28.7 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 56

MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ THIÊN DI”

0

MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ THIÊN DI”

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)


Nằm ở vị trí đối diện với cung Mệnh trên lá số, cho nên cung Thiên Di có một tầm quan trọng không kém gì cung Mệnh. Có thể nói cung Thiên Di là cái bóng của cung Mệnh trong nhiều ý nghĩa. Cung Thiên Di xung chiếu với cung Mệnh, cho nên những gì xấu tốt của cung này sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ vào cung Mệnh hơn là hai cung Quan Lộc và Tài Lộc, tức hai cung có vị trí hợp chiếu với cung Mệnh. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều này đối với những người Mệnh Vô Chính Diệu, tức là cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ, cho nên phải mượn chính tinh của cung Thiên Di mà nói lên ý nghĩa của cung Mệnh.
Đầu tiên, hai chữ Thiên Di không phải chỉ nói lên ý nghĩa của sự dời đổi hay di chuyển, mà cung Thiên Di còn nói lên cái lãnh vực hay địa bàn sinh hoạt của mỗi người ngoài đời, ngoài xã hội. Nói một cách khác, nếu cung Mệnh biểu hiệu con người của mình khi sinh ra đời, thì cung Thiên Di biểu hiệu con người của mình, vị trí của mình ngoài xã hội nói chung, và trong môi trường sinh hoạt hằng ngày của mình nói riêng.
Cung Thiên Di còn nói lên nhiều nét đặc biệt khác như nghề nghiệp, sự giao thiệp, khuynh hướng tôn giáo, sống hay làm ăn xa ở nơi quê người, chết tha phương hay chết trên quê hương của mình, ra đời được người thương mến hay không, chẳng hạn những người có số Hoa Cái cư Thiên Di là những người ra ngoài thường được nhiều người thương mến, hay ngoài đời thường có được người giúp đỡ hay không, như những người số có cung Thiên Di giáp Tả Hữu, giáp Nhật Nguyệt hay giáp Quang Quý là số mà người ta thường nói là được quý nhân phò trợ, hay những người thân phải tự lập thân, suốt đời chỉ là kẻ độc hành, cũng vì hai sao Cô Quả đóng ở Thiên Di, hoặc số ra đời là được tiền hô hậu ủng, cũng là vì cung Thiên Di được cách tiền Cái, hậu Mã vậy. Và một lần nữa, chúng ta thấy sự sắp xếp các cung trên một lá số của khoa Tử Vi rất có ý nghĩa: cung Thiên Di tam hợp với hai cung Phúc Đức và Phu Thê, cho nên, sự may mắn hay bất hạnh, sự thành công hay thất bại của mỗi người ở ngoài đời đều một phần nào do phước đức của dòng họ cũng như của chính mình tạo nên, và sự hỗ trợ của người bạn đời, là người chồng hay người vợ, đến từ đằng sau hay bên cạnh mình là những yếu tố không thể chối bỏ.
Những đặc tính căn bản của cung Thiên Di vừa nói trên sẽ giúp chúng ta dễ dàng nhìn thấy nét đặc biệt của mẫu người Thân Cư Thiên Di. Thân cư tại Thiên Di nên cá tính đầu tiên mà chúng ta nhìn thấy ở mẫu người này là tính thích hoạt động, thích cuộc sống phải có sự thay đổi cũng như thích di chuyển. Bởi vậy, người Thân Cư Thiên Di không phải là mẫu người trong gia đình, họ là mẫu người ngoài xã hội, là mẫu người như ông bà chúng ta thường ví là ăn cơm nhà vác ngà voi hay việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng.
Từ đó, nếu quý bà mà đức lang quân có số Thân Cư Thiên Di thì đừng mong cuối tuần các ông sẽ ở nhà dọn dẹp nhà cửa hay cắt cỏ, làm vườn, và cũng đừng có buồn với những bữa ăn cơm lạnh, canh nguội bởi các ông về trễ vì phải họp hội đoàn, thăm bạn bệnh, đến chùa hay nhà thờ giúp thầy, giúp cha v.v…


Và ngược lại, nếu phu nhân của quý ông mà có số Thân Cư Thiên Di, thì trước khi cưới hỏi, quý ông cũng nên lo học trước cách luộc trứng, nấu cơm sao cho chín, cũng như học cách pha sữa, thay tả, ru con sao cho con ngủ v.v…, bởi vì người đàn bà có số Thân Cư Thiên Di cũng là mẫu người ngoài xã hội, họ thích cuộc sống bên ngoài hơn là cuộc sống trong gia đình, những sinh hoạt bên ngoài mang đến cho họ nhiều niềm vui và sự thích thú hơn là những việc của một người đàn bà phải làm cho chính bản thân họ, hoặc cho chồng con bên trong gia đình.
Bởi vậy, người Thân Cư Thiên Di không chịu được cảnh sống lẻ loi đơn chiếc vì họ là con người của đám đông, của bạn bè, của hội hè đình đám… Người Thân Cư Thiên Di thích giao thiệp rộng nên thường là những người có năng khiếu trong lãnh vực ngoại giao và tổ chức.
Trong lãnh vực nghề nghiệp, người Thân Cư Thiên Di thích làm những nghề có tính cách di động, thường được đi đây, đi đó, tiếp xúc với nhiều người… Chẳng hạn như hoa tiêu hàng không hay hàng hải, tiếp viên hàng không, chuyển vận đường bộ, hướng dẫn viên du lịch, phóng viên báo chí hay truyền thanh, truyền hình, đại diện thương mãi, ngoại giao v.v… đều là những ngành nghề thích hợp với cá tính của mẫu người Thân Cư Thiên Di.
Hầu hết những người có số Thân Cư Thiên Di thường ra đời sớm, vào nghề và tự lập sớm hơn những người cùng lứa tuổi, điều này có thể vì hoàn cảnh và cũng có thể vì cá tính như vậy. Người Thân Cư Thiên Di có nhiều cơ hội để đi đây, đi đó, sống xa nhà, xa quê hương, nhất là trường hợp cung Thiên Di đóng tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi là những vị trí của Thiên Mã, một sao chỉ về sự di chuyển và thay đổi, như vậy chắc chắn họ là những người thường có cuộc sống nơi đất khách quê người, làm ăn, sinh sống và chết cũng tại quê người.
Và một nét đặc biệt nữa của mẫu người Thân Cư Thiên Di là cung Thiên Di lúc nào cũng đối diện với cung Mệnh, cho nên khi Thân cư vào cung Thiên Di thì Thân và Mệnh đối diện nhau, do đó, người Thân Cư Thiên Di như có “hai con người” trong họ, một con người với những bản chất đã có từ lúc sinh ra, và một con người khác là con người ngoài xã hội, đậm nét nhất là trong môi trường mà họ sinh hoạt hằng ngày.
Tóm lại, mẫu người Thân Cư Thiên Di là mẫu người có một cuộc sống sôi động và thích hợp với ngoài xã hội hơn là trong gia đình. Họ sinh ra để làm việc, để hoạt động và có máu giang hồ, cho nên thường thích ra đời sớm, thích sống xa nhà, xa quê hương cho thỏa chí tang bồng.
Kỳ sau, chúng ta sẽ nói đến mẫu người Thân Cư Tài Lộc, là những người sinh vào giờ Thìn, tức là từ 7 giờ sáng đến 9 giờ sáng, hoặc những người sinh vào giờ Tuất, tức là từ 7 giờ tối đến 9 giờ tối.

ST

MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ QUAN LỘC”

0

MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ QUAN LỘC”

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Những người sinh vào giờ Dần (3am tới 5am) hoặc vào giờ Thân (3pm tới 5pm) là những người có số Thân cư Quan Lộc. Như chúng ta đã biết, cung Quan Lộc trong lá số của mỗi người biểu hiện con đường công danh và sự nghiệp của người đó. Hai chữ “Công Danh” và “Sự Nghiệp” nghe có vẽ rộng lớn và mơ hồ qúa. Nếu nói một cách gần gũi và rõ ràng hơn thì cung Quan Lộc diễn tả nghề nghiệp của một người và có thể chỉ rõ một ngành nghề nào đó như y khoa, điện tử, giáo sư, cảnh sát, quân nhân, ngân hàng, ngoại giao, văn học, nghệ thuật, kinh doanh thương mại v.v… Cung Quan Lộc cũng nói lên sự thành bại trong nghề nghiệp của một người.
Như chúng ta đã nói trước đây, Thân cư cung nào thì cung đó sẽ trở thành lãnh vực sinh hoạt chính yếu trong cuộc đời của người ấy. Do đó, người Thân cư Quan Lộc ngay từ khi còn trong trường học, họ đã có những ý tưởng rõ ràng về ngành học mà họ chọn lựa vì đó là cửa ngõ đưa họ vào đời, là nghề nghiệp của họ sau này. Họ rất cân nhắc và thận trọng trong việc chọn nghề và thường là những nghề mà họ đã có sẵn năng khiếu và ưa thích.


Người Thân Cư Quan Lộc không thích làm những nghề có tính cách tạm bợ. Cho nên khi họ đã bước vào một ngành nghề nào thì đó sẽ là công việc mà họ sẽ theo đuổi suốt cả một đời. Mẫu người này cho dù làm công hay làm chủ cũng không thích đổi nghề. Nếu đi làm công thì ít khi bị mất việc. Có thể nói, họ là những người mà việc tìm họ chứ họ không phải vất vả đi tìm việc như những người khác.
Thân cư Tài Lộc là mẫu người thừa hành đắc lực nhất. Họ là những nhân viên, những thuộc cấp và là những người cộng tác rất có tinh thần và trách nhiệm trong chức vụ của họ. Điều này dễ hiểu vì họ là những người yêu nghề, thích học hỏi.
Người Thân cư Quan Lộc coi sự làm việc như một lạc thú ở đời chứ không phải là một nghề để sinh sống. Họ rất hăng say với công việc.
Những đặc điểm nêu trên là mẫu người Thân cư Quan Lộc mà có cung Quan Lộc tốt đẹp. Ngược lại nếu cung Quan Lộc xấu xa thì đó là hình ảnh của một người chậm công danh, lận đận trên đường công danh, và đây cũng là người sống chết với nghề của mình một cách vất vả, lao đao, hoặc là trường hợp đặc biệt của những người mà chúng ta thường gọi là “sinh nghề, tử nghiệp” chết vì tai nạn nghề nghiệp, thân bại danh liệt, hay bị tù tội vì nghề nghiệp nếu có thêm hung sát tinh, bại tinh hội hợp. Như vậy, quan niệm cho rằng người có Thân cư Quan Lộc sẽ làm Quan là một điều sai lầm. Làm quan hay làm công, thành đạt hay thất bại trong nghề nghiệp cũng phải tùy thuộc vào cung Quan Lộc tốt hay xấu.
Nhìn xa hơn, trong khoa Tử Vi Đẩu Số, sự sắp xếp của 12 cung trên một lá số rất có ý nghĩa. Cung Quan Lộc nằm đối diện với cung Phu Thê cho nên cung Quan Lộc có thể xem như cái bóng phản chiếu của cung Phu Thê vậy. Do đó khoa Tử Vi cho rằng đối với những người có số 2 đời vợ, 2 đời chồng thì cung Quan Lộc là hình ảnh của người vợ hay người chồng thứ hai của đương số.
Điều này rất có ý nghĩa đối với những người Thân cư Quan Lộc, cuộc đời còn lại của họ và cả nghề nghiệp của họ sẽ bị ràng buộc một cách chặt chẽ với người vợ/chồng thứ hai. Điều này chúng ta sẽ bàn kỷ hơn trong mẫu người Thân cư Phu Thê.
Riêng đối với nữ Mệnh, các bà có số Thân cư Quan Lộc thì ngoài những nét đặc biệt đã nêu trên, cung Quan Lộc trong trường hợp này còn có ý nghĩa như một cung Phu, và một vài trường hợp điển hình mà chúng ta nói đến như: Một người đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị Tuần hay Triệt án ngữ thì đường tình duyên cũng trắc trở không khác gì Tuần hay Triệt án ngữ ngay tại cung Phu vậy.
Trong trường hợp như vừa nêu trên, một quan điểm khác của nhà tướng số Thiên Đức trong một bài viết về “Tai Nạn Trinh Tiết” ông khẳng định một cách mạnh mẽ rằng “…bất cứ là lá số của một người phụ nữ nào khi cung Quan Lộc hay cung Thân có Tuần hoặc Triệt, bất luận về yếu tố sao, chắc chắn sẽ không còn là con gái khi về nhà chồng”
Như vậy theo quan điểm này thì bất cứ cung Thân an tại đâu và bất kể cung Thân hay Quan Lộc cho dù có các sao đoan chính tọa thủ, nếu bị Tuần/Triệt thì hai chữ “trinh tiết” của đương số cầm bằng như không có khi bước lên xe hoa lần đầu trong cuộc đời.
Cũng trong trường hợp nữ Mệnh có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị
Tuần/Triệt án ngữ mà còn gặp nhiều hung tinh hay sát tinh thì đương số nên lập gia đình muộn hoặc lập gia đình với một người đã trải qua một lần đổ vỡ trên đường tình thì mới có thể tránh được cảnh cô đơn góa bụa về sau.
Một điểm đặc biệt nữa là đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị nhiều hung tinh sát tinh ảnh hưởng thì đó cũng là số của những người có thể gặp những hoàn cảnh hay tai nạn làm mất danh tiết của mình.
Riêng đối với các ông, nếu là những người có quan niệm sống bảo thủ như ông bà của chúng ta ngày xưa, cho rằng người vợ chỉ là người hiền nội, chỉ là người đàn bà ở trong nhà lo việc nhà, săn sóc cho chồng cho con thì mẫu người đàn bà Thân cư Quan Lộc hoàn toàn không thích hợp với quý ông có quan niệm “chồng chúa, vợ tôi” Lý do dễ hiểu là những người đàn bà có Thân cư Quan Lộc có khuynh hướng độc lập rất mạnh. Họ muốn ra đời và muốn có một nghề nghiệp như đàn ông để suốt đời không bị lệ thuộc vào người chồng.
Cuối cùng, trong ý nghĩa về nghề nghiệp, dù nam hay nữ, khi cung Quan Lộc bị
Tuần/Triệt thì trong đời của đương số phải thay đổ nghề nghiệp ít nhất 1 lần. Bao nhiêu lần và đổi qua những ngành nghề gì thì còn tùy thuộc vào cung Quan Lộc và toàn bộ lá số. Đặc biệt đối với những người Thân cư Quan Lộc thì nghề nghiệp mà họ thay đổi thường là cùng nghề hay cùng trong một lãnh vực với người chồng hay người vợ thứ hai của đương số.
Tóm lại, cung Quan Lộc biểu hiện cho công danh, sự nghiệp, tiền tài và danh vọng của một người, cho nên những người có số Thân cư Quan Lộc thì những yếu tố trên là mục đích mà họ sẽ mang hết tâm huyết của họ để đạt được.

