp phái – Vương Đình Chi

Thiên hình là sao của Trung Thiên, thuộc dương hỏa, chủ về cô độc và hình khắc, lại còn chủ về hình phạt. Cát thì chủ về tự kiềm chế. Ưa các sao cát, ưa nhất là Văn xương, Văn khúc. Ưa ở các cung Dần Ngọ Tuất, Thân Tí Thìn. Kị các sao hung, kị nhất là ở hai cung Sửu và Mùi.

Thiên hình thuộc dương hỏa, Thiên diêu thuộc âm thủy, Thiên hình chủ về tự kềm chế, Thiên diêu chủ về phóng túng, là cặp sao đôi có bản chất trái ngược nhau.

Thiên hình ưa Văn xương, Văn khúc kết thành đôi hội chiếu hoặc đồng độ, chủ về tự kềm chế mà không có sát khí. Nếu Thiên hình ở các cung Dần, Mão, Dậu, Tuất là nhạp miếu, gặp Văn xương, Văn khúc, cổ nhân gọi là “chấp chưởng biên cương“, nhưng lại không phải là võ tướng, phần nhiều chủ về chức võ mà nghiệp văn, tương tự như ngành Hải quan ngày nay.

Thiên hình hội với Thái dương và Cự môn đồng độ, là sao “chấp chưởng hình pháp“.

Thiên hình hội hợp với Thái dương Thiên lương đồng độ, gặp thêm các sao Sát Kị, lại chủ về phạm pháp kiện tụng, mà không chủ về “chấp chưởng hình pháp“, không giống trường hợp hội hợp với Thái dương Cự môn.

Tử vi hội Tham lang ở hai cung Tý hoặc Ngọ, hoặc đồng độ với Tham lang ở Mão hoặc Dậu, ưa gặp Thiên hình, không phải là “đào hoa phạm chủ”, mà chủ về có thể tự kềm chế.

Vũ khúc Thất sát đồng độ cùng với Kình dương, lại có Thiên hình cùng bay đến, cổ nhân nói “dùng dụng cụ sắc bén để kiếm tiền, như thợ cắt tóc, đồ tể“, thời hiện đại cũng có thể là bác sỹ ngoại khoa, nha sỹ.

Thiên hình ở tại Sửu hoặc Mùi, có sắc thái “cô độc và hình khắc“, bất lợi đối với lục thân. Cần phải xem xét kỹ các cung Lục thân mà định.

Cung Tật ách có sao Thiên hình, lại có các sao Sát, Kị xung hội, đề phòng tuổi trẻ tàn tật, hoặc sinh ra đã bị dị tật. Cung Tật ách của lưu niên hoặc đại vận mà gặp Thiên hình, bị lưu Kình xung hội, chủ về phải phẫu thuật.


Nhất diệp tri thu – Phan Tử Ngư

Sao Thiên hình thuộc dương hỏa, chủ về hình yểu, ở miếu địa còn có tên là Thiên hỷ thần, có quyền uy. Trong Đẩu Số chủ về y dươc.

Tính cách của sao Thiên hình là hơi cô độc, cao ngạo, có tài năng, phần nhiều vất vả, bị hình khắc, nhập mệnh thì dễ bị thương tật, kiện tụng. Nhập cung Tật ách, thì lúc còn bé coi chừng mắc bệnh bại liệt, di chứng sau viêm não. Nếu vượng địa chủ về nắm đại quyền, gặp Thá dương chủ về làm quan võ, đồng cung với Văn khúc thì văn võ song toàn, thành danh, hiển đạt ở biên cương. Tối kị đồng cung với Thiên khốc trấn thủ tại cung mệnh, vì không tránh khỏi nghèo đói, tai họa, bệnh tật, chỉ nên làm sư tăng đạo sỹ, không có tình cảm đối với lục thân.

Sao Thiên hình coi bốn cung Dần, Mão, Dậu, Tuất là nhập miếu, nếu ở cung khác có chính tinh miếu vượng cũng có thể thừa vượng, nhưng nếu gặp Kị Sát xung phá, hoặc chính tinh hãm địa, thì chủ về cô khắc, bất lợi, bệnh tật.

Sao Thiên hình nhập miếu, hoặc thừa vượng, mà gặp Cự môn, Thiên lương, hoặc Thiên tướng, thì phần nhiều chủ về thành danh ở giới tư pháp, hoặc thành danh ở một môn học thuật nào đó.

Nam Bắc phái đoán mệnh – Chu Văn Sơn

Sao Thiên hình nhập miếu biểu thị có quyền uy (Dần, Mão, Dậu, Tuất là miếu địa. Thân, Hợi, Tí, Thìn, Tỵ, Ngọ là bình hòa. Sửu Mùi là hãm địa). Mặt vuông, vàng mà hơi đỏ hoặc trắng, hoặc cao hoặc thấp mà hơi béo. Về cá tính thì cô độc, cao ngạo. Có tài cán, cuộc đời nhiều vất vả, tính cách cương nghị, không ác độc. Tỳ khí không tốt.

Sao Thiên hình nhập mệnh khiến tay chân bị hình thương, ở hãm địa thì xảy ra tai họa phải phẫu thuật. Thiên hình chủ về việc quan sai, nếu gặp Liêm trinh, Cự môn lạc hãm, thì xảy ra kiện tụng, hoặc việc liên quan đến pháp luật. Nếu miếu vượng, có thể nắm đại quyền hình sát, như làm quan xét xử. Chính tinh lạc hãm Hóa Kị, mà lại gặp Thiên hình, thì chủ về việc liên quan đến pháp luật, có tai họa tù ngục, cần phải xem tình hình các sao khác. Nếu có lưu niên Bạch hổ đến hay xung chiếu, lại thêm Hỏa tinh Linh tinh hội lại, thì năm đó chắc chắn khó thoát khỏi họa lao ngục.

Năm Giáp có Thiên hình, đầu năm nếu không bị thương thì cuối năm sẽ cô độc, dễ theo đạo Phật.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Hóa Kị

0

Hóa Kị – Toàn thư

Thuộc tính ngũ hành của sao Hóa Kị là dương thủy, hóa khí là thị phi, chủ về đa sự, tai họa và đố kị, còn có tên gọi là sao Kế đô chủ về thị phi. Sao Hóa Kị dẫn thân là trắc trở bất lợi, hiển lộ là biến hóa bề ngoài đem lại nhiều tai họa, nhiều điều tiếng thị phi, là sự cụ thể hóa tình trạng bất lợi.

Sao Hóa Kị lại chủ về đa sự, chuyện gì cũng muốn xen vào nên dễ chuốc lấy điều tiếng mà gặp nhiều phiền phức, khiến cho cuộc sống thường biến động bất an.

Sao Hóa Kị tuy chủ về một đời nhiều tai họa, mất mát, gặp nhiều bất lợi trở ngại, nhưng nếu theo đuổi những lĩnh vực nghiên cứu triết học, y học, khoa học kỹ thuật tiên tiến, hoặc đảng phái chính trị, sẽ có được thành tựu và phát triển.

Nếu sao Hóa Kị nằm cùng các cung với các sao Tử vi, Thiên phủ, Xương Khúc, Tả Hữu, tam hóa Khoa Quyền Lộc thì sẽ được phú quý. Nếu như Hóa Kị đồng cung với tứ sát Kình Đà Hỏa Linh thì tuy có phát đạt nhưng cũng không giữ được lượng tiền của lớn. Sao Hóa Kị nếu đứng một mình lại gặp 4 sát tinh và Phá quân, Thiên sứ, Địa kiếp, Thiên không thì chủ về bôn ba vất vả lại thêm nhiều bệnh tật, là tăng ni đạo sỹ phải hoàn tục, mệnh nữ nghèo khổ suốt đời.

Sao Thái dương Hóa Kị tại các cung miếu vượng Dần, Mão, Thìn, Tỵ, sao Thái âm hóa Kị tại các cung miếu vượng Dậu, Tuất, Hợi, Tí, lại là có phúc. Những trường hợp Hóa Kị còn lại thì đều phải quan sát thuộc tính ngũ hành của bản thân các sao đó. Ví dụ như Liêm trinh hóa Kị tại Hợi địa là Hỏa nhập thủy địa, nếu lại gặp người mệnh Thủy thì Hóa Kị sẽ không có khả năng gây hại. Thiên đồng hóa Kị tại Tuất đại, lại gặp người sinh năm Đinh là cát lợi. Cự môn hóa Kị tại Thìn địa gặp người sinh năm Tân lại là cát. Các sao nếu Hóa Kị tại cung miếu vượng lại là không kị. Các sao Hóa Kị tại cung hãm thì càng thêm kị. Thái dương Thái âm hóa Kị tại cung hãm là đại hung. Liêm trinh hóa Kị tại cung hãm thì càng thêm kị.

Song trùng Hóa Kị (mệnh, đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt) trở lên, lại gặp hung tinh, sát tinh gia lâm hội và chiếu, hoặc 4 Hóa Kị đồng cung, thì sẽ là bĩ cực thái lai, nhưng vẫn phải chú ý đến tình hình sức khỏe của bản thân.
Sao Hóa Kị nhập miếu tại Tí địa, Sửu địa, đắc tại Mão địa, lợi tại Thìn địa, Mùi địa, không đắc lợi tại Thân địa, Dậu địa, lạc hãm tại tứ địa Dần, Ngọ, Tuất, Tỵ.

Hóa Kị – Vương Đình Chi

Hóa Kị thuộc dương thủy, giống Hóa Khoa, vì lời khen và lời nói xấu có cùng một dạng năng lực là quảng bá.

Hóa Kị chủ về sóng gió, trắc trở, tổn thất, thị phi, đố kị; xem các sao hội hợp thực tế mà định tình hình cụ thể.