ST

Cung Quan Lộc

0

Cung Quan Lộc

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung Quan Lộc

Cung Quan Lộc có cát tinh miếu vượng địa tọa thủ, như gặp Tả Phù, Hữu Bật và Tử Vi đồng cung, hoặc Tử Vi Hóa Quyền, ắt là nhân vật quan chức cao quý, nếu như cùng lúc có Không Vong Ác Sát tinh thủ, chỉ là chức vị hư huyền, ngoài thì hào hoa mà trong thì hư. Nếu như có Văn Xương, Văn Khúc nhập miếu (cung Tỵ, Dậu, Sửu) thủ Quan Lộc thì chắc chắn quyền quý. Nếu như đồng thời có hung sát tinh cùng cung, phải phòng quan lộ không thuận sướng, trong cái tốt tiềm ẩn cái xấu. Xương Khúc nhập Quan Lộc chủ điềm cát, thường thuộc hàng quyền quý văn chức, nếu như có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng và các sao tốt, lại gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền thì đại quý. Cung Quan Lộc có các sao Vũ Khúc, Tử Vi, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Tả Phù, Hữu Bật thủ chiếu, chủ võ quý, trong quân đội nắm được quyền lớn. Cung Quan Lộc có cát tinh tọa thủ, cung Mệnh tam phương đồng thời có sát, cát, hung tinh thì tốt xấu không đều, nhưng vẫn không làm mất đi cục, nhiều vị là quan lại địa phương, cán bộ cơ tầng, cận kề danh tiếng, theo đuổi thương nghiệp cũng có thể làm một ông chủ nhỏ, nhưng cuối cùng khó thành tựu lớn.

Các sao ở cung Quan Lộc, nếu như gặp ác tinh như Tứ Sát Không Kiếp, người quyền quý đường quan lộc sẽ bị hạn chế, hoặc thành bại đa đoan. Phải xem miếu vượng lợi hãm và cát tinh nhiều ít ra sao, thì mới có thể biết được người đó sự nghiệp lớn hay nhỏ, thông thuận hay không. (Chú: dịch giả dùng chữ “thông thái” là theo nguyên bản bạch thoại, tiếc là “thông thái” tiếng Việt có nghĩa hiểu biết, nên tôi tạm sửa thành thông thuận, hiểu là hanh thông và tốt đẹp).

Lưu niên

 

Đẩu Quân đến Cung Quan Lộc nguyên thủy, gặp Cát tinh thủ chiếu, người có quan chức chủ đường quan lộc năm đó hanh thông, người bình thường thì chủ sự nghiệp thuận lợi. Gặp hung sát thì chủ năm đó sự nghiệp không thuận lợi, thậm chí có thể vị giáng chức hoặc có chuyện phá tài.

 

TỬ VI


Người có Tử Vi nhập cung Quan lộc, cả đời sự nghiệp tương đối bình ổn. Người này có năng lực xử lí công việc và năng lực độc lập làm việc rất tốt, thường là quan chức chính phủ, lãnh đạo xí nghiệp lớn, chủ doanh nghiệp tư nhân, thương nhân. Tử Vi nhập Miếu Vượng địa, gặp các sao như Xương Khúc, Phù Bật, Khôi Việt, Tam Thai, Bát Tọa củng chiếu thì đường quan lộc hanh thông, quý đến cực phẩm, trung lão niên càng thêm phát đạt. Người có cách cục không tốt bằng, cũng là nhân viên làm cơ quan chính phủ, có chút quyền quý, nếu kinh doanh cũng khá giả. (chú: “phú túc” là khá giả, có của ăn của để thôi, chưa thể gọi là giàu có như bản dịch nguyên thủy). Có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Mã đồng cung hội chiếu, là quan chức cấp cao, đại viên tài chính, cự phú thương nghiệp. Tử Vi Hóa Quyền, tất liên hệ quyền bính, nhiều sao tốt thì đại quý. Tử Vi Hóa Khoa, vinh danh truyền khắp (có tính hư danh), dễ phát triển trong giới chính trị, văn hóa, sự nghiệp công chúng. Phàm có Tử Vi nhập cung Quan Lộc, đại đa số đều hợp với các công việc một mặt. Tử vi nếu như không có Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc, phú quý đều ít.

Đồng cung với Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt, quý về Văn, sự nghiệp thuận lợi. Khôi Việt đồng cung, thường làm việc tại ngân hàng, giữ trách nghiệm tài chính. Sát tinh đồng cung hợp võ chức. Cung mệnh tam phương tứ chính hội nhiều Sát tinh, thì người không phú quý, nếu như Cát Hung hỗn tạp, như có thành tựu thì cũng gian khổ không suôn sẻ, tinh thần bị áp lực nặng nề.

Thêm các sao ác Tứ Sát Không Kiếp, cả đời sự nghiệp không thuận lợi lắm, hay trải qua khó khăn, nhưng không đến mức quá tai hại, vì Tử Vi có tác dụng hóa giải. Người có nhiều hung tinh thì sự nghiệp bình thường, chẳng có phú quý gì đáng nói, ngược lại gặp khó khăn nghiêm trọng, hoặc ngoài hào hoa trong hư rỗng, danh không đúng thực.

Tử Vi Thiên Phủ tại Dần Thân, cung Mệnh tất có Vũ Khúc. Gặp cát tinh, được cát hóa thì lợi cả văn lẫn võ, tất là mệnh phú quý, một đời địa vị hiển hách, tài quan đều đẹp. Trong quân đội, chính giới, công thương, xí nghiệp, tài chính, xây dựng v.v… đều nắm được quyền lớn. Nếu không gặp cát tinh thì chỉ là nhân viên bình thường.

Tử Vi Tham Lang tại Mão Dậu, cung mệnh tất có Vũ Khúc Phá Quân. Là người lắm kỹ xảo đầu cơ, thích mạo hiểm để cầu may mắn. Gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Phù, Bật đồng cung có thể đại phú quý, văn võ đều tốt, quyền quý không ít, trong thực nghiệp và chính giới có thể dương danh. Nếu như gặp Tham Lang Hóa Kị, sự nghiệp thăng trầm phong ba, hay gặp cản trở khó khăn. Nếu như không có thêm cát tinh, thì kĩ nghệ lập thân, một đời không thuận lợi.

Tử Vi, Thiên Tướng tại Thìn Tuất, cung mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Thiên Phủ. Hợp võ chức, theo đuổi chính trị hoặc kinh doanh thương nghiệp, thêm Cát tinh thì có thể là đại thương gia, quan lớn, danh lợi gồm thâu. Nếu không gặp Cát tinh mà gặp Sát tinh, phú quý không nhiều. Dương Đà Hỏa Linh đồng cung, sự nghiệp khó mong hiển đạt, cung mệnh tam phương cũng cũng không có cát tinh thì có cuộc đời bình thường.

Tử Vi Thất Sát tại Tỵ Hợi, cung mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Tham Lang. Cả đời sự nghiệp từ đầu đến cuối luôn không được bình yên mấy. Tuổi trẻ không thuận, sau 30 tuổi thì bắt đầu hưng thịnh lên, thích hợp làm kinh doanh. Thêm Lộc Tồn, Tả Hữu có phát triển lớn, làm võ chức thì quý hiển, cung Mệnh gặp Hỏa Linh có thể trở thành người giàu có. Nếu không gặp cát tinh thì bình thường.

Tử Vi Phá Quân tại Sửu Mùi, cung Mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Thất Sát. Là người sáng tạo hơn người, trong sự nghiệp thì dục vọng, ham muốn vô hạn, lại không hòa thuận với cấp trên. Một đời thành lắm bại nhiều, tuyệt không thuận lợi. Nếu hội nhiều cát tinh thì phát đạt trong cảnh cạnh tranh khốc liệt, nếu gặp Xương Khúc Tả Hữu thì sự nghiệp xán lạn huy hoàng. Nếu không có thêm Cát tinh thì sống cuộc đời khó khăn vất vả.

THIÊN CƠ


Thiên Cơ chủ yếu là động, ở cung Quan Lộc sự nghiệp tương đối nhiều biến đổi, tất nhiên trong đời nhiều lần thay đổi công việc, hoặc hay thuyên chuyển, hoặc làm nhiều công việc một lúc, hoặc làm nghề nghiệp tự do. Miếu Vượng địa thì sự nghiệp thành công thuận lợi.

Tả Hữu đồng cung hoặc hội họp thì giỏi quy hoạch, xử lý những công việc phức tạp, có thể có quyền lực và địa vị, thường kiêm nhiều công việc. Xương Khúc đồng cung hoặc hội họp quý hiển và nổi tiếng, thích hợp với công việc trong các ngành văn hóa, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, có thể có thành tựu tương đối cao. Khôi Việt đồng cung hoặc hội họp, trong công việc hay gặp quý nhân, ít khi gặp phiền phức, rắc rối. Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội họp chủ đại quý, nhất định là quan chức cấp cao, nhân vật chính giới quan trọng, nổi tiếng thiên hạ.

Thiên Cơ bình hòa tại Tỵ Hợi, là người không dễ có nghề nghiệp ổn đinh, hay chuyển chức, đổi nghề, thay đổi hạng mục kinh doanh, thiếu tính ổn định.

Thiên Cơ hãm địa hoặc gặp Hóa Kị, hoặc gặp Không Kiếp, địa vị không cao, tất là người không có nghề nghiệp ổn định, thường thất nghiệp hoặc không tìm được công việc. Nếu gặp thêm Sát tinh thì càng xấu hơn, chỉ có thể làm nhân viên cấp dưới, du thủ du thực không nghề nghiệp, không có thành tựu gì, vì vậy mà tất nhiên khốn khổ.

Thiên Cơ, Thái Âm tại Dần Thân, cung Mệnh tất có Thiên Đồng. Có lợi cho các công việc công chức, phục vụ các cơ quan có tính chất tương đối ổn định, thêm Thiên Mã thì hay phải đi công tác, nếu hội nhiều cát tinh thì tài quan song mỹ. Thiên Cơ hóa Khoa, nhất định làm quan chức quản lí hành chính. Khoa Quyền Lộc hội họp, công danh hiển đạt, đại phú đại quý. Gặp Tứ Sát, Hóa Kị, bôn ba đến già, sự nghiệp không thuận lợi.

Thiên Cơ, Cự Môn tại Mão, Dậu, cung mệnh tất có Thiên Đồng. Sự nghiệp hay có nhiều biến động, ở Mão thì tốt hơn ở Dậu, cung Dậu phúc không dài lâu. Có thể theo đuổi các công việc văn hóa, nghệ thuật, quảng cáo, tiêu thụ…, nếu làm thương nghiệp thì có thể là người quản lý.

Gặp Văn Xương Văn Khúc, chủ văn chương cái thế. Ba sao Khoa Quyền Lộc hội họp thì cự phú đại quý, nổi danh trong ngoài. Lộc Tồn đồng cung thì phú quý, dễ làm chính trị. Nếu gặp Sát tinh công việc nhiều cạnh tranh, hợp kinh doanh.
Thiên Cơ Thiên Lương tại Thìn Tuất, cung Mệnh tất có Thiên Đồng, Thái Âm. Cung Thìn tốt hơn cung Tuất. Nếu có Thiên Cơ, Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa hoặc hội Lộc Tồn thì có phú quý. Thích hợp đảm nhận các công việc quản lý. Khoa Quyền Lộc gia hội đời sống tất có kỳ ngộ, cự phú đại quý. Mệnh lạc hãm không sao cát thì không kể. Sao cát phù trợ không đủ là nhân viên hạng thường về quản lý, quảng cáo, kinh doanh tiêu thụ. Nếu không có cát tinh, hoặc các hung tinh hội tụ, thì chủ nghèo khó, cả đời gian khổ. Thiên Cơ ở Thìn gặp Hóa Kị, lại không có cát tinh thì thay đổi công việc liền liền, không việc gì thành công.
THÁI DƯƠNG