Hóa Kị ở các cung, phần nhiều đều là hãm địa. Như các cung Dần, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là lạc hãm, chỉ có cung Sửu là nhập miếu.

Nhưng Thái dương và Thái âm của nguyên cục nhập miếu mà hóa Kị, thì lại chủ về cát lợi, giống như “mây trôi che nhật nguyệt”, bất quá chỉ bị lu mờ một chút mà thôi. Thái âm hóa Kị ở cung Hợi, Thái dương hóa Kị ở cung Mão, theo phái Trung châu gọi là “biến cảnh”, càng chói mắt người ta, nhưng Thái dương không bằng Thái âm.

Thái dương Thái âm ở hãm địa hóa Kị thì không cát tường, làm mạnh thêm sắc thái thị phi tổn thất.

Các sao có tính chất tinh thần ở cung mệnh mà hóa Kị, cũng chủ về đầu óc trầm tĩnh, lạnh lùng. Thiên đồng hóa Kị ở cung Tuất, Cự môn hóa Kị ở cung Thìn, đều có cách “phản bối” (trở mặt).
Vì vậy không được luận đoán đại khái, hễ gặp hóa Kị lập tức cho là Hung. Mệnh cục gặp hóa Kị phải biết xem trọng sự tu dưỡng tinh thần.

Tử vi Đẩu Số luận đoán Lưu niên vận thế, điều then chốt nhất là giỏi vận dụng hóa diệu.

Như đã biết, thông thường hóa Lộc chủ về kiếm được tiền, hóa Quyền chủ về được thế, hóa Khoa chủ về danh dự địa vị, hóa Kị chủ về bị các tình huống khó xử. Người đời không thể thập toàn thập mỹ, cho nên ngoài vị thế, lợi lộc, danh tiếng ra, ắt phải có sao Kị để điểm xuyết hương vị cuộc đời. Người có kiến giải thông đạt, trong lòng sẽ không buồn phiền khi gặp Hóa Kị.

Tình hình gặp Hóa Kị ở rất nhiều loại, tình hình thường gặp nhất là “chuốc đố kị”, nhưng “không chuốc đố kị thì phần nhiều là người tầm thường”, cho nên gặp Hóa Kị cũng đừng sợ. Một tình hình khác là, xảy ra hiểu lầm không cần thiết với người khác. Hiểu lầm nhau, có lúc chưa chắc là không tốt, nếu người hiểu lầm quá xấu, thì dù có hiểu lầm, ít đi một người bạn xấu cũng hay.

Hóa Kị dễ khiến cho người ta gặp các tình huống khó xử, bị phỉ báng, nói xấu, bêu rếu. Nhưng thị phi tốt xấu rồi cũng có ngày rõ ràng.

Có lúc Khóa Kị chủ về buồn rầu lo lắng. Như cung Phụ Mẫu hóa Kị, thì có thể phải lo lắng cho sức khỏe của cha mẹ, sinh lão bệnh tử là quá trình tất nhiên của đời người, nên trong tình huống này, nên có kiến giải thông đạt một chút.

Hóa Kị cũng chủ về mắc bệnh, tuy nói là phải có kiến giải thông đạt, nhưng rốt cuộc cũng khiến cho người ta đau khổ, vì vậy trước khi sự việc xảy ra, chúng ta nên gìn giữ sức khỏe là hay nhất.

Tình hình nghiêm trọng nhất củ hóa Kị là phạm pháp, hoặc bị tai họa tới tấp, nhiều khi nhìn thấy tinh hệ này, người ta thường lo láng cho tương lai. Nhưng giả dụ như biết trước được vận thế, cũng không cần phải quá bất an. nhà Phật cho rằng nghiệp lực có thể nhuyễn hóa, trọng nghiệp vẫn có thể có quả báo nhẹ, chỉ cần giữ cho lòng trung hậu, lấy lòng thành để đối đãi với người, lập thân hành sự không hổ thẹn với lòng, thì có thể xoay chuyển được vận thế.

Cho nên, gặp Hóa Kị, phải xem xét cẩn thận tính chất của hóa Kị, và phải xem trọng tu dưỡng tinh thần, giả dụ như có tính tình phóng túng, bất chấp mọi người nghĩ gì, mà không nghĩ đến việc tu dưỡng để bổ cứu, lúc những trắc trở ập đến, không được nói là “do số mạng”.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Hóa Quyền

0

Hóa Quyền – Toàn thư

Thuộc tính ngũ hành của sao Hóa Quyền là dương mộc, hóa khí là quyền và thế, chưởng quản sinh sát chủ về quyền và thế, tháo vát. Hóa Quyền dẫn thân là kiên định, hiển lộ là quan quý, khiến cho quyền và thế được cụ thể hóa.

Sao Hóa Quyền thuộc Mộc, ưa thích Cự môn, Vũ khúc, chủ hiển đạt về nghiệp võ, nắm giữ binh quyền. Sao Hóa Quyền trấn tại cung Mệnh, cung Thân cũng tương tự như khi gặp sao Hóa Lộc sẽ làm quan to. Nếu gặp sao Hóa Khoa sẽ có tài văn chương xuất chúng, nếu lại gặp các sao Văn xương, Văn khúc thì thi cử sẽ đỗ đạt cao.

Trong ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, chỉ có sao Hóa Quyền là không sợ bị sao Hóa Kị xung phạm, gặp Hóa Kị chỉ làm tăng thêm phần cản trở và vất vả, nhưng sau vẫn có khả năng khắc phục được, đặc biệt là khi chủ tinh miếu vượng hóa Quyền lại càng không dễ bị sao Hóa Kị gây ảnh hưởng.

Mệnh nam mà vận hạn gặp ba sao Lộc Quyền Khoa sẽ có phát triển và tiến bộ. Mệnh nữ do giỏi giang tháo vát quá mức, lấn lướt cả đàn ông, nên sẽ ảnh hưởng đến đường tình duyên và đời sống hôn nhân.

Sao Hóa Quyền nhập miếu tại Sửu địa (thuần hậu không sợ sát tinh), đắc tại Mão Thìn (là phúc, kị gặp sát tinh), được lợi tại Dần Mùi (phúc đến chậm, kị sát tinh), bình thường tại Thìn, Ngọ, Tỵ, Hợi, không đắc địa tại Thân, Dậu, Tí.

Hóa Quyền – Tam Hợp phái

Hóa Quyền thuộc dương mộc, nên phải đề phòng “cây to thì hứng gió”. Cũng chính vì vậy, Đẩu Số ưa “Lộc trùng điệp” mà không ưa “Quyền trùng điệp”, lúc hóa Quyền gặp hóa Quyền trùng điệp, sẽ dễ chuốc lực áp chế vào thân.

Nếu Hóa Quyền mà không có Hóa Lộc và Hóa Khoa sánh vai, chủ về dễ bị khuynh đảo, bài xích, chèn ép; nếu lại gặp sát tinh, nhất định sẽ xảy ra nhiều tình huống khó xử.

Hóa Quyền được Hóa Lộc sánh vai, chủ về nhờ quyền lực mà đắc lộc, hoặc nhờ “lộc” mà đắc “quyền”, nhưng đừng vì thấy “Lộc Quyền gặp nhau” mà xem thường bản chất của Hóa Quyền.

Cổ nhân hay nhấn mạnh Hóa Quyền không sợ Hóa Kị, ý nói lúc Hóa Kị đến xâm phạm, Hóa Quyền dư sức áp chế. Nhưng theo phái Trung châu Vương Đình chi thì có khác, họ cho rằng ý kiến này hơi phiến diện.

Ví dụ như tinh diệu hóa Quyền ở nguyên cục lại bị Hóa Kị ở vận hạn tương xung, tức là “cây lớn thì hứng gió”, “địa vị cao thì thế nguy”, nhất là lúc “Quyền trùng điệp”, bị sao Kị xung phá, chủ về tranh giành quyền lực, nhất là khi nắm được đại quyền, sẽ dễ phạm lỗi lộng quyền.

Nếu Hóa Kị ở nguyên cục hóa làm sao quyền ở vận hạn, thì phải đề phòng lực áp chế, không phải là hỉ sự. Cần phải xem xét kỹ tính chất phối hợp của toàn cục mà định.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Hóa Khoa

0

Hóa Khoa – Toàn thư

Thuộc tính ngũ hành của Hóa Khoa là dương thủy, hóa khí là thanh danh, chưởng quản văn chương, chủ về thanh danh. Sao Hóa Khoa dẫn thân là tâm tính vui vẻ, hiển lộ là nổi tiếng, tức cụ thể hóa thanh danh, khả năng học tập và thi cử.

Sao Hóa Khoa nếu đóng tại cung Thân cung Mệnh, chủ về thông minh mẫn tiệp, tài hoa khác thường, tính tình hòa nhã dễ gần, có thanh danh. Nếu gặp sao Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là người hiển quý có địa vị cao. Nếu gặp hung tinh, tuy khong được hiển quý, nhưng cũng có tài năng văn học. Nếu là Văn Xương hóa Khoa sẽ trở thành bậc thầy mẫu mực.

Tương tự như sao Hóa Lộc, sao Hóa Khoa không có khả năng đề kháng trước sao Hóa Kị, nếu như không được cát tinh trợ giúp, thì chủ về vất vả gian lao mà không có thành tựu. Nếu được cát tinh trợ giúp mới có được thành tựu, nhưng vẫn khó tránh khỏi gian nan lao lực. Sao Hóa Khoa cũng kị gặp phải các sao Không vong như Tiệt không, Tuần không, Địa không, Địa kiếp, chủ về có tài năng mà không gặp cơ hội, lại thường rơi vào tình cảnh cô đơn khổ cực không nơi nương tựa.

Khi Văn xương, Văn Khúc gặp Hóa Khoa, lại thêm Thiên khôi, Thiên việt, sẽ có lợi về đường thi cử, thăng quan tiến chức thuận lợi mà trở thành hiển quý.

Sao Hóa Khoa tốt nhất nằm cùng với các sao Thất sát, Phá quân, Tham lang, Tử vi, Thiên cơ, Cự môn, Thiên đồng, Thái âm, Vũ khúc, chủ về sáng nghiệp, nhưng mệnh nữ cần đề phòng ảnh hưởng đến hôn nhân.

Sao Hóa Khoa nhập miếu tại Sửu địa (không sợ hung sát), vượng tại Ngọ địa, Thân địa (không sợ hung sát), đắc địa tại Thìn, Tuất, Mão (là phúc, kị hung sát), được lợi tại Dần, Tỵ, Mùi (phúc đến chậm, kị hung sát), bình thường tại Hợi, Tí, không đắc tại Dậu địa. Nếu nằm cùng cung hãm với Tiệt không, Tuần không, Địa kiếp, Địa không, Kình dương, Đà la, Thái dương, Thái âm là lạc hãm.

Hóa Khoa – Vương Đình Chi

Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về “trí”, “lưu truyền”, nên là “tiếng tăm, danh dự”.

Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.
Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.

Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.

Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.

Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:

Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.

Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.

Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tí, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là “Khoa minh Lộc ám”, chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách “minh lộc ám lộc”, Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách “khoa minh lộc ám” là nhờ danh mà được quý).

Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.

Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là “mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung”. Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Trung Châu Tử vi sơ cấp giảng nghĩa luận cung Phụ mẫu

0

Đẩu số với “Phụ mẫu cung”, có ba ý nghĩa quan trọng khi thôi đoạn luận đoán:

Thứ nhất (đệ nhất), sử dụng để thôi đoạn luận đoán về duyên phận giữa cá nhân cùng với phụ mẫu, với sinh tử tồn vong bệnh phúc các chủng loại tình huống của phụ mẫu.

Thứ hai (đệ nhị), quan hệ giữa cá nhân cùng với thượng ti, ông chủ như thế nào?

Thứ ba (đệ tam), là người bình thường lập thân trong xã hội, cuối cùng chung quy có một chút quan lại hoặc cơ quan có thể tại trong một giai đoạn thời kì với hành động làm chủ quản cá nhân. Những người chủ quản quan lại hoặc chủ quản cơ quan cùng với cá nhân có mối quan hệ như thế nào?

Với ba điều nói trên, trong Mệnh bàn có “Phụ mẫu cung” chủ yếu sử dụng để luận đoán về điều thứ nhất. Luận đoán được chủ yếu tính chất như sau, nhưng vẫn tương ứng với kiểm chứng tại mỗi cái đại hạn cùng mỗi cái lưu niên tại Phụ mẫu cung để luận đoán, với sự xem xét cát hung họa phúc của phụ mẫu tại một thời kì. Còn như đệ nhị, đệ tam lưỡng điểm, thì chủ yếu do từ đại hạn hoặc lưu niên với “Phụ mẫu cung” để luận đoán. Nhưng lại cần phải linh hoạt ứng dụng những tính chất được liệt kê trong thiên này. Ví dụ như, Thiên Cơ thủ Phụ mẫu cung, cùng với Thiên Mã đồng độ hoặc đối chiếu thì chủ là người ấu niên li gia. Nhất là khi tại lưu niên Phụ mẫu cung phùng kết cấu tinh hệ thì, dể có khả năng là vận trình có một lần li biệt hoặc đề bạt giữa bản thân mình với thượng ti; hoặc chủ tự bản thân mình li khai xuất thân ra khỏi công ti. Lại như, Thiên Đồng Cự Môn đồng độ thủ Phụ mẫu cung, chủ phụ tử bất hòa. Đương khi tại lưu niên Phụ mẫu cung kiến kết cấu tinh hệ này, dể có khả năng là nội trong năm ấy, chủ là bản thân mình và chủ quản trong cơ quan bất hòa. (Nếu là kiến trúc sư, thì có khả năng cùng với quan lại phê duyệt đồ án có sự bất hòa; nếu là nhà công nghiệp, thì có khả năng cùng với lao công bộ môn bất hòa các loại).

Có khả năng lí giải được liên quan đến “Phụ mẫu cung” với chân chính ý nghĩa, tại luận đoán thì tài năng phát huy tương ứng có hiệu lực có tác dụng, liên quan đến một điểm này, sách Đẩu số trên phố phường rất ít đem nói ra điều này. Nhưng tại thật tế ứng dụng thì, độc giả nhất định gặp phải sự phát sinh ra một cái khốn nhiễu, tức là sau đó xem đến đại hạn hoặc lưu niên với tổ hợp tinh diệu tại Phụ mẫu cung, có khả năng không hiểu rỏ đạo lý về tính chất của tinh hệ là cứu cánh tương ứng nên sử dụng làm đại biểu cho phụ mẫu, hoặc là đại biểu cho thượng ti, còn là đại biểu cho quản hạt của chính bản thân mình với cơ quan và quan lại.

Chiếu theo kinh nghiệm của bút giả, thông thường có thể sử dụng cùng với xem xét các cung vị khác nhằm đưa ra biện pháp để giải quyết. Như đồng thời xem xét Sự nghiệp cung, thôi đoạn luận đoán tình trạng của mối quan hệ với thượng ti; đồng thời xem xét Điền trạch cung, thôi đoạn luận đoán từng chủng loại tình trạng là họa là phúc của phụ mẫu; đồng thời xem xét Phúc đức cung, thôi đoạn luận đoán tình trạng giao thiệp với cơ quan chủ quản; mà cả ba cái này đều phải tương ứng đồng thời xem xét Mệnh cung cẩn thận tường tận để làm cơ sở thôi đoạn luận đoán.

Đương nhiên, có khi tình hình thật tế căn bản một chút không phức tạp như thế này. Ví dụ như một người từ trung niên trở về sau, với khả năng là song thân đã tạ thế, tự bản thân mình lại trở thành ông chủ lão bản, đại hạn và lưu niên Phụ mẫu cung với tính chất tinh diệu như thế này, đương nhiên dể chuyên chỉ kì sở thiệp với đơn vị chủ quản mà nói. Như lưu niên Phụ mẫu cung có Thiên Lương nhập thủ, Thiên Khôi Thiên Việt đồng độ hội chiếu, chủ là người đắc phụ mẫu ấm tí. Về sau này, làm cho biến thành có thể đắc sở thiệp với cơ quan ích ấm. Minh bạch những nguyên tắc luận đoán này, đối với sự trình bày của thiên này dể tự có thể linh hoạt ứng dụng.

1. Tử Vi.

Tử Vi thủ Phụ mẫu cung, nhập miếu, mà lại hội chư Cát, chủ là người có phụ mẫu phú quý, mà lại không bị hình khắc. Nếu lạc hãm, thì phụ mẫu chủ kiến cực kỳ cường mạnh, dể cùng với tự bản thân mình phát sinh ý kiến trái ngược. Kiến Sát diệu thì chủ bất hòa. Vào đại hạn lưu niên thì là phụ mẫu có nguy hiểm tai bệnh. Phụ mẫu cung có Tham Lang, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Diêu các tinh diệu đồng độ, chủ có kế mẫu, hoặc phụ thân có người bên ngoài, thiên phòng vợ nhỏ. Nhưng Mệnh cung kiến Hỏa Tinh, Linh Tinh độc thủ, Phụ mẫu cung lại giống như tình hình đã nói ở trên, thì có khả năng là con nuôi của người khác (quá kế xuất tự chi Mệnh), chủ có lưỡng trùng phụ mẫu. Điều được gọi là lưỡng trùng phụ mẫu, bao gồm bản thân mình cùng tùy tùng phụ thân, mẫu thân cưới lần khác (lánh giá); hoặc trong tình hình mẫu thân tự mình tái hôn tự bản thân mình có phát sinh phụ (cha dượng), bất thuần chỉ nói về điều làm con nuôi họ khác (xuất tự quá kế nhi ngôn). Sau đây là chủng loại tình hình phức tạp, Phụ mẫu cung có nhiều Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc đồng độ. (Chủng loại tình hình này có thể sử dụng với các tinh diệu khác nhập thủ Phụ mẫu cung, không chỉ chuyên mỗi Tử Vi nhập thủ nhi ngôn). Tử Vi thủ Phụ mẫu cung, có Kình Dương, Đà La, Hóa Kị, Thiên Hình đồng độ hội chiếu, chủ hình khắc. Phụ mẫu hoặc có ý ngoại chi tai. Hoặc có trọng bệnh. Tại Mệnh bàn Phụ mẫu cung thì chủ là người ấu niên cùng phụ mẫu có quan hệ sơ viễn. Trọn đời cũng thiếu phụ mẫu ấm tí. (Chúng ta đương nhiên có thể đem chủng loại tính chất này khoách đại, xem là một giai đoạn thời kì không được thượng ti nể trọng; hoặc sự giao thiệp với cơ quan chủ quản thường có phát sinh trở ngại).

Tử Vi Thiên Phủ đồng độ, chủ phụ mẫu phú quý, mà không có hình khắc.

Tử Vi và Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu; chủ là người rời xa gia đình từ nhỏ, không thì có hình khắc, hoặc sự khác biệt cực kỳ sâu nặng.

Người có Tử Vi Thất Sát đồng độ, kiến Cát diệu hội hợp không có hình khắc, duy chủ phụ mẫu uy quyền, hoặc tính cách cường liệt. Kiến Sát Hình cùng Kiếp Sát, Cô Thần đẳng diệu chủ hình khắc.