Thái Dương chủ về quan lộc, nhập cung Quan Lộc có số nắm quyền, tùy vào miếu hãm mà tình hình khác nhau. Nhập Miếu Vượng địa, gặp các cát tinh như Phù bật, Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc thủ chiếu, đại quý, là quan cấp tỉnh bộ trở lên, sự nghiệp vĩ đại. Hãm địa gặp các cát tinh thủ chiếu thì không mất đi phú quý, nhưng phú quý không bằng được Miếu Vượng địa, mà phúc không dài lâu. Gặp các sao ác Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kị thì chủ địa vị thấp kém, phù hoa mà không thực, không có gì gọi là phú quý hay thành tựu.
Thái Dương Miếu Vượng địa, gặp Tứ Sát Không Kiếp, chịu gian khổ, bận bịu, không thuận lợi, nhưng vẫn có thể khắc phục nghịch cảnh, có thời phú quý. Thái Dương Miếu Vượng địa có Hóa Quyền, Hóa Lộc là điềm cực cát. Gặp Hóa Kị, chủ cạnh tranh, áp lực, thị phi, nếu như Miếu Vượng, có thể gặp thành công ngoài dự kiến. Nếu không Đắc địa hoặc Hãm địa gặp Hóa Kị, chủ thất bại nặng nề. Thái Dương và Thiên Hình đồng cung, đại đa số là quân nhân hoặc nhân viên cảnh vụ.
Thái Dương tại cung Ngọ thủ Cung Quan Lộc, còn gọi là “Nhật lệ trung thiên”, có cái quý của kẻ chuyên quyền, có thể nắm quyền lớn quốc gia, chủ đại phú, có Lộc Tồn đồng cung hoặc hội Lộc Tồn, hoặc gia hội Tả Hữu Xương Khúc, quý không diễn tả được. Nếu không hội cát tinh, chỉ khá giả bình thường thôi. Người này hay kết giao bạn bè, không chuyện gì vẫn bận cuống lên, không có việc thì mua việc vào người.
Thái Dương Thái Âm tại Sửu Mùi, Mệnh Vô Chính Diệu có đối cung Cự Môn Thiên Cơ, một đời sự nghiệp hay biến đổi, chuyển nghề chuyển nghiệp liền liền. Thêm Xương Khúc Tả Hữu, hoặc Thái Dương Thái Âm có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, là quan chức chính phủ cấp cao, nắm quyền lực chính trị quốc gia.
Thái Dương, Cự Môn tại Dần Thân, Mệnh Vô Chính Diệu đối cung Thiên Cơ Thiên Lương. Hợp với các nghề miệng lưỡi, học nghề chuyên môn thành danh, sự nghiệp thường có danh nhiều hơn lợi, quý nhiều hơn phú.
Không có Sát tinh hội họp thì có thời phú quý, Thái Dương Hóa Lộc chủ đại quý, Hóa Quyền Lộc hoặc thêm Tả Hữu Xương Khúc cũng chủ đại phú quý, tất là bậc lương đống của đất nước.
Gặp Tứ Sát Không Kiếp Kị thì không đẹp, có thể làm nghề trái (VDTT chú thích: tức nghề khác thường) hoặc y bốc mệnh tướng.
Cung Dần tốt hơn Thân, cung Dần vận tốt tương đối dài, còn cung Thân thì tiến thoái thăng trầm không ổn định.
Thái Dương Thiên Lương tại Mão dậu, cung Mệnh tất có Thái Âm. Ở Mão tốt hơn ở Dậu, không gặp hung sát chủ cả đời sự nghiệp hưởng phúc. Gặp Lộc Tồn Xương Khúc cát hóa, chủ cự phú hoặc đại quý, nổi danh thế giới. Ở cung Dậu thì bình thường, hậu vận đuối sức, đẹp mà không thực, chủ hư hoa phù ảo, khó được đại phú quý.
VŨ KHÚC

Vũ Khúc nhập Miếu, đồng cung với Xương Khúc Phù Bật, chủ võ chức hiển quý, nắm quyền lớn trong quân đội, cục cảnh sát, hoặc đảm nhiệm những công việc quan trọng tại cơ quan tư pháp, bạo lực.

Người bình thường kinh doanh, buôn bán, cũng chủ sự nghiệp phát đạt. Nếu hội Khoa Quyền Lộc, có thể là quan về tài chính, đứng đầu trong giới tài chính, người kinh doanh có thể trở thành tỉ phú, lãnh đạo xí nghiệp thương nghiệp.

Cung Tài Bạch có Vũ Khúc, có không ít người làm việc ở ngân hàng hoặc các bộ môn tài chính khác. Vũ Khúc Miếu Vượng địa nếu không gặp cát tinh cũng chủ sự nghiệp thông đạt, phát triển ổn định từng bước. Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ phú quý song toàn. Vũ Khúc Hóa Quyền cực đẹp, hiển thị quyền quý, là nhân vật tay sắt (chú: nắm quyền nghiêm khắc). Vũ Khúc Hóa Kị là xấu nhất, sự nghiệp nhiều thị phi, ít nhất cũng một lần đổ vỡ thất bại.Gặp các sao ác như Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Đại Hao thì đa mưu nhưng ít thành công, bị tranh chấp khó khăn, nếu tam phương lại không có cát tinh hội hợp thì địa vị bình thường, không luận là quý hiển. Vũ Khúc hãm địa cũng vậy.

Vũ Khúc Thiên Phủ tại Tí Ngọ, cung Mệnh tất có Liêm Trinh. Được sao tốt củng chiếu thì phú quý, là người nhiệt tình với sự nghiệp, thích hợp xử lý ngoại vụ, thích hợp kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn.

Đồng cung với Lộc Tồn hoặc Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Khoa thì sự nghiệp vĩ đại, hoặc thêm Tả Hữu Xương Khúc thì chủ phú quý, thu được cả danh lẫn lợi, nắm quyền lực, đường sự nghiệp hanh thông. Thêm Khôi Việt thì làm việc ở Bộ Tài chính. Thêm các sao ác sát Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường. Vũ Khúc hóa Kị thì sự nghiệp thăng trầm không thuận lợi, người làm quan tất có tai họa về quan.

Vũ Khúc Tham Lang tại Sửu Mùi, cung Mệnh tất là Liêm Trinh Phá Quân. Trong khi làm việc thường có những hành vi vi phạm pháp luật, bất chính, phú quý tất cũng là quan tham ô vô lại hoặc gian thương. Chủ công việc hay biến động, tuổi trẻ thường thăng trầm, không ổn đinh. Được sao cát củng chiếu thì tốt đẹp, kinh doanh có thể thu được lợi lớn. Sợ thêm Sát Kị.

Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần Thân (chú: Bản bạch thoại đánh sai thành Thìn Tuất), cung Mệnh tất có Liêm Trinh Thiên Phủ. Thêm cát tinh thì sớm nắm quyền lớn, sự nghiệp hanh thông, chủ quyền quý, tài quan cả 2 đều đẹp.Vũ Khúc Thất Sát tại Mão Dậu, cung mệnh tất là Liêm Trinh Tham Lang. Sự nghiệp hay biến đổi thăng trầm, xa hương lập thân có thể phát triển. Hợp kinh doanh, làm công việc đầu cơ, hoặc công việc có tính chất mạo hiểm, nguy hiểm. Đồng cung với Lộc Tồn, chủ phú quý. Được sao cát quyền quý, lập công danh. Kình Dương cùng thủ thì có tai họa tù ngục.

Vũ Khúc Phá Quân tại Tỵ Hợi, cung Mệnh tất là Liêm Trinh Thất Sát. Sự nghiệp có nhiều phức tạp và thay đổi. Thích nhất là Vũ Khúc Hóa Quyền, chủ cả đời quyền quý, Tài Quan đều đẹp. Nếu gặp Thiên Hình, làm quân nhân thì phát đạt. Thêm Quyền Lộc Xương Khúc Tả Hữu thì quý hiển. Nếu không thêm cát tinh thì chủ sự nghiệp bình thường, khó có thành tựu, làm nhân viên bình thường hoặc tiểu thương, hoặc nghề khéo an thân.

THIÊN ĐỒNG

Thiên Đồng là phúc tinh, nhập cung sự nghiệp không hoàn mỹ, tính chất cơ bản hợp tự do, không làm việc trong môi trường chịu hạn chế, khó có thể quản lý chỉ huy các thuộc bộ, như làm chức vụ quản lí thì khó có thể phát huy năng lực. Thiên Đồng nhập miếu, văn võ đều được, nếu hội chiếu có Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa thì chủ đại phú đại quý, thiên hạ biết danh tiếng. Nếu Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt đồng cung hoặc gia hội thì sự nghiệp hưng vượng, hay được giúp đỡ, vận khí cực đẹp, chủ thành công và phú quý. Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp đồng cung hoặc gia hội thì đường sự nghiệp tương đối kém, lắm trì trệ không thông, địa vị không cao, là người bình thường. Nếu như Hãm địa lại thêm Tứ Sát Không Kiếp, thì làm việc gì cũng thất bại, không gì là thành công.

Thiên Đồng ở cung Quan Lộc, không ít người làm ở giới truyền thông, giải trí, văn hóa nghệ thuật. Cục Mệnh thành cách, chủ có đại phú quý. Cục mệnh không thành cách mà không có cát tinh thủ chiếu thì cuối cùng vẫn là người bình thường.

Thiên Đồng Thái Âm tại Tí Ngọ, Mệnh vô chính diệu, đối cung có Cự Môn Thái Dương. Hai sao này miếu vượng địa ở Tí, kinh doanh buôn bán hay làm công chức đều tốt, có thể có danh tiếng địa vị, gặp Lộc Tồn thì chủ phú quý. Cung Ngọ thì 2 sao này hãm địa, nếu không có các sao tốt thì khó có phú quý, một đời lao khổ.

Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu Mùi, cung Mệnh vô chính diệu, đối cung có Thái Dương Thiên Lương. Hai sao cùng hãm, lúc trẻ sự nghiệp không ổn định, thường hỏng giữa chừng hoặc hay gặp chuyện điều động chuyển việc, trung niên trở ra có thể tự tay lập nghiệp trong gian khổ. Không thêm cát tinh, cát hóa thì cả đời địa vị thấp kém, thành tích có hạn. Bất luận có gặp cát tinh hay không, lòng nhiệt tình tận tâm trong công việc cũng không nhiều.

Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần Thân, cung mệnh tất có Thái Âm. Hợp công chức, đảm nhiệm công việc quản lý. Hội Khoa Quyền Lộc thì trong sự nghiệp là người có vận khí đẹp lạ lùng, anh hùng tái thế, đại phú đại quý, nắm quyền lớn trong quân đội chính quyền nhà nước. Tả Hữu Xương Khúc gia hội thì có thể đạt được thành tựu trên chính trị. Nếu gặp Tứ Sát Không Kiếp, là nhân viên kĩ thuật hoặc hợp kinh doanh.

LIỂM TRINH

Liêm Trinh là chủ Quan Lộc, nhập cung Quan lộc đều có cơ hội nắm quyền. Nếu không gặp Sát tinh, thì là người coi trọng hiệu quả công việc, có thể phát huy năng lực trác việt, hợp với công việc quản lý.

Nếu gặp Dương Đà Không Kiếp thì sự nghiệp không thuận lợi, thị phi không ngớt, làm chuyện gì cũng khó thành.Nếu hãm địa lại thêm Sát tinh thì không có công danh, phải đề phòng chuyện thị phi quan chức.

Liêm Trinh Hóa Kị và Thất Sát, Tứ Sát, Thiên Hình đồng cung tại cung Quan Lộc thì có họa ngục tù, bức hại chính trị.Liêm Trinh tại Dần Thân, nhập Miếu, cung Mệnh là Tử Vi Thiên Tướng. Chủ quyền quý võ chức, kinh doanh đại quý, hội chiếu cùng cát tinh thì phú quý song toàn. Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc đồng cung với Lộc Tồn thì chủ đại phú đại quý. Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung thì tuổi trẻ khó thành công lớn, tuổi già vượng phát.

Liêm Trinh Thiên Phủ tại Thìn Tuất, cung Mệnh tất là Tử Vi. Có năng lực quản lí ưu tú, tuổi trẻ sự nghiệp không ổn đinh, trung niên đến nơi khác thì phát triển, có thể thu được thành công ngoài mong đợi. Được nhiều cát tinh tụ chiếu thì văn võ phú quý. Liêm Trinh Hóa Lộc, Võ chức quý hiển, kinh doanh đại phát. Phù Bật Xương Khúc xung chiếu (VDTT chú: Xung chiếu đây chỉ có nghĩa hội họp), thì làm chính trị, có thể thành quan lớn. Liêm Trinh Hóa Kị, phú quý đều ít.

Liêm Trinh Tham Lang tại Tỵ Hợi, cung Mệnh tất là Tử Vi Phá Quân. Là người có kĩ năng giao tiếp, có thể là nhân viên công vụ, nhân viên ngoại giao tiêu thụ, tầng lớp cán bộ, cảnh sát, chủ doanh nghiệp tư nhân. Không ít người là quân nhân. Nếu gặp nhiều cát tinh thì kinh doanh hay làm công chức đều được, có thể phát triển được trong môi trường cạnh tranh hoặc thị phi. Nếu thêm Sát tinh thì chức vị nhỏ, hoặc vì vấn đề với người khác phái mà xảy ra tranh chấp, hoặc hành vi bất chính nên bị phạt. Hóa Kị thêm Sát tinh thì chắc chắn ngồi tù.

Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tí Ngọ, cung mệnh tất là Tử Vi Thiên Phủ. Hội hợp cát tinh, gia hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì cự phú đại quý. Gặp Tả Hữu Xương Khúc thì văn võ đều tốt, quyền quý có thời.
Kình Dương đồng cung chỉ hợp buôn bán. Hỏa Linh đồng cung tất là tham quan ô lại. Không Kiếp Đồng cung, sự nghiệp ngoài đẹp trong rỗng.
Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu Mùi, cung Mệnh tất là Tử Vi Tham Lang. Hợp trong quân đội lập công, nếu có thêm cát tinh thì chủ công danh hiển đạt. Khoa Lộc Quyền hội hợp thì cự phú đại quý. Tả Hữu Xương Khúc đồng cung hoặc gia hội thì văn võ đều tốt, sự nghiệp hưng thịnh.
Liêm Trinh Phá Quân tại Mão Dậu, cung Mệnh tất là Tử Vi Thất Sát. Sự nghiệp có nhiều khó khăn, nếu gia hội cát tinh thì trong gian khổ có thể lập được đại công. Nếu Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Tồn, Hóa Lộc hội hợp thì văn võ đều tốt, sớm nắm uy quyền, chủ phú quý. Kinh doanh cũng phát hoạnh tài đại quý. Nếu không có cát tinh thì phúc không được lâu dài. Thêm sát tinh thì người bình thường.
THIÊN PHỦ

Thiên Phủ vào cung Quan Lộc chủ cát lợi, chỉ cần không gặp Sát tinh thì nhất định sự nghiệp có thành tựu. Nhập Miếu được nhiều cát tinh thủ chiếu là bậc tài năng văn võ, công danh hiển hách, nếu không làm công chức mà làm thương nghiệp cũng luận là phát đạt. Gia Tứ Sát Không Kiếp thì không đẹp, sự nghiệp nhiều trở ngại thăng trầm và hay tranh chấp, nếu hội chiếu nhiều sát tinh thì chủ nghèo khổ, không nghề nghiệp địa vị đáng nói, chung quy thuộc hạng người bình thường.

Thiên Phủ tại Sửu Mùi, Mão Dậu, gia hội Lộc Tồn Tả Hữu hoặc Xương Khúc, chủ đại phú đại quý.