Tử Vi Thiên Tướng đồng độ, hỉ kiến Thiên Đức, Giải Thần, Thiên Vu, chủ bất khắc, kiến Sát Kị Hình Cô các sao này chủ hình khắc.

Tử Vi Tham Lang đồng độ, thông thường chủ bất khắc.

2. Thiên Cơ.

Thiên Cơ là phù đãng tinh diệu, nhập thủ Phụ mẫu cung, chủ là người viễn li phụ mẫu, không thì có hình thương khắc hại. Thiên Cơ thủ Phụ mẫu cung, Thiên Mã đồng độ, hoặc tại đối cung củng chiếu, chủ là người ấu niên li gia; lớn tuổi thì làm rể nhà vợ (niên trường tắc nhập chuế nhạc gia). Nhất là tại xã hội hiện đại, ý nghĩa của điều này lại có thể chuyển biến thành là người cung dưỡng nhạc phụ nhạc mẫu, nhưng ngược lại đối với thân sinh phụ mẫu thì sơ viễn. Người có Thiên Cơ thủ Phụ mẫu cung, có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Hóa Kị, Âm Sát, Kiếp Sát, Cô Thần đẳng diệu (gọi chung là “Sát Kị Hình Cô”) đồng độ hoặc hội chiếu, chủ ấu niên phụ mẫu bất toàn không đầy đủ. Hoặc chủ trùng bái phụ mẫu (làm con nuôi), xuất thân từ người khác, hoặc có quá phòng phụ mẫu (cha mẹ khác).

Thiên Cơ Cự Môn đồng độ, tảo niên bất lợi phụ mẫu. Người với Mệnh cung kiến Hỏa Linh các sao này cũng chủ lưỡng trùng phụ mẫu.

Thiên Cơ Thái Âm đồng độ hội chiếu; hoặc người với Thiên Cơ Thiên Lương đồng độ hội chiếu, không chủ hình khắc. Kiến tam Hóa cát diệu, Phụ Tá cát diệu lại chủ đắc phụ mẫu ấm tí. Với người kiến Sát Kị Hình Cô chư diệu như đã trình bày ở trên thì chủ phụ mẫu có tai bệnh. Nhưng với người có Thiên Cơ Thiên Lương kiến Sát Kị Hình Cô các sao này, cũng chủ phụ mẫu chủ kiến cực kỳ nặng, cần phải tiểu tâm chú ý điều hòa sự khác biệt.

3. Thái Dương.

Thái Dương thủ Phụ mẫu cung, nhập miếu, phụ mẫu không bị hình khắc. Canh kiến tam Hóa, Phụ Tá cát diệu hội chiếu đồng độ, thì chủ được phụ mẫu ái sủng. Lại chủ phụ mẫu phú dụ giàu có, sự nghiệp chưởng quyền (trong tay nắm quyền hành). Nếu lạc hãm, thì phụ thân bất lợi. Nhưng lạc hãm Hóa Kị, mà phùng tứ Sát, Không Kiếp, Thiên Hình các sao này, cần phải đồng thời xem xét trong Mệnh bàn với Thái Âm có hay không có Sát đồng độ, nếu như có Sát, chủ khắc mẫu. Nếu như vô Sát, ngược lại có Cát tinh cùng Thiên Lương, Thiên Thọ, Giải Thần, Thiên Phúc đẳng tinh đồng độ hội chiếu, thì chủ trước tiên khắc phụ.

Thái Dương Thái Âm tại Sửu cung đồng độ, bất lợi phụ. Tại Mùi cung đồng độ bất lợi mẫu. Thái Dương Hóa Kị thông thường chủ phụ có nhiều tai bệnh; Thái Âm Hóa Kị thông thường chủ mẫu có nhiều tai bệnh.

Thái Dương Cự Môn đồng độ, chủ cùng với phụ thân bất hòa, có sự khác biệt lớn.

Người có Thái Dương Thiên Lương đồng độ, có Cát tinh hội chiếu mà vô Sát các sao này, phụ mẫu không bị hình khắc. Tại Mão cung đồng độ lại chủ đắc phúc ấm từ phụ mẫu; nếu cùng với Sát Hình chư diệu đồng hội, thì chủ hình khắc, hoặc viễn li phụ mẫu, hoặc trùng bái phụ mẫu.

4. Vũ Khúc.

Vũ Khúc mang theo tính chất cô khắc hình kị, thủ Phụ mẫu cung, thông thường chủ hình khắc phụ mẫu. Nếu nhập miếu, mà lại có Cát tinh đồng hội, thì thích nghi quá kế xuất tự (làm co nuôi). Hoặc viễn li phụ mẫu, thì có thể tránh được hình khắc. Do vì Vũ Khúc là Tài tinh, cho nên nếu khi ấu niên hoặc thiếu niên, người này tự thân tai bệnh là nguyên nhân phá hao phụ mẫu sản nghiệp, thì cũng không bị hình khắc. Vũ Khúc tại Phụ mẫu cung hỉ kiến Thiên Phủ, Thiên Thọ, có thể tránh được hình khắc. Nhưng Vũ Khúc đến cuối cùng (cứu cánh) mang theo sắc thái cô khắc, cho nên dù cho tránh được hình khắc, cũng chủ không được phụ mẫu sủng ái. Nếu Vũ Khúc tại Phụ mẫu cung hội chiếu tứ Sát, Không Kiếp, Thiên Hình, Cô Thần các sao này, thì ấu niên đã hình khắc phụ mẫu, hoặc tai hoặc bệnh. Canh kiến Kị tinh, chủ phụ mẫu tử vong, hoặc bệnh nan y hiểm nghèo (hoạn tuyệt chứng), hoặc gia nghiệp của phụ mẫu bị điêu linh, kinh tế khốn nan.

Vũ Khúc Thất Sát, Vũ Khúc Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu, cũng đều chủ hình thương khắc hại.

Vũ Khúc Thiên Tướng đồng độ, kiến Cát không bị hình khắc; kiến Sát Kị thì có thương khắc.

5. Thiên Đồng.

Thiên Đồng là Phúc tinh, nhưng điều được gọi là “Phúc”, có khi chỉ là người thiếu niên gian tân, bạch thủ hưng gia lập nghiệp. Cho nên khi nhập thủ Phụ mẫu cung thì, vẫn cần phải chú ý xem xét cẩn thận tường tận có hay không có tính chất hình khắc thương hại. Thiên Đồng nhập miếu, chủ là người thiếu niên phụ mẫu song toàn, không bị khắc hại hình thương. Thiên Đồng lạc hãm, kiến Phụ Tá cát diệu, cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Thọ, Thiên Phúc các sao này không bị hình thương khắc hại. Không thì thích nghi viễn li phụ mẫu hoặc quá kế xuất tự. Người có Thiên Đồng tại Phụ mẫu cung cùng với Hỏa Linh Dương Đà, Không Kiếp Thiên Hình đồng hội các sao này cũng chủ hình khắc, cần phải quá kế xuất tự (làm con nuôi họ khác hoặc là đi tu).

Người có Thiên Đồng Thái Âm đồng độ, Thái Âm Hóa Kị hoặc tại Ngọ cung đồng độ kiến Sát Hình mà không có Cát tinh giải cứu, chủ trước tiên khắc mẫu; nếu có Cát tinh giải cứu mà trong Mệnh bàn Thái Dương lạc hãm hội chiếu, thì chủ trước tiên khắc phụ. Nếu người có Thái Âm Thiên Đồng tại Tí cung đồng độ, bất kiến Sát Hình các sao này, chủ phụ mẫu không bị hình khắc thương hại. Tái kiến chúng Cát hội củng hoặc đồng độ, lại chủ đắc phụ mẫu ấm tí.

Thiên Đồng Cự Môn đồng độ, chủ phụ tử bất hòa, hoặc phụ tử chênh lệch tuổi nhau rất lớn.

Thiên Đồng Thiên Lương đồng độ, bất chủ hình khắc thương hại, duy Thiên Đồng Hóa Kị, hoặc hội chiếu tứ Sát Hình Cô các sao này, thì vẫn chủ có khắc hại. Nếu Cát Hung tinh diệu tịnh chiếu, thì chủ phụ tử bất hòa.

6. Liêm Trinh.

Liêm Trinh thủ Phụ mẫu cung là Ác diệu, thông thường cũng đều bất lợi cho phụ mẫu, có hình thương khắc hại, người bị nhẹ cũng chủ bất thụ phụ mẫu ấm tí, hoặc cảm tình thiếu tốt đẹp. Liêm Trinh tại Phụ mẫu cung lạc hãm, hoặc Hóa Kị, cần phải xuất tự hoặc quá kế (làm con nuôi hoặc đi tu), hoặc trùng bái phụ mẫu. Nếu đắc Thiên Phủ, Thiên Tướng đồng độ hoặc hội chiếu, lại kiến Thiên Phúc, Thiên Thọ đẳng cát diệu các sao này thì có được sự giải cứu, mức độ khắc hại giảm nhẹ, cận chủ tình cảm không hòa hiệp. Liêm Trinh và Thiên Mã, Thiên Hư đồng độ hoặc hội chiếu, thì chủ ấu niên viễn li phụ mẫu.

Người có Liêm Trinh có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hội chiếu hoặc đồng độ các sao này, cũng đều chủ phụ mẫu hình thương. Canh kiến tứ Sát, Không Kiếp, Thiên Hình, Cô Thần, Âm Sát, thì chủ hình khắc tử vong, hoặc gặp phải tai họa trọng đại, hoặc có bệnh nguy hiểm nan y (nguy chứng tuyệt chứng).

Nếu Liêm Trinh thủ Phụ mẫu cung, có Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, Thiên Hình đồng độ hoặc hội chiếu, chủ là người từ thiên phòng kế thất sinh ra. Không thì chủ phụ thân có người bên ngoài. Tại xã hội hiện đại, cũng có khả năng chủ mẫu thân có lưỡng thứ hôn nhân.

7. Thiên Phủ.

Thiên Phủ thủ Phụ mẫu cung thông thường cũng chủ phụ tử cảm tình hòa hiệp. Cũng chủ là người khi ấu niên phụ mẫu song toàn. Nhưng nếu Thiên Phủ và Kình Dương đồng cung, thì cũng chủ phụ tử ý kiến bất hòa. Hỉ kiến chư Cát, đều chủ được hưởng thụ phúc ấm từ phụ mẫu. Nhưng nếu là người có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ phụ mẫu thích nắm quyền về tài chính, lão niên cũng không thích giao thác cho bản thân mình. Canh kiến Huynh đệ cung có tinh diệu mang tính chất thị phi phân tranh, thì chủ phụ mẫu đối với tự bản thân mình có thiên kiến, thì quyền giao cho huynh đệ tỷ muội. Với người có Thiên Phủ tại Phụ mẫu cung, hội chiếu Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp, Thiên Hình các sao này, nhưng vẫn chủ phụ mẫu có bị hình thương. Thích nghi phân cư sống riêng, hoặc xuất tự quá kế.

8. Thái Âm.

Người có Thái Âm thủ Phụ mẫu cung, nhập miếu, có Cát diệu đồng hội các sao này, chủ phụ mẫu song toàn, không bị hình khắc thương hại. Nếu Thái Âm lạc hãm, thì không được hưởng phúc ấm từ mẫu thân, hoặc mẫu thân chết sớm hoặc mẫu thân li hôn tái giá, tự bản thân mình thì tùy thuộc vào cha (tắc cân tùy phụ thân); Hoặc mẫu thân với tự bản thân mình lúc ấu niên có nhiều bệnh có thể đối với bản thân mình tự chăm sóc lo liệu (tự kỷ chiếu liêu). Cần phải xem xét tường tận tinh diệu hội hợp mà xác định. Thông thường kiến Đào Hoa, Thiên Hình chủ tái giá; kiến Thiên Nguyệt, Thiên Hư, Âm Sát thì chủ hoạn bệnh, với người kiến Hóa Kị cùng Sát Hình chủ tử vong. Phàm Thái Âm Hóa Kị tại Phụ mẫu cung, nhưng vẫn cần phải đồng thời xem xét Thái Dương trên Mệnh bàn, nếu lạc hãm kiến Sát Hình các sao này chủ cha chết trước. Cha chết thì Mẫu thành quả phụ, cũng hợp với tính chất của Thái Âm Hóa Kị. Với người có Thái Âm hội tứ Sát, Thiên Hình, Hóa Kị, Âm Sát, Cô Thần, Thiên Hư các sao này, ấu niên cần phải quá kế (làm con nuôi). Kiến Thiên Mã thì chủ viễn li, không thì có hình thương khắc hại. Người có Thái Âm Thái Dương đồng độ, tại Sửu cung thì bất lợi phụ; tại Mùi cung thì bất lợi mẫu.

9. Tham Lang.

Người có Tham Lang thủ Phụ mẫu cung, nhập miếu, Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc hội chiếu Cát diệu các sao này, phụ mẫu không bị hình khắc. Nếu người có Tham Lang Hóa Kị, hội Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp các sao này, thích nghi tảo niên viễn li Phụ mẫu hoặc xuất tự (đi tu), không thì chủ có hình khắc. Tái kiến Thiên Nguyệt, Âm Sát đồng độ, thì phụ mẫu có tai bệnh. Có Thiên Đức, Thiên Thọ, Thiên Phúc đồng độ, thì có sự giải cứu. Tham Lang nhập Phụ mẫu cung, thông thường chủ phụ mẫu tử nữ cảm tình hòa hiệp, nhưng có tự tư tự lợi chi tâm.
Nếu người có Tham Lang và Liêm Trinh đồng độ, hoặc kiến Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Hình, Thiên Diêu, Hàm Trì các sao này, chủ là người từ thiên phòng kế thất sinh ra, không thì chủ có hình khắc. Đại hạn lưu niên kiến các sao này, chủ phụ thân lão thượng phong lưu, hoặc vẫn còn nhiều phong hoa tuyết nguyệt với ứng thù tiệc tùng, không thì chủ phụ mẫu lún sâu vào ham mê sở thích thị hảo.

10. Cự Môn.

Cự Môn là Ám diệu, thủ Phụ mẫu cung bất lợi, có thể xem là Ác diệu. Thông thường tình hình, cũng ứng với quá kế xuất tự, trùng bái phụ mẫu, không thì chủ hình thương khắc hại.

Thiên Cơ Cự Môn đồng độ, khắc hại hình thương với tính chất càng thêm nặng. Cự Môn Hóa Kị, thì phụ tử có nhiều thị phi khẩu thiệt, Thiên Cơ Hóa Kị, hai đời đều có tâm cơ xảo quyệt (lưỡng đại các hoài cơ tâm).

Cự Môn Thái Dương đồng độ, hai đời tranh cải về những chuyện vô vị (lưỡng đại đa vô vị tranh sảo).

Cự Môn Thiên Đồng đồng độ, chủ tổ sản phụ nghiệp dần dần tiêu ma, hoặc không bảo tồn gìn giữ tổ nghiệp, bị người khác chiếm đoạt. Cũng chủ bất lợi phụ mẫu, lúc thiếu niên thì phụ mẫu khó được lưỡng toàn.

Cự môn thủ Phụ mẫu cung, hỉ kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn đồng độ hoặc hội chiếu, không có Sát Hình các sao này, chủ phụ mẫu phú dụ giàu có. Canh kiến Thiên Vu đồng độ hội chiếu, chủ phụ mẫu có di sản để lại. Nếu hội Hỏa, Linh, Dương, Đà, Không, Kiếp, Hình, Kị, thì chủ phụ mẫu có hình thương khắc hại, hoặc bị nhiều thị phi từ tụng.

11. Thiên Tướng.

Với người có Thiên Tướng thủ Phụ mẫu cung, nếu phùng “Tài Ấm giáp Ấn” các sao này, chủ phụ mẫu phú quý trường thọ. Nếu phùng “Hình Kị giáp Ấn” các sao này, thì chủ phụ mẫu có bị hình khắc tai thương bệnh họa. Thông thường tình hình giống như sau, Thiên Tướng nhập miếu thủ Phụ mẫu cung, không bị hình khắc. Nếu lạc hãm, kiến Cát giả không bị khắc, kiến Sát tinh Ác diệu thì hữu hình thương tai bệnh. Tối bất hỉ Vũ Khúc đồng độ, chủ có bị hình thương khắc hại. Với người có Vũ Khúc Hóa Kị các sao này càng thêm nặng. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, chủ phụ mẫu có bị tai bệnh, người với Sát Hình chư diệu nặng các sao này, bị bệnh nguy hiểm nan y (hoạn tuyệt chứng cấp bệnh).

Liêm Trinh đồng độ, cũng chủ có bị hình thương tai bệnh, Hóa Kị giả, hoặc hai đời cảm tình quyết liệt đoạn tuyệt chấm dứt, hoặc phụ mẫu có huyết quang nguy chứng. Với người đồng hội tứ Sát các sao tảo niên có bị khắc. Canh kiến Hình Kị khắc nặng, thích nghi viễn li phụ mẫu hoặc trùng bái phụ mẫu.

Người có Thiên Tướng hội Khôi Việt, Phụ Bật, Giải Thần, Thiên Đức, Thiên Vu, Thiên Thọ các sao này, tuy dù kiến Sát Kị cũng chủ có được sự giải cứu.

12. Thiên Lương.

Thiên Lương hóa khí là Ấm, nhập Phụ mẫu cung là tường diệu. Nếu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa đồng độ hoặc hội chiếu, cùng chủ đắc phụ mẫu ấm tí, lại chủ có di sản thừa kế để lại, người có kiến Thiên Vu đồng hội càng thêm chính xác. Duy chỉ bất hỉ cùng với Lộc Tồn đồng độ, chủ hai thế hệ (lưỡng đại) bất hòa, canh kiến Sát Hình đẳng diệu, thì chủ di sản phân tranh. Thiên Lương lạc hãm, thông thường cùng chủ hình thương khắc hại. Thiên Lương hội Kình Dương, Thiên Mã, chủ là người còn thiếu niên đã li gia. Người có Sát trọng các sao thì chủ tái bái phụ mẫu hoặc làm rể nối dòng giữ việc cúng tế (nhập chuế thừa thiêu).

Thiên Đồng đồng độ, thông thường không chủ hình thương khắc hại. Vô Sát, kiến Thiên Mã, thì chủ phụ tử có duyên phân ly (duyên phân thiển), hoặc phụ thân thường li gia đình, hoặc tự bản thân mình viễn li rời xa phụ mẫu. Duy chỉ Thiên Đồng nếu Hóa Kị, hội Sát, thì cũng chủ có bị hình thương. Hoặc hai thế hệ bất hòa, cũng thích nghi xuất tự trùng bái. Thiên Đồng Thiên Lương đồng độ, chủ ấu niên phụ mẫu li gia.

Người có Thái Dương Thiên Lương đồng độ, hội Cát diệu không bị hình thương khắc hại. Với người tại Mão cung càng thêm chủ đắc phụ mẫu phúc ấm; tại Dậu cung không thì phụ nghiệp tiêu ma (tại yểu ngụ phủ tắc phụ nghiệp tiêu ma). Nếu kiến Sát diệu, nhưng vẫn chủ hình phân li, trùng bái phụ mẫu hoặc làm rể nối dòng giữ việc cúng tế (nhập chuế thừa thiêu).