Thiên Phủ tại Tỵ Hợi, có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt gia hội thì đại phú đại quý, nếu không gặp cát tinh thì trong sự nghiệp là người tương đối cẩn trọng bảo thủ.
THÁI ÂM

Sự nghiệp tương đối bình ổn, nhập Miếu luận tốt, được Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa củng chiếu thì chủ quyền quý, không công hầu tất là vương. Đồng cung hoặc gia hội với Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt thì có thể có địa vị cao, một đời có danh tiếng. Thái Âm nhập cung cung bình nhàn (VDTT chú: Nhàn ý là kém, kiểu Việt Nam “ngồi chơi xơi nước”), hội Xương Khúc Tả Hữu cũng là người quan quý. Thái Âm nhập Miếu Vượng, Sát tinh ít, có Tả Hữu gia hội, lại hội Lộc Tồn thì có thể vô cùng giàu có trong công thương nghiệp. Thái Âm hãm địa thì đường sự nghiệp không đẹp, làm nhiều mà thành quả ít, nếu lại gặp Tứ Sát Không Kiếp tất là người bình thường.

Thích hợp đảm nhiệm các công việc suy nghĩ tư duy, kế hoạch. Đồng cung với Xương Khúc thì có thể đạt được thành công trong công việc văn hóa, học thuật, công chúng. Nếu như lại gặp Long Trì Phượng Các nữa thì có thể nổi danh trong giới nghệ thuật. Tả Phù Hữu Bật tương hội thì có thể phát triển trong giới chính trị. Cùng Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Cơ tương hội thì có thể làm công chức hoặc làm việc trong những xí nghiệp lớn. Thái Âm Hóa Lộc, không những sự nghiệp thành công mà còn thu được danh lợi, tài vận rất tốt. Thái Âm Miếu Vượng địa có Hóa Quyền, chủ quan quý, thêm Tả Hữu Xương Khúc thì phú quý xuất chúng. Thái Âm Hóa Khoa, tiếng tăm lẫy lừng, có thể theo đuổi nghệ thuật hoặc học thuật, nghiên cứu khoa học.

THAM LANG


Cách cục khai sáng, sự nghiệp thăng trầm nhiều biến đổi. Không thích hợp với những công việc ổn định, đơn điệu và bình thường. Hay làm những nghề nghiệp không bị thúc bó, có thể biến hóa, giàu tính đầu cơ, mạo hiểm, có rất nhiều mối quan hệ trong giao tiếp, tiệc tùng mà hình thành công việc, có thể kết giao với người quyền quý, quan chức chính phủ. Nhập Miếu thì sự nghiệp sớm hưng thịnh, có thể đạt được nhiều cơ hội bất ngờ mà thành công. Gặp Hỏa Linh đồng cung, Văn Võ chức quyền quý, đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng, phú quý song toàn. Tam phương tứ chính không có Dương Đà Không Kiếp mà hội Khoa Quyền Lộc thì là nhân vật quan trọng trong giới chính trị hoặc thương gia giàu có. Nếu gặp Tả Hữu Khôi Việt thì sự nghiệp phát triển thuận lợi, cơ hội may mắn nhiều. Tham Lang Bình hòa hoặc Hãm, không có cát tinh đồng cung thì sự nghiệp không bình ổn, làm nhiều mà công lao ít, nếu như tam phương có cát tinh thì có thể phát triển thương nghiệp. Thêm Xương Khúc thì chủ kế hoạch hỗn loạn, chính sự đảo điên. Dương Đà, Không Kiếp đồng thủ, là người bình thường, khó có sự nghiệp, thành công đáng kể.

CỰ MÔN

Sự nghiệp vất vả, làm các nghề liên quan đến ăn nói, giao thiệp, kế hoạch, nghiên cứu, kĩ năng học thuật v.v… Nhập Miếu Vượng thì sau khi vất vả phấn đấu có thể đạt thành công, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì kinh doanh hoặc làm công chức đều có thể nắm quyền, phát đạt. Cự Môn thích nhất Hóa Quyền, là hiện thân của uy quyền, có tài năng phi phàm, lợi cho việc dương danh trong các giới tư pháp, y học, học thuật. Gia hội các cát tinh Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền thì chủ đại phú hoặc đại quý. Đồng cung hoặc hội chiếu với Tả Hữu, Xương Khúc thì chủ quí hiển hoặc đạt được thành công trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, văn học nghệ thuật, truyền thông đại chúng, y bốc mệnh tướng.

Cự Môn là Ám tinh, thương gia hay lén lút làm nhiều việc ngầm hoặc kinh doanh không minh bạch, kinh doanh bất hợp pháp, hoặc trốn thuế. Hãm địa thì bôn ba, trong cuộc việc nhiều đối thủ cạnh tranh, khó có ngày thành công, nếu gặp cát tinh thì trung niên trở ra được ổn định. Hãm địa gia Tứ Sát Không Kiếp thì tốn công tốn sức, không chuyện gì thành công. Cự Môn Hóa Kị, không hòa thuận với cấp trên, làm việc hay có tranh châp, lời qua tiếng lại, không thuận lợi, phá bại, nếu gặp Tứ Sát Kiếp Không, chủ gặp chuyện quan phi, tố tụng, ngục tù.

THIÊN TƯỚNG

Là người phụ tá khá tài năng , sự nghiệp an định, bình ổn ít thay đổi, thường đảm nhận các công việc tại cơ quan công gia, xí nghiệp quy mô lớn, thích hợp với chức phó về hành chính quản lý, thư ký. Không hợp lãnh đạo, hoặc là danh là chính thực là phụ. Thiên Tướng nhập Miếu, đồng cung hội chiếu với Tả Hữu Xương Khúc thì được người kính trọng, chủ phú quý, kinh doanh hoặc làm công chức đều có thành tựu lớn, có thể có lương cao. Hội chiếu Khoa Quyền Lộc, hợp theo đuổi chính trị, làm quan cao lộc hậu, kinh doanh thì là cự phú. Nếu không có thêm cát tinh người thường cũng chủ sự nghiệp ổn đinh, cuộc sống khá giả. Miếu Vượng gia Sát tinh thì chỉ hợp theo nghề buôn. Thiên Tướng hãm địa, thành bại đa đoan, thêm Sát tinh thì không tốt, chỉ là người bình thường.

THIÊN LƯƠNG

Là người cẩn thận tỉ mị, giỏi xử lý những vấn đề khó, có thể đảm nhận những chức vụ quan trọng. Thiên Lương ở cung Ngọ nhập Miếu, hội Phù Bật Khôi Việt, kiêm văn võ, hợp làm chính trị, gặp thêm Khoa Quyền Lộc thì chủ đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới chính trị. Đồng cung gia hội với Tả Hữu Xương Khúc thì quý hiển, có thể phát huy trong cơ quan hành chính, hệ thống pháp luật, cơ cấu y liệu, xí nghiệp quy mô lớn. Thiên Lương Hóa Khoa, chủ thanh quý, danh nhiều hơn lợi. Thiên Lương Hóa Lộc thì phú quý. Hóa Quyền, là người có thực quyền, nếu hội Lộc Tồn thì có thể là thương gia giàu có. Nhập Miếu Vượng, nếu không có thêm cát tinh, người thường cũng chủ sự nghiệp bình ổn an định, có thể hưởng cảnh sung túc.

Thiên Lương hãm địa, hội Cát tinh thì cũng không mất phú quý, nếu không gặp cát tinh thì chủ sự nghiệp vất vả bận rộn, thành công nhiều thất bại cũng nhiều. Hội cùng Tứ Sát Không Kiếp thì không có địa vị, công việc khó khăn lao khổ, tai nạn phá hao, khó thành tựu, chỉ là người bình thường.

THẤT SÁT


Là cách cục khai sáng, không thích hợp với các công việc ổn định, bình thường, thường chọn các công việc tự do, không bị hạn chế, hoặc theo đuổi các công việc có tính mạo hiểm, hay thay đổi, có tính đầu cơ. Tuổi trẻ sự nghiệp hay thăng trầm thay đổi, thiếu sự an định, trung niên trở ra thì có thể thuận lợi. Nên tha hương xuất ngoại, có thể có cơ hội thành công. Đại đa số tay trắng mà làm nên gia sản, từ không thành có.

Thất Sát nhập miếu thì đắc cách. Nếu gặp nhiều sao tốt thủ chiếu thì quyền quý không ít. Hợp võ không lợi văn, hội cát tinh thì nổi bật trong giới quân đội cảnh sát, hoặc buôn bán làm ông chủ, nếu kinh doanh thương nghiệp thì có thể giàu có. Thất Sát đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt chủ quyền bính, nắm quyền sinh sát, sự nghiệp hưng thịnh.
Đồng cung với Lộc Tồn thì phú quý song toàn. Gia hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì anh hùng cái thế, vang danh thế giới. Thất Sát Miếu Vượng địa đồng cung với Hỏa Linh thì chủ võ chức uy phong, nhưng thường gặp nguy hiểm, thị phi, kinh doanh có thể giàu có nhưng hay lên voi xuống chó.
Thất Sát Bình nhàn (VDTT chú: Nhàn thường có nghĩa lạc hãm) lại gia hội Tứ Sát Không Kiếp, thì tầm thường, nếu lại đồng cung hoặc hội Hóa Kị chủ họa ngục tù.
PHÁ QUÂN

Cách cục khai sáng. Một đời sự nghiệp thăng trầm, gian khổ, chắc chắn không thuận lợi. Hợp những công việc mạo hiểm, công nghiệp, thương nghiệp. Nhập Miếu có Võ chức lớn, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì phú quý không ít. Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng chiếu thì là trọng thần quốc gia. Đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, Khôi Việt thì có năng lực quản trị, kinh doanh hay làm công đều được, phú quý song toàn. Nếu cát tinh ít thì không quý, chỉ là nhân viên bình thường, hoặc làm kinh doanh cá thể. Đồng cung Văn Xương, Văn Khúc, sự nghiệp vất vả không thuận lợi.

Đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kị thì chủ vất vả, trở ngại, thị phi, phá bại, đa mưu mà ít khi thành, sự nghiệp nhất định gặp phải nhiều lần thất bại lớn, kị đầu tư mạo hiểm, hợp kĩ nghệ lập thân. Cung Mệnh nếu không có thêm Cát tinh, cung Quan Lộc Phá Quân đồng cung với Dương Đà thì là người nợ nần, đi khắp nơi xin xỏ, làm gì cũng không thành.
Văn Xương, Văn Khúc

2 sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kị gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Tả Phù, Hữu Bật

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Thiên Khôi, Thiên Việt

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng, gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kị là người bình thường.

Hóa Lộc

Là điềm đại cát, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, uy quyền, phát đạt, thuận lợi. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp, có thể duy trì thịnh vượng dài lâu không suy thoái, ít gặp trở ngại hoặc bất toại ý, đồng thời biết cách sử dụng tiền bạc, sự nghiệp phát triển, có thể đạt được thành tựu tương đối cao về tài phú, địa vị, danh tiếng. Sao nào hóa Lộc ở cung Quan Lộc thì dấu hiệu may mắn tốt đẹp của sao ấy tăng gấp bội. Nếu có Lộc Tồn, Thiên mã, Hóa Quyền, Hóa Khoa gia hội thì đại phú đại quý.

Hóa Quyền

Là điềm đại cát, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, uy quyền, phát đạt, thuận lợi. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp, là người làm việc cẩn trọng, giỏi về kế hoạch, làm kinh doanh, ít khi thất bại, năng lực quản lí mạnh, có thể có chức vị cao. Sao nào hóa Quyền ở cung Quan Lộc thì tín hiệu tốt của sao đó tăng gấp bội. Gia hội Cự Môn, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Hóa Lộc thì đẹp không tả nổi, có thể phát triển ngoài mong đợi, quan vận hanh thông. Gia hội Hóa Lộc, Hóa Khoa thì là bậc lương đống quốc gia, chắc chắn có quý.

Hóa Khoa

Là điềm đại cat, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, phát đạt, thuận lợi, danh tiếng. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp. Là người có học thức chuyên môn hết sức ưu tú, với công việc có năng lực tính toán tốt, có tầm nhìn tốt, dễ nhận được sự đánh giá tốt của cấp trên, đồng nghiệp và người ngoài. Sao nào hóa Khoa ở cung Quan Lộc thì tín hiệu tốt của sao ấy tăng gấp bội. Là người có thể danh ghi bảng vàng. Gia hội Hóa Lộc, Hóa Quyền và Xương Khúc thì chắc chắn quý hiển. Hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt thì nổi danh thiên hạ. Hóa Khoa và Dương Đà, Không Vong, Hóa Kị đồng cung là hãm, là có tài năng nhưng khó có thể phát huy.

Hóa Kị

Là điềm không tốt, công việc hay gặp phải sự cố, trắc trở, thất bại, phá hoại, chắc chắn không thể thuận lợi. Nếu được nhiều cát tinh nhập Miếu Vượng, cát hóa thì có thể hóa giải nhưng cũng không thể khiến những bất lợi do Hóa Kị mang lại biến mất hẳn được.

Lộc Tồn

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi, có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kị gặp Không Kiếp.

Kình Dương, Đà La

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi, thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày, trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không an định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Hỏa tinh, Linh tinh

 

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

2 sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không an định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Địa Kiếp, Thiên Không

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định, thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn, hoặc là tiền tài bị phá to, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp 1 trong 2 sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

Hóa Khoa luận – Toàn thư

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Hóa Khoa luận – Toàn thư

 Thuộc tính ngũ hành của Hóa Khoa là dương thủy, hóa khí là thanh danh, chưởng quản văn chương, chủ về thanh danh. Sao Hóa Khoa dẫn thân là tâm tính vui vẻ, hiển lộ là nổi tiếng, tức cụ thể hóa thanh danh, khả năng học tập và thi cử.

Sao Hóa Khoa nếu đóng tại cung Thân cung Mệnh, chủ về thông minh mẫn tiệp, tài hoa khác thường, tính tình hòa nhã dễ gần, có thanh danh. Nếu gặp sao Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là người hiển quý có địa vị cao. Nếu gặp hung tinh, tuy khong được hiển quý, nhưng cũng có tài năng văn học. Nếu là Văn Xương hóa Khoa sẽ trở thành bậc thầy mẫu mực.

Tương tự như sao Hóa Lộc, sao Hóa Khoa không có khả năng đề kháng trước sao Hóa Kị, nếu như không được cát tinh trợ giúp, thì chủ về vất vả gian lao mà không có thành tựu. Nếu được cát tinh trợ giúp mới có được thành tựu, nhưng vẫn khó tránh khỏi gian nan lao lực. Sao Hóa Khoa cũng kị gặp phải các sao Không vong như Tiệt không, Tuần không, Địa không, Địa kiếp, chủ về có tài năng mà không gặp cơ hội, lại thường rơi vào tình cảnh cô đơn khổ cực không nơi nương tựa.

Khi Văn xương, Văn Khúc gặp Hóa Khoa, lại thêm Thiên khôi, Thiên việt, sẽ có lợi về đường thi cử, thăng quan tiến chức thuận lợi mà trở thành hiển quý.

Sao Hóa Khoa tốt nhất nằm cùng với các sao Thất sát, Phá quân, Tham lang, Tử vi, Thiên cơ, Cự môn, Thiên đồng, Thái âm, Vũ khúc, chủ về sáng nghiệp, nhưng mệnh nữ cần đề phòng ảnh hưởng đến hôn nhân.

Sao Hóa Khoa nhập miếu tại Sửu địa (không sợ hung sát), vượng tại Ngọ địa, Thân địa (không sợ hung sát), đắc địa tại Thìn, Tuất, Mão (là phúc, kị hung sát), được lợi tại Dần, Tỵ, Mùi (phúc đến chậm, kị hung sát), bình thường tại Hợi, Tí, không đắc tại Dậu địa. Nếu nằm cùng cung hãm với Tiệt không, Tuần không, Địa kiếp, Địa không, Kình dương, Đà la, Thái dương, Thái âm là lạc hãm.

Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về “trí”, “lưu truyền”, nên là “tiếng tăm, danh dự”.

Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.

Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.

Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.

Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.

Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:

Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.

Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.

Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tí, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là “Khoa minh Lộc ám”, chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách “minh lộc ám lộc”, Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách “khoa minh lộc ám” là nhờ danh mà được quý).

Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.

Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là “mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung”. Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.

Cung huynh đệ phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung huynh đệ phi hóa

(1)       Cung huynh đệ phi Hóa Lộc:

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Anh chị em đối xử rất hòa hợp với mệnh tạo, có phúc sẽ chia sẻ với mệnh tạo, có tiền cùng xài chung, rất quan tâm mệnh tạo.

Cung huynh đệ tự Hóa Lộc:

Trong anh chị em, có người rất thông minh, có khẩu tài, rất có duyên với người chung quanh, đi xa cát lợi, vận trình tot đẹp; mệnh tạo rất hiếu khách, tính tình rộng rãi, quan hệ giữa mệnh tạo với anh em hoặc bạn bè thân cận rất vui vẻ, chỉ cần trong tay đang có tiền, bạn bè cần giúp đỡ, mệnh tạo không bao giờ từ chối, mà cũng chẳng để ý đến chuyện viết giấy nợ hoặc thế chấp.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Chị em dâu sống hòa mục với nhau, gia đình vui vẻ hạnh phúc, anh chị em giúp đỡ lẫn nhau; sự nghiệp có lợi, có thể toan tính; sau kết hôn tài vận tốt; người phối ngẫu được trưởng bối trông nom, có thể được hưởng tiền của hoặc di sản của cha mẹ.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Chị em dâu sống hòa mục với nhau, gia đình vui vẻ hạnh phúc, anh chị em bận rộn trong sự nghiệp, thường đi xa, ra bên ngoài thuận lợi, có thể thu được lợi; cuộc sống gia đình rất sung túc, được hưởng thụ, chi tiêu thoải mái, tuy không bị thấu chi, nhưng cũng khó dành dụm; anh chị em đi làm ăn, sẽ mang tiền của gia đình đi đầu tư.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Anh chị em giúp đỡ lẫn nhau về tiền bạc, quan hệ giao tế của anh chị em rất tốt đẹp, có duyên với người khác giới, con cái của họ thông minh lanh lợi; tài vận của mệnh tạo hưng vượng, làm ăn kiếm được tiên, tiền do bản thân mệnh tạo kiếm được cũng có thể là tiền trong ngành giải trí.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Anh chị em có quan hệ giao tế không tệ, giao du với người ta khá hòa hợp, hòa khí sinh tài; bản thân cũng được hưởng thụ; lúc còn nhỏ thể chất của mệnh tạo không được tốt, nhiều nạn tai bệnh tật, được cha mẹ trông nom chăm sóc; không keo kiệt với bản thân, ăn mặc dùng toàn đồ cao cấp.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Anh chị em là người lạc quan, ở bên ngoài có duyên với người chung quanh, rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo, sự nghiệp của mệnh tạo có anh em trợ lực, kiếm được tiền; ra ngoài có nhiều bạn bè, quan hệ giao tế tốt, chi tiêu nhiều cho sinh kế gia đình.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Anh chị em ở bên ngoài phần nhiều đều vui vẻ, có quý nhân giúp đỡ, hướng ngoại, thường đi xa, ra ngoài kiếm được tiền; sự nghiệp có không gian để phát triển, bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền; gia đình chi dụng nhiều tiền.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Vốn liếng sung túc, sự nghiệp có phát triển.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Có thể mờ tiệm kinh doanh, hoặc làm ăn liên quan đến bất động sản; tiền kiếm được sẽ lo cho gia đình hoặc dùng vào chuyện hợp lí; anh em có thể ở chung với nhau, chị em dâu hòa mục.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Anh chị em có tiền, giúp đỡ lẫn nhau, con cái của họ có tài; tiền mệnh tạo kiếm được phần nhiều dùng vào việc theo đuổi thị hiếu.

Cung huynh đệ phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Tình cảm của cha mẹ tốt đẹp, anh chị em hiếu thảo với cha mẹ, được trưởng bối đề bạt, nâng đỡ; tài vận của mệnh tạo hưng vượng, có thể dựa vào trưởng bối, được bạn bè trợ lực kiếm tiền, nhưng cũng dễ người ta lừa đảo.

(2)       Cung huynh đệ phi Hóa Quyền:

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Anh chị em có cá tính cương cường, có chấp ý kiến của mình, phản ứng mẫn tiệp, có tài năng, khá tự phụ, cũng thích tạo sự chú ý; ra ngoài gặp nhiều thị phi; có nhiều quan điểm khác với mệnh tạo, nhưng cũng sẽ hỗ trợ mệnh tạo; công việc khá bận rộn, nặng tinh thần trách nhiệm.

Cung huynh đệ tự Hóa Quyền:

Có địa vị, nắm quyền trong nhà, thường hay xảy ra tranh chấp với anh chị em; anh chị em có tính tình bướng bỉnh, có năng lực; giao du với bạn bè có cá tính mạnh, sáng suốt, tinh tế, tài cán, ưa tạo sự chú ý; lúc ra bên ngoài tốt nhất không nên tranh quyền với bạn bè, nếu không sẽ có nhiều thị phi; thường phải chi một khoản tiền lớn cho chi tiêu trong gia đình; cơ thể dễ bị tổn thương bất ngờ. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu có thể được trưởng bối công nhận, giúp đỡ; giữa chị em dâu có nhiều ý kiến không hợp nhau; anh chị em cung cấp nhiều ý kiến cho sự nghiệp của mệnh tạo, sẽ có trợ giúp.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Chị em đâu có nhiều ý kiến khó hợp nhau, anh chị em trong nhà cũng khá phách lối, hay ra oai, lúc cha mẹ phân chia tài sản sẽ có tình trạng so bì; có năng lực sáng lập cơ nghiệp, tiền mệnh tạo kiếm được thường phải tiêu một khoản tiền lớn, tuy không bị thấu chi, nhưng cũng khó dành dụm.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch: vẫn dụng đồng vốn rất linh hoạt, lấy tiền đẻ ra tiền, lấy tiền dành dụm ra đầu tư, sáng lập cơ nghiệp; hợp tác với anh chị em sẽ xuất nhiều vốn hơn, là cổ đông lớn; lúc giao du sẽ có tác phong ở thế mạnh.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Anh chị em phần nhiều đều có cá tính mạnh, thể lực tốt, sức hoạt động khá mạnh, cũng dễ bị ngoại thương; đối xử với người khác bằng thế mạnh, hiếu thảo với cha mẹ, nhưng cũng có mâu thuẫn; mệnh tạo thường mang tiền kiếm được tiêu xài cho việc giữ gìn sức khỏe, mua thực phẩm bổ dưỡng.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Anh chị em đối xử với mệnh tạo bằng thế mạnh, có nhiều áplực và ý kiến về mệnh tạo; anh chị em lúc còn nhò rất nghịch ngợm, dễ bị tốn thương, nhưng có tài năng, được người ta xem trọng; bản thân mộnh tạo cũng hiếu cường, ờ bên ngoài ưa cạnh tranh với người khác; tiền mệnh tạo kiếm được sẽ bị người phối ngẫu quản lí, phải chi ra một khoản tiền lớn cho việc chi dụng trong gia đình.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Anh chị em rất có năng lực, thích tranh cường hiếu thắng, dễ chuốc thị phi; mệnh tạo cũng có năng lực làm việc, sự nghiệp có cạnh tranh, có thể được khẳng định; chi tiêu trong gia đình tuy nhiều, nhưng không đến nồi mất kiểm soát.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Sẽ mang tiền dành dụm ra đâu tư, họp tác với anh chị em hoặc bạn bè sẽ chiếm nhiêu vốn hơn, nhưng không làm người gánh trách nhiệm; sự nghiệp có phát triển, có thể kiếm tiền, sẽ mở rộng.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Anh chị em nắm quyền trong gia đình, lúc cha mẹ phân chia tài sản sẽ có tranh chấp, chị em dâu ở chung không hòa hợp; mệnh tạo có thể mở tiệm kinh doanh hoặc mua bán bất động sản; tiền kiếm được sẽ chi dụng trong gia đình, hoặc mua tậu bất động sản hay dùng cho việc hợp lí khác.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Anh chị em có năng lực quản lí tài chính, hợp tác làm ăn với người khác vừa xuất vốn vừa ra sức, cũng chú trọng chuyện phô trương; năng lực kiếm tiền của mệnh tạo không tệ, nhưng cũng dám tiêu tiền cho việc hưởng thụ, cho thị hiếu, hoặc để phô trương.

Cung huynh đệ phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ là người có cá tính mạnh, thường có tranh chấp, việc kết hôn của họ là quyết định đột ngột, kiểu tiếng sét ái tình; anh chị em hiếu thảo với cha mẹ, nhưng hay cãi lí; mệnh tạo rất biết kiếm tiền, thường kiếm được tiền trong tình hình cạnh tranh.

(3)       Cung huynh đệ phi Hóa Khoa:

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Anh chị em sống hòa mục, gặp chuyện cấp bách cũng sẽ trọ giúp mệnh tạo; công việc, sự nghiệp của mệnh tạo đêu bình ổn, kiếm được tiền nhưng cũng không nhiều lắm; có thể dựa vào tài năng và kĩ thuật chuyên môn để kiếm tiền; sinh hoạt gia đình bình ổn.

Cung huynh đệ tự Hóa Khoa:

Anh chị em có tính khí tốt, hiền hòa lễ độ, thanh tú, đoan trang; biểu hiện bề ngoài của mệnh tạo khá ôn hòa nho nhã, cũng thường giao du với bạn bè có tu dưỡng tính tình, có học thức, giao du với bạn bè khá hòa hợp, ít có xung đột; trong anh em với nhau cũng không so đo lợi hạt xừ sự hòa hợp; cơ thể của mệnh tạo ít có tai ách nghiêm trọng; tình hình chi tiêu trong gia đình bình ổn, không lo thiếu thốn. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Anh chị em xử sự hòa hợp với người phối ngẫu của mệnh tạo, chị em dâu sống hòa mục với nhau, đối với sự nghiệp của mệnh tạo họ cũng có quan tâm, trợ lực; người phối ngẫu phần nhiều được trưởng bối quý nhân quan tâm, yêu mến, đề bạt nâng đỡ, thích hợp làm công chức, theo sự nghiệp văn giáo.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu của anh chị em phần nhiều đều có gia thế thanh bạch, hiền hòa lễ độ, khiêm tốn; chị em dâu hòa thuận; sự nghiệp, công việc của anh chị em đều bình thuận, có tài năng, ở bên ngoài có thanh danh; tiền mệnh tạo tích lũy được tiêu hao không nhiều, không lo thiếu thốn tiền chi dụng trong sinh hoạt.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Anh chị em quản lí tài chính có kế hoạch, nguồn tiền bình thuận; mệnh tạo giỏi sử dụng đồng vốn cân đối thu chi, dùng tiền đẻ ra tiền, nhưng không đầu cơ mạo hiểm, vận dụng rất ổn thỏa.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Đa số anh chị em đều khỏe mạnh, ít bệnh đau, gặp nạn sẽ có có quý nhân giúp đỡ; bản thân mệnh tạo tuy không thấy cường tráng nhung cũng ít bệnh đau, có thể phùng hung hóa cát, dù có nạn tai bệnh tật, cũng dễ chữa khỏi, lúc bình thườngcũng biết trông nom sức khỏe.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Anh chị em ra ngoài phần nhiều đều được quý nhân xem trọng, cũng rất quan tâm và có thể trợ giúp mệnh tạo; người phối ngẫu của mệnh tạo quản lí tài chính có kế hoạch, không cố theo đuổi chuyện gì, cũng không lãng phí, cuộc sống gia đình hòa hợp.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Anh chị em có tài năng, ở bên ngoài có thanh danh, thích hợp làm việc trong lãnh vực văn giáo, không giao du bạn xấu, mà có bạn bè quan tâm lẫn nhau; trong sự nghiệp và công việc, mệnh tạo có biểu hiện khá tốt, có nhiều trợ lực, cuộc sống gia đình cũng bình an.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Anh chị em phần nhiều đều có sự nghiệp bình ổn, được nhiều quý nhân giúp đỡ, thích hợp làm việc trong lãnh vực văn giáo và làm công chức; mệnh tạo giỏi đầu tư kiểu có nguy cơ thấp nhất; anh em và bạn bè có trợ lực cho mệnh tạo trong sự nghiệp và công việc; việc làm thuận lợi, nhậm chức trong công ty khá ổn định.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Anh chị em trong nhà cư xừ tốt với nhau, phần lớn thuộc nhóm người đi làm hưởng lương, nghề nghiệp có khuynh hướng làm việc trong văn phòng; mệnh tạo tiều xài tiền không nhiều, dành dụm hợp lí, sừ dụng tiền có kế hoạch, cuộc sống gia đình bình yên thuận lợi, không lãng phí.