13. Thất Sát.

Thất Sát thủ Phụ mẫu cung là Ác diệu. Thông thường cùng chủ tảo niên li gia, hoặc phụ mẫu có bị hình thương khắc hại.

Thất Sát và Liêm Trinh, Vũ Khúc đồng độ, cùng đối với phụ mẫu bất lợi. Người có Hóa Kị thì tai bệnh, canh kiến Sát Hình chư diệu, thì hoặc phụ mẫu tử vong, hoặc phụ mẫu sự nghiệp băng bại, hoặc kiến trọng tai nguy chứng. Thất Sát duy chỉ cùng với Tử Vi đồng độ, kiến cát tinh tường diệu, mới không bị hình khắc thương hại. Người có Thất Sát nếu hội chiếu Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, Cô Thần các sao này, hình thương khắc hại rất nặng. Duy chỉ có Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Phúc, Thiên Thọ có thể tái sinh giải cứu. Kiến Tử Vi cùng Thiên Tướng hội chiếu các sao này càng thêm chính xác, có thể hóa giải đi hiểm nguy.

14. Phá Quân.

Phá Quân tại Phụ mẫu cung cũng là Ác diệu, tính chất tương đồng Thất Sát. Tối hiềm Vũ Khúc, Liêm Trinh đồng độ, lại càng bất hỉ Hóa Kị. Duy chỉ có hỉ Tử Vi đồng độ lại hội Cát diệu, thì có thể tránh được hình thương khắc hại. Thông thường tình huống giống như sau, Phá Quân thủ Phụ mẫu cung, cùng chủ hình thương phụ mẫu, hoặc cảm tình bất hòa hiệp, bất luận phụ mẫu tồn vong đều chủ cô độc lẻ loi. Thích nghi viễn li phụ mẫu, hoặc xuất tự, nhập chuế, hoặc trùng bái phụ mẫu. Nếu Phá Quân và Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, với người kiến Sát Hình Kị các sao này, chủ phụ mẫu có trọng bệnh. Phá Quân thủ Phụ mẫu cung, chủ bất thủ tổ nghiệp, hoặc tổ nghiệp hao tán.

(Trung Châu Phái – Tử Vi Đẩu Số Sơ Cấp Giảng Nghĩa)

Trung Châu Phái

0

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo “xu cát Tỵ hung”, và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có “địa vận” và “nhân vận”.

“Địa vận” có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, “nhân vận” thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè, .v.v… lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo “xu Cát Tỵ Hung” (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính Cục hạn này của “Tử Vi Đẩu Số”, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (địa vận) và chủ chương hành động của con người (nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép “theo cát tránh hung” là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên co ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến “cách” luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: “Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh để có nguy cơ”. Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: “Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi”, Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: “Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con”. Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, “gây tê toàn thân” cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là “túc mệnh luận”, tức chẳng thể luận đoán ra chuyện “không thể thay đổi được”. Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán “sinh con khó dưỡng” không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: “Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm”, nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao “Tham lang Liêm trinh” tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này “có máu” nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ “phóng đãng” để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm “lãng tử”, lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là “phóng đãng”.

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: “Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ”. Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thảm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa , có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu , tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tật Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy ,ới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm “tam phương tứ chính”, sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán “tam phương tứ chính” của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao

3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ

3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng chu cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp “tay trắng làm nên”, hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình “tay trắng làm nên”, điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở “tam phương tứ chính” của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Cồn sự hiển thị ở “tam phương tứ chính” của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thẻ luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tật Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

– Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân

– Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là “Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội”, trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.

– Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)

– Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.

– Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tí), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng

– Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh, .v.v… Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 – 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kinh vận Đà)

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình Đà, thấy khéo trung hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có ký lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, “Tử vi Tham lang” tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tỵ, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là “không có niềm vui gia đình”, xấu nhất tức là “lưu Kình của Lưu niên” xung động “lưu Kình của Đại hạn”, đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ “Tử vi Tham lang”.

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tật Ách của người chồng, thì thấy “Thiên cơ Thái âm” tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời “tam phương tứ chính” lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chông này đã rất trác táng. Vì vậy Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

– Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là “mượn sao an cung”. Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi “mượn sao an cung”, ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tử phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi “mượn sao an cung”, kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không “mượn sao an cung”, tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp, đại khái cũng giống tính chất sau khi “mượn sao an cung”. Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm “tam phương tứ chính” của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải “mượn sao an cung”, sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân – Tí, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành “tam phương tứ chính”. Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tí chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tí là cung Ngọ để “mượn sao an cung”, mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành Cục: “tứ sát kèm sát”, tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên du oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, “mượn sao an cung” là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là “bí pháp”, không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là “tinh diệu hỗ hiệp”.

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tí 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tí có tinh hệ “Thiên phủ Vũ khúc”, Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiên đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tí, cung mệnh ở Tí có “Thiên Phủ Vũ khúc”, hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách phối cục là “Lộc Văn củng mệnh”. Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý “cung Mệnh của lưu niên” (cung Tí), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra “cung Phúc đức của lưu niên” của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung mệnh và cung phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là “đào hoa” tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình chi tôi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yên đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến tôi (VĐC)

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì “cung mệnh của lưu niên” xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ “Lộc Văn củng mệnh” phát sinh biến hóa. Đay là một ví dụ tốt về nguyên tắc: “các sao ảnh hưởng lẫn nhau”

“Sao đôi” xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là “Kiến tinh tầm ngẫu“. Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là “Kiến tinh tầm ngẫu” (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp “sao đôi”, khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: “phùng Phủ khán Tướng” (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), “phùng Tướng khán Phủ” (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và thiên Tướng là cặp “sao đôi”. Nhưng cổ nhân thích giữ “bí mật”, cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp “sao đôi” để tham khảo:

Chính diệu:

– Thiên phủ và Thiên tướng

– Thái Dương và Thái Âm

– Thiên Đồng và Thiên Lương

– Liêm Trinh và Tham Lang

Phụ diệu:

– Tử Phụ và Hữu Bật

– Thiên Khôi và Thiên Việt

Tá diệu:

– Văn Xương và Văn Khúc

– Lộc Tôn và Thiên Mã

Tạp diệu:

– Hồng Loan và Thiên Hỷ

– Hàm trì và Đạo hao

– Long Trì và Phượng Các

– Ân Quang và Thiên Quý

– Tam Thai và Bát Tọa

– Cô Thần và Quả Tú

– Thiên Khốc và Thiên Hư

– Thiên Phúc và Thiên Thọ

– Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là “sao đôi” xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

– Loại tình huống có sức mạnh nhất là “sao đôi đồng cung”. ví dụ như tình huống “Thái dương Thái âm” đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

– Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là “sao đôi chiếu nhau”, ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

– Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp “Song phi hồ điệp thức”, tức là “sao đôi” chia ra ở hai bên “hợp cung”, ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp “sao đôi” Khốc Hư lấy tư cách “song phi hồ điệp” hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp “Song phi hồ điệp thức”.

– Cuối cùng là hội hợp “Thiên tà thức” (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tí làm “bản cung”, tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tí là “bản cung” mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện “sao đôi” kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện “sao đôi” theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau .=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là “bí truyền”. Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

“Tá cung an sao”, “Tinh diệu hỗ thiệp”, “Kiến tinh tầm ngẫu”, là Vương Đình Chi tôi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của “Thiên bàn” là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số., thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của “Địa bàn” cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó “Địa bàn” lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của “Thiên bàn”, căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết “Địa bàn”, ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại “Địa bàn” rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở “Thiên bàn” tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở “Thiên bàn” phần nhiều là sao xấu, nhưng ở “Địa bàn” lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của “Địa bàn” cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tỵ, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng “địa bàn” để tìm “căn nguyên tiên thiên”. Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng “địa bàn” để tính “giao thế thời” thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành “tam bàn” Thiên – Địa – Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong “giao thế thời”.

Liên quan đến phương pháp an sao ở “địa bàn” và “nhân bàn”, điều mà xưa nay vẫn được coi là “bí truyền”, thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là “Thiên bàn”, rồi lấy cung Thân của “thiên bàn” đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là “địa bàn”.

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của “thiên bàn” đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là “nhân bàn”, nói một cách chính xác thì đay là “nhân bàn của địa bàn”.

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì “thiên bàn” và “địa bàn” hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì “địa bàn” và “nhân bàn của địa bàn” hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, “Thiên bàn” – “Địa bàn” – “Nhân bàn”, chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung “thiên bàn”, thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn “phi động” ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết “phi động” người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của “thiên bàn”.

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 – 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

– Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn

– Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn

– Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn

…v.v…

– Cho đến cung Kỷ Tỵ là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 – 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là “thiên bàn”, hoặc địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các “Lưu diệu” thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:

– Cung mệnh của Đại hạn từ 23 – 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn

– Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tỵ, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.

– Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các “lưu diệu” vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán “Lưu niên”, “Lưu nguyệt”, “Lưu nhật”, giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng, Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn – tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên – Lưu nguyệt – Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tỵ, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với “Lưu diệu” ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tỵ, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục “Lộc” và “Lưu Lộc” hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao “lưu” đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với “lưu diệu” thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với “lưu diệu” của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai “lưu diệu” đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tỵ, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tỵ, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tí, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tí, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tỵ, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương xung hội, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đày dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên 

2- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về “tinh bàn phi động”, cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tỵ có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để “nhập cung an sao” cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phù Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát – hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 – 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu tham lang ở Tí, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liên trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 – 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để “nhập cung an sao” cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ “Kị xung Lộc”, đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. “Âm Dương Lộc Quyền” hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ ; thêm vào đó “Thái dương Thiên lương” có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tí, lại thêm các sao “đào hoa” đồng độ, vì vậy chủ về “thành hôn mà không có nghi lễ chính thức”. Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp “thái dương Thiên lương” và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để “nhập cung an sao” cho cung Đinh Dậu, bị Kinh dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tỵ, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tỵ, cho tới mượn phép “an sao nhập cung” của cung Tân Sửu là tinh hệ “Thiên đồng Cự môn” cho cung Ất Mùi, và “Thái dương Thiên lương”, đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trung hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tí 1984, “Vũ khúc Thiên tướng” ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng “Hình Kị giáp ấn”, “song Kị giáp”, “Dương Đà giáp”, mà còn là Cục xấu “Linh Xương Đà Vũ”. Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tí có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tỵ (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu “Kình Đà giáp Kị”, mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tỵ gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu “song phi hồ điệp”

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 – 43 tuổi (tử tức). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra “tam phương” mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần phải tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối củng với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tật Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tật Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây ta quay trở lại cung Đinh Tỵ (cung nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có “Liêm trinh Thiên phủ” và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu ; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tật Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tỵ hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tật Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với “Liêm trinh Thiên phủ” và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

– Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.

– Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tí, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng

– Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy

– Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh

– Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.

– Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.

– Thiên di lập tại cung Đinh Tỵ, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt

– Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai

– Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng

– Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh

– Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.

– Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chu ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tỵ) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ “Thái dương Thiên lương” ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn “Thiên đồng Cự môn”, Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để “an sao nhập cung” cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách “Lộc Mã giao trì”, lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép “an sao nhập cung” cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng “Lộc Mã giao trì”, vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tỵ đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn “Thiên đồng Cự môn” và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để “an sao nhập cung” cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát – Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

Ví Dụ (bạn nào mò thử lá số hộ xem khả năng tự an sao đến đâu

Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ.

Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có “Thiên đồng Thiên lương” đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tí (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để “an sao nhập cung”, biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là “Kình Đà giáp Kị”), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải “giáp Kị”, nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn “Liêm trinh Tham lang” của cung Tỵ để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có “Vũ khúc Thất sát”, cung Mùi là Thiên tướng của “Hình Kị giáp ấn”.

Điều xấu nhất là, cung Tật Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình ; hội hợp với “Thiên đồng Thiên lương”, Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát – kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tật Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc “xu cát Tỵ hung”. Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

(bạn nào mò thử lá số hộ)

– Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

– Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

– Cung Tật Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tí hội chiếu, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tật Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

– Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

– Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tỵ, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tỵ, trong cung Tỵ lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

– Hạn 3 tuổi ở cung Tật ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tí, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

– Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vậy chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rát khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

————————————-

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, chúng ta phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

– Một tuổi ở cung Mệnh

– Hai tuổi ở cung Tài bạch

– Ba tuổi ở cung Tật ách

– Bốn tuổi ở cung Phu thê

– Năm tuổi ở cung Phúc đức

– Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem “tam phương tứ chính” của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì “nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn”, không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán “tử kỳ” cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.
Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm “can chi” ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi “Nhâm Tuất” để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân, .v.v…

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tí đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mông 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can chi Tân Dậu để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tí, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

– Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.

– Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ

– Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ

– Phúc đức tại cung Canh Tí, có Tham lang, Văn khúc

– Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.

– Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì

– Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không

– Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư

– Tật ách tại cung Quý Tỵ, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan

– Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương

– Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp

– Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc

– Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tí và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tật ách của lưu niên.

Cung Tật ách của lưu niên ở cung Quý Tỵ, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ “Thiên đồng Cự môn” và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với “Thái dương Thiên lương” mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuấtm tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng v[í lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tí, cung mệnh của lưu nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tật ách của lưu nhật, là cung Sửu có “Thiên đồng Cự môn” và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán “lưu thời”, nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tí ở cung Tí, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu, .v.v… đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ hổ độn như sau: (nên viết là Ngũ thử)

– Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tí

– Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tí

– Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tí

– Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tí

– Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tí

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tí khởi giờ Canh Tí, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.

Phụ Tá Sát Hóa diệu luận

===========================

Phụ diệu và Tá diệu

Trong Tử Vi Đẩu Số, tác dụng của các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát diệu, Hóa diệu, và Tạp diệu sẽ khiến 60 tinh hệ do 14 chính diệu cấu tạo thành có thể biểu hiện các tính chất phức tạp, để phản ánh sự phức tạp của đời người. Chúng có thể nhuyễn hóa, hoặc làm mạnh thêm, hoặc làm yếu đi bản chất của tinh hệ gốc. Trong khi vận dụng phối hợp, 12 tinh bàn đơn giản ban đầu sẽ trở nên sôi động, thành các tổ hợp thiên biến vạn hóa (một chính và một phản, thành 6 nhóm kết cấu tinh hệ).

Điều tối quan trong của Tử Vi Đẩu Số là chứng nghiệm, sở dĩ có tinh hệ và tính chất của các sao, thực ra cũng là do người xưa chứng nghiệm rồi ghi chép lại. Ta nên căn cứ vào tình hình sinh hoạt của xã hội hiện đại, để bổ xung chứng nghiệm của người xưa, thì chứng nghiệm của “Đẩu Số” mới giữ được sự chính xác theo thời gian.

Theo sự lưu truyền của phái Trung Châu, các sao không phân chia theo cấp (cấp 1, cấp 2, .v.v…) mà được phân chia thành Chính diệu, Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh, Hóa diệu, Tạp diệu và Lưu diệu.

Phụ diệu là 4 sao Tả phụ, Hữu Bật, Thiên khôi, Thiên việt, thông thường người ta cộng thêm Văn xương, Văn khúc, và gọi là “Lục cát tinh”.

Trong các Phụ diệu, thì Thiên Khôi và Thiên Việt được gọi là “quý nhân”, còn Tả Phụ và Hữu bật được gọi là “trợ thủ”.

Lợi ích do Phụ diệu mang lại thuộc về “tha lực” (do các nhân tố khách quan tác động), không phải do cá nhân nỗ lực mà được. Những người được vận tốt, hoàn toàn chỉ là do nắm được thời cơ, mà không phải có người đặc biệt cố tình mang lại lợi ích cho họ. Nếu không có thời cơ thích đáng, những người này dù có nỗ lực theo đuổi cũng không thể có được.

Còn lợi ích do Tá diệu mang lại, thì thuộc về “Tự lực”, cần phải trải qua nỗ lực tranh thủ mới có được. Có Văn xương, Văn khúc chiếu mệnh, thông thường chủ về học hành thông minh, nhưng bản thân phải chịu khó học tập mới được. Có Lộc tồn Thiên mã thì có thể làm ăn kinh doanh phát tài, nhưng bản thân cũng phải chịu đi kinh doanh mới được. Cho nên , 4 sao Tá diệu Văn xương – Văn khúc – Lộc tồn – Thiên mã có thể được phát huy, là do “tự lực”.

Lợi ích do Tá diệu mang lại, thì nhất định bản thân phải nỗ lực tranh thủ, trái ngược với tính chất của Phụ diệu. Ví dụ như Lộc tồn Thiên mã thông thường chủ về xuất ngoại kinh doanh làm ăn và trở nên giầu có. Nếu cung Mệnh, hoặc cung Di gặp nhóm Tá diệu này, nhưng bản thân Mệnh tạo lại không đi kinh doanh làm ăn, thì nhất định không có được tài phú.

Như đã nói, Văn xương và Văn Khúc chủ về khoa cử và công danh, giả dụ cung Mệnh hoặc cung Phúc gặp nhóm sao này, nhưng bản thân Mệnh tạo lại không đi học, thì nhất định không thể có học vị.

Cần phải hiểu rõ sự khác biệt giữa Phụ diệu và Tá diệu, để lúc luận đoán mới phân biệt được tính chất khác nhau của cùng một tinh hệ.

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách cho đương số là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vấn đề. Nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không, tài phú có được như ý hay không, .v.v… Do đó có thể nói cung mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu thiên của đương số. Nếu cung Mệnh cát, cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát, nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát, cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu. Đại hạn có cung Mệnh của đại hạn. Lưu niên có cung Mệnh của lưu niên. Thảy đều căn cứ vào những tính chất của các sao ở 12 cung để luận đoán.

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách cho đương số là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vấn đề. Nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không, tài phú có được như ý hay không, .v.v… Do đó có thể nói cung mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu thiên của đương số. Nếu cung Mệnh cát, cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát, nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát, cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu. Đại hạn có cung Mệnh của đại hạn. Lưu niên có cung Mệnh của lưu niên. Thảy đều căn cứ vào những tính chất của các sao ở 12 cung để luận đoán.

Thông thường, mới học Đẩu Số chỉ lấy tính chất các sao của cung Mệnh để làm đối tượng quan sát tinh bàn. Thực ra không phải vậy, đại hạn có cung Mệnh của đại hạn, lưu niên có cung Mệnh của lưu niên. Lấy một ví dụ:

Mệnh lập tại cung Đinh Sửu có tinh hệ “Tử vi Phá quân”, hội hợp với cung Quan có “Liêm trinh Tham lang” và cung Tài có “Vũ khúc Thất sát”. Khi luận đoán, đương nhiên sẽ căn cứ tính chất của các sao ở tam phương tứ chính hội hợp với “Tử vi Phá quân” của cung Mệnh để luận định.

Lúc 2- 11 tuổi, cũng dùng các sao của cùng một cung để luận đoán, nhưng còn phải thêm vào các Lưu diệu thuộc cung này. Như cung can của bản cung là Đinh Sửu, cho nên lưu Lộc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Mùi, lưu Đà ở cung Tỵ, lưu Khôi ở cung Hợi, lưu Việt ở cung Dậu, lưu hóa Lộc là Thái âm, lưu hóa Quyền là Thiên đồng, lưu hóa Khoa là thiên cơ, lưu hóa Kị là Cự môn. Lại vì cung chi là Sửu, cho nên lưu Mã ở cung Hợi.