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Anh chị em tiêu tiền có kế hoạch, tiết kiệm, cách hành sự phần nhiều là làm từng bước vững chắc; mệnh tạo có thói quen dành

Cung huynh đệ phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Anh chị em phần nhiều đều quan tâm và hiếu thảo với cha mẹ, có thị hiếu thanh nhã, có tài nghệ; tình cảm của cha mẹ rất tốt; mệnh tạo với bạn bè có tình nghĩa qua lại tiền bạc, tiền chi dụng cho cuộc sống bình ổn.

(4)       Cung huynh đệ phi Hóa Kị:

Cung huynh đệ phi Hóa KỊ nhập cung mệnh:

Anh chị em thường bôn ba vất vả, làm ăn không được thuận lợi, phài dựa vào mệnh tạo, hoặc mệnh tạo không có duyên với anh chị em, ít sum họp; quan hệ giao tế của mệnh tạo không được tốt đẹp; đi xa, ra bên ngoài sẽ gặp nhiều sóng gió, làm nhiều mà hưởng ít, tiền khó tụ, đừng cho ai mượn tiền để kiếm lời, trong cuộc đời rất dê gặp tai ách, kiếp số; không gian làm việc khó phát huy.

Cung huynh đệ tự Hóa KỊ:

Trong số anh chị em của mệnh tạo có thể có người yểu mạng vì mẹ sinh bị lưu sản hoặc vì thể chất tiên thiên của người này quá kém; trong số anh chị em có người tính tình kì dị, thiếu tự tin, vận trình không thuận lợi, thường gặp thị phi tai ách; tiền mệnh tạo kiếm được thường không giữ được, kiếm được bao nhiêu tiêu xài hết bấy nhiêu, bản thân mệnh tạo tiêu xài tiền của mình, tốt nhất là đừng qua lại tiền bạc với bạn bè, dễ chuốc phiền phức; cơ cấu sự nghiệp, công việc hoặc chỗ làm việc thường có biến động, không ổn định; nếu giao dịch bất động sàn sẽ dễ bị lỗ, hoặc chỗ ờ thường là phải thuê. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung huynh đệ phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Duyên hôn nhân của anh chị em phần nhiều đều hai muộn, hoặc hôn nhân không hạnh phúc; người phối ngẫu của mệnh tạo xử sự không tốt, không trợ lực cho sự nghiệp cùa mệnh tạo; mệnh tạo không nên hợp tác hoặc đầu tư, cũng không nên tự sáng lập cơ nghiệp, sự nghiệp nhiều thăng trầm, dễ có nguy cơ.

Cung huynh đệ phi Hóa KỊ nhập cung tử nữ:

Vận trình của anh chị em kém, hôn nhân khó hạnh phúc, bôn ba ở bên ngoài rất sớm, sẽ rời quê hương đi xa để tìm hướng phát triển; dễ vì chuyện phân chia gia sản mà xảy ra tranh chấp, phiền phức, rắc rối; tiêu tốn nhiều cho sinh hoạt gia đình, mệnh tạo phải gánh nợ thấu chi; mệnh tạo nên chú ý vấn đề dạy dỗ con cái.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Anh chị em phần nhiều đều dễ xảy ra vấn đề tài chính, thậm chí liên lụy đến mệnh tạo; mệnh tạo qua lại tiền bạc với bạn bè cũng dễ bị thua thiệt; mệnh tạo có khuynh hướng tiêu xài tiền không ngừng, phải biết tiết chế mới tốt; tìnhhình tài chính của sự nghiệp, công ti cũng có thể sẽ gặp nhiều nguy cơ. Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung tài bạch xung cung phúc đức: trước khi bị xung là mượn không được tiền, sau khi bị xung thì có thể mượn được tiền.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Anh chị em phần nhiều có cơ thể suy nhược, không hợp ý kiến với cha mẹ, duyên khá bạc, ít gặp nhau; anh chị em có khuynh hướng dựa vào mệnh tạo; mệnh tạo ít gần gũi cha mẹ hoặc cũng có tình trạng không hợp ý kiến với cha mẹ; mệnh tạo kiếm tiền khá vất và khổ sờ, dễ có nguy cơ về tài chính; nội bộ trong sự nghiệp hoặc ờ nơi làm việc (công ty…) dễ xảy ra vấn đề; mệnh tạo cũng sẽ tiêu tiền nhiều cho việc giữ gìn sức khỏe.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Anh chị em thường đi xa, có thể rời xa gia đình rất sớm để tìm hướng phát triển, không có duyên với mệnh tạo, ít gặp nhau thì tốt hơn, nếu không sẽ dễ xảy ra tranh cãi; hoặc mệnh tạo ít anh em, cũng có thê không có anh em; lúc ở bên ngoài mệnh tạo thường tiêu xài nhiều tiền cho việc giao tế thù tạc, dễ bị thấu chi, tốt nhất là không nên hợp tác, đừng vay mượn, kiếm được tiền giao cho người phối ngẫu giữ; sự nghiệp nhiều thăng trầm lớn, không ổn định, đi xa dễ bị bệnh đau, dễ mệt mỏi, ờ bên ngoài phải cẩn thận, dễ có tai kiếp lớn.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Anh chị em là người hướng ngoại, thường đi xa, phần nhiều đêu rời xa gia đình, có cách sống riêng, anh em ít qua lại với nhau, ở bên ngoài bôn ba nhiều, dễ có tai kiếp; cũng có thể mệnh tạo không có anh em; mệnh tạo không giữ được tiền, dễ bị tổn that vì anh em bạn bè, dẫn đến khủng hoảng tài chính, có nguy cơ phải xoay sở tiền bạc, công việc hay sự nghiệp vì vậy mà gặp cảnh khó khăn.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Duyên hôn nhân của anh chị em phần nhiều không được đẹp, công việc hay sự nghiệp không ổn định, thu nhập cũng không được nhiều, họ cũng không trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo; công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo phát triển không thuận lợi, vất vả mà thu nhập ít, đầu tư làm ăn thì khó thu hồi vốn.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Anh chị em tuy xem trọng quan niệm gia đình, thương yêu gia đình, nhưng thường bôn ba ở bên ngoài, có khuynh hướng thích làm việc trong văn phòng, hoàn cảnh sống của anh chị em lúc còn nhỏ khá chật vật, thường hay gây gổ nhau, không hòa mục; tiền mệnh tạo kiếm được phần nhiều chi dụng trong sinh hoạt gia đình, hoặc mua tậu bất động sản, cho vào kết sắt (nhập kho); có thể mệnh tạo là người giữ tiền rất nghiêm ngặt, nhưng thường vì tình trạng bất dắc dĩ mà phải chi ra, không dành dụm được; mệnh tạo cần phải chú ý vấn đề dạy dỗ con cái, con cái có thể hư hỏng.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

“Tài khí” của anh chị em không vượng, còn có thể gầy lụy đến mệnh tạo, trong lòng họ thường thầm lo lắng không yên; mệnh tạo dễ bị tổn thất tiền bạc, hợp tác làm ăn với người khác hoặc sự nghiệp của mệnh tạo đều rơi vào tình trạng không phát triển, đầu tư lỗ vốn; lúc tâm trạng không được tốt, sẽ có hiện tượng tiêu xài tiền loạn xạ. Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung phúc đức xung cung tài bạch: là ý tượng mượn không được tiền, khó mượn tiền bạn bè đê xoay sở.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Súc khỏe cùa anh chị em phần nhiều đều không được tốt, có thể có người yếu mạng, có sự ngăn cách với cha mẹ, sau khi lập gia đình có thể vẫn ở chung với cha mẹ, hay oán trách cha mẹ, ý kiến ít hợp nhau; thu nhập của mệnh tạo không được ổn định, công việc hay sự nghiệp dễ có nguy cơ; mệnh tạo qua lại tiền bạc với bạn bè sẽ không được như ý, lúc muốn mượn tiền của bạn bè để xoay sở sẽ không được, mà cho bạn bè mượn tiền thì khó đòi.

Cung phu thê phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung phu thê phi hóa

(1)       Cung phu thê phi Hóa Lộc:

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, có duyên vợ chồng với người phối ngẫu; người phối ngẫu có tình yêu sâu đậm với mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo về sự nghiệp, làm việc không ngại gian khổ, không oán không trách, tình cảm vợ chồng rất tốt đẹp, có thể sống với nhau đến đầu bạc; sau khi kết hôn mệnh tạo có tài vận tốt, công việc hay sự nghiệp có phát triển.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu rất hiếu thuận, có duyên với trưởng bối, có thể được đề bạt, nâng đỡ, sự nghiệp có thành tựu, có thể gánh vác sinh kế gia đình; người phối ngẫu có thể xử sự vui vẻ với anh em bạn bè của mệnh tạo; sau kết hôn, công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo sẽ phát triển thuận lợi.

Cung phu thê tự Hóa Lộc:

Người phối ngẫu có tính tình hiền hòa, có duyên với người chung quanh, duyên vợ chồng tình thâm, ân ái hạnh phúc, trông nom cho nhau, có trợ lực; sau khi kết hôn sự nghiệp của mệnh tạo khá thuận lợi, kiếm được nhiều tiền; nếu mệnh tạo tự sáng lập cơ nghiệp, người phối ngẫu sẽ giúp vốn; hôn nhân của mệnh tạo là do yêu nhau mà kết hợp. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu rất yêu thương và quan tâm chăm lo cho con cái, ra ngoài phải thù tạc nhiêu, mà tiêu xài cũng nhiều; sau kết hôn, vì công việc hay sự nghiệp, mệnh tạo cũng sẽ hưởng thụ và giao tế thù tạc nhiều; vợ lẫn chồng đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới, dễ phát triển thành tình nhân ờ bên ngoài hoặc ngoại tình; người phối ngẫu đối xử vui vè với anh em bạn bè cùa mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu có tài vận tốt, có tiền nhiều hơn mệnh tạo; sau kết hôn có thể nhờ người phối ngẫu trợ lực mà tăng thêm tài phú; tình cảm vợ chồng tốt đẹp, người phối ngẫu giỏi giao tế, có trợ lực cho mệnh tạo phát triển sự nghiệp; người phối ngẫu kiếm tiền thuận lợi toại ý, có khuynh hướng sáng lập cơ nghiệp, dễ kiếm tiền, thích hưởng thụ.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu tính tình lạc quan, dễ phát phì, năng lực tính dục mạnh, sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng không tạo áp lực cho mệnh tạo, con cái khá nhiều, cũng khá lao tâm. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới, rất có duyên với người khác giới, dễ có cơ hội đào hoa, lình cảm vợ chồng tốt đẹp, có lòng thương người, quan tâm nhiều về sức khỏe của mình.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, duyên ở bên ngoài khá tốt, đi xa vui vẻ, có nhiều quý nhân trợ giúp, thường hay viễn du. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, duyên hôn nhân đến sớm, tình cảm thuận lợi, được người phối ngẫu quan tâm, chăm lo, trợ giúp kiếm tiền, có điều kiện để hôn nhân hạnh phúc.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu xử sự với bạn bè của mệnh tạo rất tốt đẹp, tính cách hướng ngoại, nhiều bạn bè, biết giao tế, lạc quan, dễ phát phì, có duyên với trưởng bối. Mệnh tạo biết kiếm tiền, nhưng cũngdễ bị người giật liền; công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo gặp nhiêu co hội lốt, có không gian để phát triển, có thể làm ăn mua bán.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, quan tâm sự nghiệp của mệnh tạo, có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo; người phối ngẫu nặng tinh thần sự nghiệp, có hứng thú với nhiều lãnh vực, công việc hay sự nghiệp đêu vừa ý, vùi vẻ trong công việc, làm việc bận rộn, đi làm có lương cao, thăng tiến nhanh.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu rất chăm lo cho gia đình, rất có duyên với người khác giới, nhiều bạn bè, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc. Hoàn cảnh công việc hay sự nghiệp cùa mệnh tạo khá tốt đẹp, có phát triển.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có phúc khí, được hường thụ, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc, người phối ngẫu có sự nghiệp riêng của mình, còn có thể chi viện tiền bạc cho mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ và bậc trưởng bối của mệnh tạo, là người thông minh, biết kiếm tiền, quan tâm chăm sóc gia đình của mệnh tạo, có tiền mang về nhà.

(2)       Cung phu thê phi Hóa quyền:

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Người phối ngẫu có thế mạnh, sẽ quản thúc mệnh tạo, giữa vợ chồng dễ có tranh chấp; lúc người phối ngẫu ra bên ngoài, đều có mục tiêu rõ ràng, khá chủ động, tích cực; về sự nghiệp hay công việc đều có tác phong hành sự quả quyết, rõ ràng và mau lẹ.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu nắm quyền về sinh kế gia đình, thường cónhiều ý kiến về anh chị em của mệnh tạo, nhưng thái độ xử sự rất tốt đẹp, có thể cùng nhau bàn bạc; công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu có thể được khẳng định. Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo cũng tiến hành thuận lợi, có dục vọng vềquyền lực, thường xảy ra tranh chấp với cấp trên.

Cung phu thê tự Hóa Quyền:

Người phối ngẫu có cá tính mạnh, tính bướng bỉnh, có năng lực, có tài năng, có thể giúp mệnh tạo sáng lập cơ nghiệp, thích can dự vào sự nghiệp của mệnh tạo. Hôn nhân của mệnh tạo là kiểu tiếng sét ái tình, mới gặp đã yêu; cũng có thể vì người nhà ép buộc hoặc lỡ có con mà phải kết hôn; vợ chồng không nhường nhịn nhau, dễ xảy ra tranh chấp, cãi vả. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu dạy dỗ con cái khá nghiêm khắc, có nhiều ý kiến và yêu cầu cao đối với gia đình, nhung cũng rất quan tâm chăm lo cho gia đình; cơ năng tính dục của người phối ngẫu rất tốt; cũng có dục vọng cao về bất động sản.

Cung phu thê phi Hóa Quyên nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu giỏi quản lí tài chính, nắm quyền về kinh tế, có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền; thái độ xử sự với người khác ở thế mạnh, nặng phô trương, xem trọng thể diện, chú trọng hưởng thụ, sẽ quản thúc mệnh tạo nhưng cũng chăm lo cho mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu có thân thể cường tráng, làm việc chăm chỉ, cá tính mạnh, không dễ nghe lời khuyên của người khác; sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng cũng bắt mệnh tạo làm việc. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu ở bên ngoài thích được người ta khẳng định, ưa tranh cường hiếu thắng, ưa ra lệnh; cũng rất thích quản thúcmệnh tạo, nhất là hoạt động giao tế ở bên ngoài. Mệnh tạo thường vì đi làm việc ở bên ngoài mà phải bôn ba vất vả, thích hợp công tác ngoại vụ.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu không tùy tiện giao du bạn bè, mà có chọn lựa, rất trung thành với bạn bè; nhưng cũng có cạnh tranh, có nhiều ý kiên tranh luận với bạn bè; đối với vấn đề sinh kế gia đình thì không được vừa ý, nhưng cũng có thể gánh vác; đối với anh em bạn bè của mệnh tạo cũng có nhiều ý kiến, nhưng vẫn xừ sự tốt.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu hành sự tích cực, có húng tâm tráng chí, có trạ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo, phàm chuyện gì cũng ưa chiếm thượng phong, giữa vợ chồng thường xảy ra tranh chấp; thích sáng lập cơ nghiệp, có thể nắm quyền, tài năng và năng lực đều có thể được khẳng định.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu ờ nhà hay ra oai, nắm quyền, có sức ảnh hường, ưa ra lệnh, nghiêm khắc với con cái. Mệnh tạo có thể nhờ người phối ngẫu trợ giúp mở tiệm làm ăn, kiếm tiền mua tậu nhà cửa.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có vận sự nghiệp tốt, cũng có thể giúp mệnh tạo phát triển, chú trọng hưởng thụ, vì thể diện có thể tiêu xài một khoản tiền lớn, nhưng cũng có năng lực quản lí tài chính rất tốt.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có sức ảnh hưởng trong gia đình của hai người, có nhiều ý kiến không hợp với cha mẹ của mệnh tạo, nhưng vẫn cư xử phải đạo, lại rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo.

(3)       Cung phu thê phi Hóa Khoa:

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Vợ chồng hai người đều có duyên với người khác giới, dễ có ngưòi thứ ba xen vào, tuy khó tránh có sóng gió, nhưng tình càm của hai người không mất, vẫn có thể sống với nhau đến đầu bạc. về sự nghiệp, người phối ngẫu có thể xoay sở vốn giúp mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu đối xừ hiên hòa với anh em bạn bè; công việc hoặc sự nghiệp của người phối ngẫu đều bình ổn, có kế hoạch rõ ràng về sinh kế gia đình.

Cung phu thê tự Hóa Khoa:

Người phối ngẫu có công phu tu dưỡng, có phong độ, lịch sự nhã nhặn, tú lệ đoan trang, xem trọng hình tượng của bản thân, rất có duyên với người chung quanh, có tố chất văn nghệ, gia thế thanh bạch, thường là con nhà thư hương. Hôn nhân của mệnh tạo thường là đồng sự, đồng hương, hoặc do người khác giới thiệu; công việc cùa mệnh tạo bình yên thuận lợi, ít sóng gió trắc trở, tự sáng lập sự nghiệp có thê có thanh danh, nhưng làm gì cũng không mở rộng, chi bình ổn mà thôi; hôn nhân cùa mệnh tạo dễ có người thứ ba xen vào, mà còn bị phát hiện rất nhanh. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu dạy dỗ con cái rất sáng suốt, đúng cách, khiến cho chúng có không gian tự phát triển. Vợ chồng hai người đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn còn có người theo đuổi.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu xừ lí tài vụ rất có kế hoạch, tính toán rõ ràng, còn có thể trợ giúp mệnh tạo điều chuyển vốn liếng, xử sự rất có phong độ, hiền hòa, sáng suốt; vợ chồng tôn trọng nhau, hình tượng lúc nào cũng mới mẻ.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu hiền hòa, sáng suốt, có lí lẽ , tôn trọng và quân tâm chăm sóc mệnh tạo, hiếu thuận với bậc trưởng bối, đối đãi anh em bạn bè của mệnh tạo rất tốt. Mệnh tạo có hứng thú hoạt động trong chính giới

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu ra bên ngoài khá thuận lợi, gặp nhiều quý nhân, có hình tượng tốt, có tiền riêng, quan tâm chăm sóc mệnh tạo, thái độ hiền hòa, nhã nhặn.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Bạn bè của người phối ngẫu phần lớn đều sáng suốt, có lí lẽ, thái độ hiền hòa lễ độ, xử sự hòa hợp, có thể giúp đỡ lẫn nhau; về công việc hay sự nghiệp, người phối ngẫu có thể được cấp trên hay đông sự trợ lực.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, có trợ lực cho sự nghiệp công danh cùa mệnh tạo; về phương diện sự nghiệp hay công việc cùa họ, đêu có thể phát huy tài năng, được khẳng định.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giới, biết trông nom lo liệu cho gia đình, sinh hoạt gia đình thư thả và thoải mái.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có sự tu dưỡng tốt, có khí chất, có thị hiếu thanh nhã, làm việc có kế hoạch, chú trọng phẩm chất của cuộc sống, hường thụ có cân đối thu chi, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, có thể giúp mệnh tạo lên kế hoạch về tài chính, trợ giúp mệnh tạo trong sự nghiệp, đời sống hôn nhân hạnh phúc, có bầu không khí lãng mạn.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu là con nhà có gia giáo, đối xử vui vẻ với cha mẹ của mệnh tạo, quan hệ rất tốt với bậc trưởng bối, có thể được cấp trên đề bạt, nâng đỡ; thích hợp làm biệc trong cơ cấu lớn như cơ cấu công hay cơ cấu giáo dục.

(4)       Cung phu thê phi Hóa Kị:

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Tốt nhất là mệnh tạo nên kết hôn muộn, kết hôn sớm thường thường sẽ khó sống với nhau đến đầu bạc; nữ mệnh thường là người mẹ đơn thân, giữa vợ chồng có nhiều lời oán trách nhau. Sự nghiệp của mệnh tạo phát triển không được thuận lợi.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu khó hòa hợp với anh em bạn bè của mệnh tạo, con đường giao lưu cảm thông giữa vợ chồng dễ bị đứt đoạn giữa chừng, đây là cuộc hôn nhân không được chúc phúc; sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị rơi vào cảnh khó khăn; trước khi kết hôn cũng gặp nhiều sóng gió trắc trở, hoặc khó có hôn nhân; sự nghiệp làm ăn không thuận lợi.

Cung phu thê tự Hóa Kị:

Người phối ngẫu có tính tình thẳng thắn , nhưng thiếu tự tin, hơi bi quan , dễ chuốc oán với tiểu nhân, thể chất yếu, nhiều bệnh đau, không trợ lực được cho công việc hay sự nghiệpcủa mệnh tạo. Mệnh tạo có duyên bạc với hôn nhân, khó tìm được đối tượng kết hôn, có khả năng sẽ không có hôn nhân, sau kết hôn dễ xảy ra tinh trạng đồng sàng dị mộng, thường vì chuyện nhỏ mà cãi vả, hôn nhân khó hạnh phúc. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu quàn tâm lo liệu cho con cái thái quá, gây áp lực lớn cho con cái, tạo ra sự ngăn cách giữa hai bên, cách xử sự không được tốt đẹp; người phối ngẫu không thích ngồi đợi ở nhà, thường ra ngoài, đi xa. Lúc đi ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, dê xảy ra sự cố giao thông. Sau kết hôn gia đình không yên ổn, dễ có ngườithứ ba xen vào, có thể sẽ có hôn nhân lần thứ hai, quan hệ giao tế không được tốt.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung tài bạch:

Mệnh tạo xừ lí vấn đề tình cảm với bạn khác giới không thỏa đáng, nên đánh mất tình yêu. Người phối ngẫu xem trọng tiền bạc, nhưng không giỏi quản lí tài chính, thường không giữ được tiền; tình càm vợ chồng không được tốt đẹp, sẽ vì tiền bạc mà cãi vả.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu cá tính thẳng thắn, thể chất yếu, hay ghen tuông, sẽ đeo dính mệnh tạo, gây áp lực lớn cho mệnh tạo, dễ đánh mất tình yêu. Mệnh tạo thiếu duyên vợ chồng, dễ có tình hình sống chung như vợ chồng mà không kết hôn chính thức, nhưng nếu có kết hôn chính thức thì khó li hôn; sinh hoạt tính giao của vợ chồng không hòa điệu; sau kết hôn sẽ ra riêng, nhưng cuộc sống dễ xảy ra sóng gió.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu không giữ được tiền, thường bôn ba ở bên ngoài, ra ngoài dễ có tai ách; trước khi kết hôn phần nhiều người phối ngẫu đã từng có tình yêu. Mệnh tạo nên kết hôn muộn, vợ chồng duyên phận bạc, dễ bị tình trạng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc sinh li tử biệt; nếu phối ngẫu ỉà người xứ khác hoặc lớn hơn trên bảy tuổi, thì có thể sống với nhau lâu dài. Hôn nhân khó hạnh phúc, trước khi kết hôn tuy có đào hoa, nhưng cũng khó kết hôn.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu có thể chất kém, khó mập; ít bạn bè, đối với bạn bè rất trọng tình nghĩa, nhưng thường gặp thị phi phiền phức, nếu có qua lại tiền bạc thì dễ bị thua thiệt. Sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị khủng hoảng, tiền giành dụm cũng dễ bị ,bạn bè giật; sự nghiệp gặp sóng gió, phát triển không thuận lợi.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, thường bôn ba ở bên ngoài, không trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo. Mệnh tạo sẽ sổng với người phối ngẫu đến già, và cũng cãi nhau đến già. Người phối ngẫu dốc toàn bộ tinh thần vào công việc, có tính chuyên nghiện, nhưng công việc hay sự nghiệp không ổn định, thường có tình trạng bò dở nửa chừng. Lúc ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, phòng sự cố giao thông; nên kết hôn muộn.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung điên trạch:

Mệnh tạo thường kết hôn muộn, muộn thì có con trai. Người phối ngẫu tuy chăm lo cho gia đình, nhưng thường bôn ba ở bên ngoài. Tình cảm vợ chồng không được hòa hợp, hôn nhân dễ có người thứ ba xen vào, nhưng dù có tình nhân ở bên ngoài vẫn khó li hôn; mệnh tạo ra ngoài phải cẩn thận phòng sự cố giao thông.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Tâm thần của người phối ngẫu không được yên ổn, hay đâm đầu vào những chuyện không giải quyết được, tư tưởng dễ bị xung động, đời sống hôn nhân của hai người khồng được hạnh phúc, vợ chồng dễ vì tiền bạc mà cãi vả; người phối ngẫu không giữ được tiền, thường vì tâm trạng không tốt mà tiêu tiền để giải khuây.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có gia thế không tốt, thể chất yếu, xử sự không hòa hợp với cha mẹ của mệnh tạo. Vợ chồng duyên bạc, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, dễ xảy ra tình trạng li hôn. Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu không thuận lợi, khó được đề bạt, nâng đỡ; sau kết hôn sự nghiệp thường xuống dốc.

Cung tật ách phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung tật ách phi hóa

(1) Cung tật ách phi Hóa Lộc:

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Có duyên với người chung quanh, lạc quan, dễ phát phì. Sức khỏe tốt, có khẩu tài, thông minh lanh lợi, tình cảm phong phú, có lộc ăn, sẽ suy tính vì bản thân, sau kết hôn có thể hưởng hạnh phúc.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Tình cảm anh chị em tốt đẹp, sẽ lấy tiền ra giúp vốn anh chị em, sinh kế gia đình sung túc; sự nghiệp hay công việc đều kiếm được tiền. Người phối ngẫu dễ có đào hoa, tình nhân ở bên ngoài.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Sẽ rất yêu thương người phối ngẫu, tình cảm vợ chồng tốt đẹp, hạnh phúc.

Sau kết hôn dễ phát phì, sự nghiệp làm ăn kiếm được tiền.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Rất có duyên với người khác giới, nhiều đào hoa; nữ mệnh sau khi sinh sẽ dễ phát phì.

Tình cảm với con cái rất tốt đẹp.

Ra ngoài giao tế thù tạc nhiều, vui vẻ.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Có thể nhờ được trưởng bối, cấp trên trợ lực mà kiếm tiền nhẹ nhàng, tài vận tốt.

Có thể dùng cơ thể để kiếm tiền, sẽ vì tiền mà bán thân.

Dựa vào bản thân để kiếm tiền, nam mệnh có thể kiếm tiền cúa phụ nữ, còn nữ mệnh có thể theo nghề biểu diễn nghệ thuật.

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp có thể kiếm tiền. Anh chị em có thể giúp vốn mệnh tạo.

Mệnh tạo thích hưởng thụ.

Cung tật ách tự Hóa Lộc:

Tính khí tốt, tu dưỡng tốt, có độ lượng, không hay so đo tính toán, lạc quan, dễ phát phì.

Ca thể suy nhược, thể chất hư nhược, hệ tiêu hóa không được tốt, ăn uống thiếu tiết chế, cơ thể dễ bị bệnh đau.

Quan hệ tốt đẹp với cấp trên, trưởng bối; có bề ngoài tốt đẹp, nhưng bên trong thiếu khí chất, không bên. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Ra ngoài thuận lợi, rất có duyên với người chung quanh, thích viễn du vui chơi cùng bạn bè.

Tình cảm vợ chồng hạnh phúc.

Sự nghiệp hay công việc đều phát triển thuận lợi.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Bạn bè nhiều, có duyên với người chung quanh, rất có duyên với người khác giới, có nhiều bạn bè khác giới, dễ có đào hoa kì ngộ. Người phối ngẫu cũng dễ có tình nhân ở bên ngoài.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Vợ chồng đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn có người theo đuổi, dễ xảy ra sự kiện đào hoa.

Công việc nhẹ nhàng, sự nghiệp thuận lợi, kiếm được tiền; đồng sự trong công ti xử sự hòa hợp với nhau.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Sức khỏe tốt, tài vận tốt, sinh hoạt gia đình dư giả, bình thuận, rất có duyên với người khác giới, nhiều đào hoa.

Nữ mệnh sau kết hôn sẽ phát phì.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Là người lạc quan, sức khỏe tốt, dễ phát phì.