Lúc 32 – 41 tuổi, đại hạn đến cung Giáp Tuất, tuy là cung Tử Tức của tinh bàn nguyên cục, nhưng lúc này không phải là xem con cái, mà là lấy cung Tử tức này làm cung Mệnh của đại hạn. Cung Tử có Thái dương độc tọa ở cung Tuất, tức là Thái dương đóng ở cung Mệnh của đại hạn. Lần lượt theo thứ tự nghịch mà xắp xếp “12 cung đại hạn”, lấy cung Dậu làm cung Huynh của đại hạn, cung Thân làn cung Phu thê của đại hạn, cung Mùi làm cung Tử tức của đại hạn, .v.v… Căn cứ vào can chi của cung đại hạn là Giáp Tuất mà tìm Lưu diệu, như lưu Lộc ở cung Dần, lưu Dương ở cung Mão, lưu Đà ở cung Sửu, .v.v… cho đến lưu Mã ở cung Thân. Rồi mang các Lưu diệu kết hợp với các sao vốn bài bố ở tinh bàn nguyên cục để luận đoán.

Luận đoán lưu niên cũng vậy. Như lưu niên năm Giáp Tí, mượn sao của cung Tí trong tinh bàn, cung Tí trong tinh bàn có Thiên Cơ độc tọa, nên lấy Thiên Cơ làm chính diệu của cung Mệnh của lưu niên. Đồng thời cũng từ cung Tí bài bố nghịch chiều, lấy cung Hợi là cung Huynh của lưu niên, lấy cung Tuất làm cung Phu thê của lưu niên, lấy cung Dậu làm cung Tử tức của lưu niên, .v.v… đến cung Sửu làm cung Phụ mẫu của lưu niên.

Nhưng khi tìm các lưu diệu của lưu niên, do là lưu niên Giáp Tí, cho nên phải dựa vào can Giáp để tìm các lưu diệu, mà không dùng “Bính Tí” của tinh bàn. Điểm này cần đặc biệt chú ý.

Tóm lại do cung Mệnh có thể “phi động”, cho nên khi luận đoán vận thế của đại hạn, lưu niên, thì cần phải theo những điều đã thuật ở trên, để nhận thức tính chất của cung Mệnh sau khi đã “phi động”.

LUẬN ĐOÁN 24 TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH

1- Luận đoán cung Mệnh điển hình – đương số Gia Cát Lượng, âm nam, sinh giờ Tỵ, ngày 23, tháng 7, năm Tân Dậu – Mệnh chủ Văn Khúc – Thân chủ Thiên Đồng, mộc tam cục.

Cung Mệnh là Thiên Đồng độc tọa ở cung Mão, đối cung có Thái âm, tính chất cơ bản là hành xử theo thình cảm, may mà có Linh tinh và Thiên hình đồng độ, trở thành sức mạnh kích phát và áp chế tình cảm. Cho nên Gia Cát Lượng tuy bị tình cảm của Lưu Bị chi phối, mệnh vận một đời chỉ vì “thác cô ở Bạch đế thành” mà đã quyết định “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”, nhưng Ông cũng có thể đè nén tình cảm, gạt lệ mà trảm Mã Tắc.

Xem cung Phúc đức, có Thái dương hóa Quyền, đối cung có Cự Môn hóa Lộc, Thái dương chủ về lao thân, Cự Môn chủ về lao tâm, tuy được “Lộc Quyền Khoa” tụ hội, nhưng cũng chủ về vất vả mà có thành tựu, có tính chất không chịu hưởng an nhàn, mà phải thân tâm vất vả.

Tinh hệ phối hợp của cung Mệnh là Thiên Đồng, là người ôn hòa đôn hậu, thông minh mẫn tiệp, rất ưa Lộc tồn hội chiếu, tay trắng mà làm nên nghiệp lớn. Ông phụ tá Lưu Bị chia 3 thiên hạ, trong tinh bàn tự đã có điềm ứng, còn được hội hợp Cự môn hóa Lộc chủ về khẩu tài, hội Thiên cơ chủ về mưu lược quyền biến, đều trung tín mà thâm trầm.

Cung Mệnh gặp Linh tinh, còn cung Phụ mẫu gặp Hỏa tinh, Đà la, Kình dương, nên sớm thành cô nhi. Gặp “sao đôi” Tả phụ Hữu bật, mà không có “sao lẻ” tụ hội, nên không chủ về có cha mẹ nuôi (theo Tam Quốc chí của Trần Thọ), Gia Cát Lượng còn nhỏ đã mất cha, theo chú là Gia Cát Chi nương nhờ Lưu Biểu ở Kinh Châu, tức ứng nghiệp sớm mồ côi.

Niên hiệu Kiến An thứ 12, năm Đinh Hợi, Gia Cát Lượng 27 tuổi, Lưu Bị ba lần viếng nhà tranh ở Long Trung, là năm Gia Cát Lượng bắt đầu xuất hiện thi thố tài năng. Theo tinh bàn là thuộc đại hạn Tân Sửu, cung Quan là Thái Dương song hóa Quyền, được Cự Môn song hóa Lộc, kèm lưỡng trùng Thiên mã đến xung, đương nhiên tiền đồ sáng sủa. Văn Xương song hóa Kị, bất quá chỉ chủ về xuất trận nổi danh nên chuốc đố kị mà thôi.

Qua năm Mậu Tí thì Lưu Biểu chết, con của Lưu Biểu là Lưu Tông hàng Tào Tháo, thế là Lưu Bị chạy ra Chương Dương, Gia Cát Lượng phụng mệnh đi sứ sang Đông Ngô, liên kết với Ngô để đại phá Tào Tháo ở Xích Bích. Năm đó cung Mệnh có “Liên trinh Thiên tướng”, được Cự Môn hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung, thành cục “Tài Ấm giáp ấn”, cung Quan ở Thìn có Vũ Khúc được Tham Lang vậy chiếu, lại gặp Tả Phụ Hữu bật Kình Dương Đà la xung xạ mà không có hóa Kị. Mệnh cách vốn là Thiên Đồng tọa thủ cung Mệnh, không gặp Sát thì không chủ về tinh anh hơn người.

Đến đại hạn Canh Tí ở cung Tử tức, là 10 năm Gia Cát Lượng làm nên công nghiệp. Đại hạn này cung Mệnh là “Tài ấm giáp ấn”, cung Quan của đại hạn này ở Thìn có Vũ khúc hóa Quyền, Thiên phủ lại hóa Khoa có Sát tinh đến hội, công nghiệp tuy thành nhưng cũng chủ về vất vả. Cung Phụ mẫu được Thái dương hóa Lộc ở đại hạn, xung khởi 4 sao hóa Lộc Quyền Khoa Kị cùng chiếu , đây là điềm Lưu Bị vì tâm lý buồn phiền mà trút gánh nặng lên Ông.

Sau năm 43 tuổi, vào đại hạn Kỷ Hợi là cung Tài bạch của nguyên cục, thiên bàn chỉ được Quyền Lộc cùng chiếu, lại gặp Văn xương hóa Kị. Năm Quý Mão thì Lưu Bị chết ở Vĩnh An, Ông nhận di chiếu phò tá Lưu Thiện. Thái Âm hóa Khoa, còn Văn Khúc hóa Kị xung hóa Khoa mà vây chiếu cung Mệnh, cho nên thanh danh ngày càng thịnh mà âm kị ngày càng sâu.

Gia Cát Lượng có con rất muộn, năm Đinh Mùi 47 tuổi mới sinh Gia Cát Chiêm. Phái Trung Châu chỉ tính được năm mang thai, không tính được năm sinh con. Đồng thời vợ Ông mang thai vào lúc Ông ở tuổi 46 (năm Bính Ngọ), là năm cung Tử tức của đại hạn có Thiên đồng hóa Lộc, xung khởi Cự môn hóa Lộc, cung Mệnh của đại hạn gặp Hồng loan, Thiên hỷ.

Lúc ông 48 tuổi (năm Mậu Thân), là Mã Tắc phạm sai lầm, bại trận quay về Hán Trung. Là năm cung Nô bộc ở Mùi hội hợp Thiên cơ hóa Kị, Văn khúc hóa Kị, Văn xương hóa Kị.

Qua năm Kỷ Dậu, ông trinh phạt Ngụy, đánh chiếm hai quận Vũ đô và Âm bình, cung Quan ở Sửu có Thiên Lương song hóa Khoa xung chiếu Thái Dương hóa Quyền, đồng thời hội nhập cung Mệnh, đáng tiếc là Văn Khúc hóa Kị lại hội Văn Xương hóa Kị, cho nên không thể thành công trọn vẹn

Đại hạn Mậu Tuất, cung Mệnh của đại hạn có Tham Lang hóa Lộc, được Vũ Khúc triều củng, cho nên lúc 54 tuổi xuất binh đến Tà Cốc, Tư Mã Ý cam chịu tiếng hèn, không dám ứng chiến, oai danh của Gia Cát Lượng có thể nói là cực kỳ hiển hách.

Nhưng đại hạn cung Tật ách, có Thái Dương, Văn Xương hóa Kị hội Thiên Lương, lại có Kình Đà giáp cung, là tinh hệ uống nhầm thuốc. Lúc ông 54 tuổi là năm Giáp Dần, cung Tật ách của lưu niên ở Dậu có Thái Âm tọa thủ, Văn Khúc hóa Kị cùng đến, vừa khớp Thái Dương hóa Kị hội hợp, Thiên Lương ở tam phương đến hội là ứng nghiệm uống lầm thuốc, nên người ta nghi ngờ cái chết của Gia Cát Lượng là do uống lầm thuốc.

(Nguồn: Sưu tầm)

- Advertisement -