Nhiều phúc trạch, quan hệ giao tế tốt đẹp.

Xem trọng hưởng thụ, ăn mặc thích dùng đồ cao cấp.

Người phối ngẫu ra ngoài dễ đào hoa, tình nhân ở bên ngoài.

Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Quan hệ tốt đẹp với cấp trên, trưởng bối; dễ được quý nhân trường bối trợ lực.

Ra ngoài vui vẻ đắc ý, hòa hợp với bạn bè.

Cơ thể khỏe mạnh, nhưng dễ phát phì.

Cha mẹ có sản nghiệp.

(2)Cung tật ách phi Hóa Quyền:

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Cá tính cương cường, không chịu thua; thể chất yếu nhưng sức hoạt độnglại mạnh, dễ bị tai nạn bất ngờ.

Mắc bệnh sẽ khó chữa khỏi.

Có tinh thần toan tính công việc hay sự nghiệp, nhưng phải nỗ lực cạnh tranh mới đạt được mục tiêu.

Vì sự nghiệp gia đình mà vất vả.

Cung tật ách phi Hóa Quyên nhập cung huynh đệ:

Thích tranh cường hiếu thắng với bạn bè, thường có ý kiến tranh chấp với anh chị em, hay cãi nhau và hay khiêu khích anh em.

Dễ xảy ra tình huống vì xung động tính dục mà có quan hệ tính giao.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Thích quản thúc phối ngẫu, có sức khỏe tốt hơn người phối ngẫu, nhu cầu tính dục khá mạnh, quan hệ nam nự khá chủ động, có thế mạnh, có thể mang lại hạnh phúc cho người phối ngẫu, tình cảm vợ chồng tốt đẹp.

Vợ chồng dễ xảy ra tranh cãi vì vấn đề đào hoa.

Có yêu cầu nghiêm khắc đối với công việc hay sự nghiệp, nhưng người trong gia tộc đều làm nghề khác nhau.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Sẽ quản thúc con cái, nhưng đối xử rất tốt với con cái.

Cơ năng tính dục khỏe mạnh, sinh hoạt tính giao nhiều, không có tiết chế.

Cần phải cẩn thận phòng xảy ra nạn tai bất ngờ; mở công xường, cừa tiệm, có lực cạnh tranh với bên ngoài.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Dục vọng đối với tiền bạc rất mạnh, vì kiếm tiền mà lao tâm.

Nam mệnh có thể kiếm tiến của phụ nữ, còn nữ mệnh có thể theo nghề biểu diễn nghệ thuật.

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp sẽ có lực cạnh tranh, phải trải qua cạnh tranh mới kiếm được tiền.

Chú trọng chất lượng hưởng thụ; sẽ tranh giành tiền bạc với anh chị em.

Cung tật ách tự Hóa Quyền:

Cá tính cương cường, tính tình kì quái, tính khí dễ kích động.

Thể lực lốt, chịu đựng được vất vả, hay so đo tính toán, không thích bị thiệt thòi, không cam tâm để người ta lừa gạt.

Dễ bị té ngã, bị thương bất ngờ; ít mắc bệnh, nhưng một khi mắc bệnh thì rất khó trị khỏi. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Có duyên với người chung quanh, rất bận rộn, thường bôn ba ở bên ngoài.

ở bên ngoài gặp nhiều cạnh tranh, dễ có thị phi.

Dễ có nạn tai bất ngờ; vì bận rộn, vất vả làm việc ở bên ngoài, khiến sức khỏe sa sút, cơ thể bị tổn hại.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Có duyên với bạn bè, chọn lựa bạn bè giao du rất cẩn thận, sẽ muốn giao du nhiều bạn bè.

Dễ vì tình cảm xung động mà vượt quá giới hạn tình bạn với người khác giới.

Công việc hay sự nghiệp đều được bạn bè trợ lực.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Là người rất có tinh thần trách nhiệm, có yêu cầu cao đối với công việc hay sự nghiệp, khá lao tâm.

Mở rộng sự nghiệp quá độ hoặc làm việc quá mệt mỏi, khiến cơ thế bị tổn thương.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Kinh doanh hoặc mở tiệm tại nhà.

Có quyền chủ đạo ở nhà; dục vọng đối với tài phú rất mạnh; sẽ có tình trạng tranh giành gia sản.

Cơ năng tính dục khỏe mạnh; có thể dựa vào nghề chuyên môn để mưu sinh.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Quan hê giao tế rất tốt đẹp; thích hưởng thụ tửu sắc; sinhhoạt không có quy luật.

Rất có năng lực; khá lao tâm lao lực; dễ có tai ách.

Cung tật ách phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Cơ thể cường tráng, hiếu động, dễ chuốc tranh chấp phiền phức, rắc rối; thường bị tổn thương bất ngờ.

Sẽ khoa trương, phóng đại về bản thân; có thể được trưởng bối trợ giúp.

(3)Cung tật ách phi Hóa Khoa:

Cung tật ách tự Hóa Khoa:

Tâm tính trung hậu, cừ chỉ có phong độ, khả năng tự kiềm chế rất tốt, không hùa theo người khác làm chuyện xấu.

Thể chất khỏe mạnh, sức đề kháng cũng mạnh, khó mắc bệnh nặng, có bệnh sẽ gặp lương y, khỏi bệnh rất mau.

Là người lễ độ, hiền hòa, lạc quan. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Lịch sự, nhã nhặn, có phong độ, là người lạc quan, có duyên với người chung quanh; vóc người mảnh mai, cao gầy, ít khi mắc bệnh nặng.

Tâm tính bình hòa, tâm trạng ổn định, cuộc sống vui vẻ, nhànhạ.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Xừ sự với anh chị em khá bình hòa, sáng suốt, có lí lẽ, có tiếtchế.

Sức khỏe bình ổn; dễ được quý nhân trợ lực nhiều.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu là nhờ người khác giới thiệu mà quen biết vợ chồng tôn trọng nhau, dễ có đào hoa người thứ ba xen vào, gây ra thị phi phiền phức.

Công việc hay sự nghiệp phát triển bình thuận.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Rất yêu thương con cái, có duyên sâu nặng với con cái, để cho con cái có không gian tự phát triển.

Vợ chồng sinh hoạt tính giao hòa điệu, có tiết chế.

ít tai họa, ra ngoài nểu gặp nạn tai sẽ phùng hung hóa cát.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, cân đối thu chi, tài chính thuận lợi, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn.

Nam mệnh có thể kiếm tiên của phụ nữ, nữ mệnh có thể sinh nhai bằng nghệ thuật.

Hưởng thụ sẽ có tiết chế, khá xem trọng hưởng thụ về phương diện tinh thần.

Anh chị em có thể giúp đỡ tiền bạc cho nhau.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Quan hệ giao tế tốt đẹp, cách xử sự vói bạn bè khá sáng suốt, có lí lẽ, hiền hòa.

Ra ngoài bình thuận, gặp nhiều quý nhân, cơ thể ít bệnh đau.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Giao du bạn bè hiền hòa, lễ độ, có lí lẽ, có tài năng; không giao du lầm bạn xấu.

Cơ thể có quý khí, khó bị bệnh di truyền; nếu gặp tai ách, thường sẽ có quý nhân xuất hiện để giải quyết.

Hòa hợp với đồng sự.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp khá nhẹ nhàng, phát triển bình ổn, bản thân rất thỏa mãn với công việc.

Có thể chuyên tâm học hành hay làm việc, hòa hợp với bạn học, đồng sự, đồng nghiệp.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Sinh hoạt gia đình bình yên thuận lợi, không lo túng thiếu.

Người nhà sống với nhau vui vẻ, ít xảy ra tranh chấp.

Vợ chồng sinh hoạt tính giao hòa điệu.

Mệnh tạo tính tình hiên hòa, lễ độ, có thái độ xử sự khá tốt.

Mệnh tạo xử lí việc nhà rất ngăn nắp, đâu ra đó.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Rất chú trọng chất lượng của đời sống tinh thần.

Sức khỏe tốt; rất có duyên với người chung quanh, gặp nhiều quý nhân.

Vận thế và sinh hoạt gia đình khá tốt.

Cung tật ách phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Được thừa hưởng gene di truyền tốt; sống hòa hợp với trưởng bối, trong số trưởng bối có nhiều quý nhân.

Ra ngoài phần nhiều đều được vui vẻ, bình yên, thuận lợi.

(4) Cung tật ách phi Hóa Kị:

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Dễ mắc bệnh tiềm ẩn mà khó chữa khỏi, sẽ kéo dài rất lâu, nhưng không nguy hiểm đến tính mạng.

Là mạng vất vả, tính tốt, thẳng thắn, dứt khoát, không làm chuyện xấu, quan tâm người khác, thà bản thân chịu thiệt chớ không chiếm lợi ích của người khác.

Ít gặp quý nhân, lục thân không trợ lực; ra ngoài dễ có tai họa; làm việc vất vả khổ sở mà kiếm được ít tiền.

Người phối ngẫu hay ghen, theo dõi mệnh tạo chặt chẽ.

Cung tật ách phi Hóa KỊ nhập cung huynh đệ:

Lúc còn nhỏ cơ thể suy nhược, thường hay bệnh đau.

Không hòa hợp với anh chị em, gần nhau ít mà xa nhaunhiều.

Lúc còn nhỏ có tính nghịch ngợm, hay phản kháng, dễ giao du bạn bè xấu.

Khó có bạn bè tri kỉ.

Vợ chồng ít sống chung với nhau, sinh hoạt tính giao không hòa điệu.

Dễ cótình nhân ở bên ngoài, nhiều đào hoa thị phi.

Cung tật ách phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Sự nghiệp không kiếm được tiền, việc làm không ổn định.

Vợ chồng sinh hoạt tính giao không hòa điệu, sức khỏe của người phối ngẫu hơi kém.

Cung tật ách phi Hóa KỊ nhập cung tử nữ:

Duyên phận bạcvới con cái, dạy dỗ con theo kiểu tâm trạng hóa, rất nghiêm khắc, mà cũng quá chiều chuộng.

Sinh hoạt tính giao nhiều, dễ có đào hoa, đào hoa theo kiểu nặng về nhục dục.

Ra ngoài dễ gặp tai họa, dễ mắc bệnh lây nhiễm qua đường tính dục.

Nữ mệnh nên cẩn thận, dễ bị lưu sản, trụy thai.

Công việc hay sự nghiệp khó kiếm tiền, khó phát triển.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Là người có tâm cơ khó lường, khá xem trọng tiền bạc, sẽ vì bản thân mà trù mưu tính kế.

Chi ra nhiều mà thu vào ít, tiền bạc không thuận lợi, nỗ lực kiếm tiền, vì kiếm tiền mà tổn hại sức khỏe.

Dễ mắc bệnh tiềm ẩn, thường vì sinh bệnh mà phá tài.

Nam mệnh vì bệnh mà hao tài; nữ mệnh kiếm tiền trong ngành giải trí, tính dục mạnh, có nhiều nhu cầu về tính dục.

Cung tật ách tự Hóa Kị:

Cơ thể ốm yếu, dễ mắc bệnh mạn tính hoặc ám tật triền miên, nhưng không đột ngột phát bệnh nghiêm trọng, khó mắc bệnh truyền nhiễm hay bệnh ung thư.

Là người thẳng thắn, không có tầm cơ, đầu óc ứng biến không lanh lẹ, tâm trạng không ổn định.

Tính tình hơi kì quái, không tin ai thái quá.

Bụng dạ không cởi mở, tự tư tự lợi, có lúc sẽ vì lợi ích của bảnthân mà gây tổn hại cho người khác.

Vợ chồng sinh hoạt tính giao không hòa điệu.

Khá vất vả, đừng để mắc nợ ai, sẽ không cách nào trả được. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tật ách phi Hóa KỊ nhập cung thiên di:

Ra ngoài thường không hợp thủy thổ, dễ gặp tai ách bất ngờ; ở bên ngoài phần nhiều không thuận lợi, sẽ vì xung đột mà bị thương bất ngờ.

Sức khỏe kém, năng lực tính dụckém, ít sinh hoạt tính giao.

Sự nghiệp không kiếm được tiền, đi làm không được như ý, đi xa tìm hướng phát triển sẽ tốt hơn.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Lúc trẻ dễ giao du bạn xấu, dẫn đến nhiều thị phi, dễ xảy ra tranh chấp.

Lúc còn nhò, thể chất kém, dễ mắc bệnh lây nhiễm qua đường tính dục, cũng dễ mắc bệnh tiềm ẩn bẩm sinh, di truyền, khó chữa trị.

Sự nghiệp đầu tư, vận kinh doanh không thuận lợi, dễ gặp nguy cơ về tài chính, khó xoay sở vốn liếng.

Dễ vì tình cảm xung động mà hiến thân.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Có tinh thần trách nhiệm, xem trọng sự nghiệp; làm việc hết lòng với chức trách của mình, phàm chuyện gì cũng đích thân làm.

Công việc hay sự nghiệp không thuận lợi, không ổn định; không hòa hợp với đồng sự.

Công việc rất vất vả khổ sở, lao tâm lao lực.

Lối suy nghĩ, tính tình đều không hợp với ngưòi phối ngẫu; sau kết hôn, người phối ngẫu bị sụt cân, sinh hoạt tính giao bị trở ngại.

Tài vận của anh chị em không tốt, đầu tư không kiếm đượctiền.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Tài vận không thuận lợi, dễ phá tài; nhưng rất biết làm ăn, thường hay suy nghĩ làm thế nào để kiếm tiền, rất thích mua bất động sản, nhất định sẽ có cơ hội mua nhà.

Sức khỏe kém, thể chất không được tốt, cơ năng sinh thực khí không được tốt, có thể có khuyết tật.

Cuộc sống khá vất vả, gặp nhiều tai kiếp bất ngờ, cẩn thận phòng sự cố giao thông; nữ mệnh dễ bị lưu sản, hoặc phải sinh mổ, phần nhiều dễ mắc bệnh phụ khoa.

Không thích ra ngoài, ở nhà thường không yên ổn, không có duyên với con cái, dễ có sự ngăn cách giữa hai đời.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Mạng vất vả, phúc trạch kém, duyên với người chung quanh không được tốt, tâm trạng không yên ổn, dễ có sự thiên lệch, tư tường cực đoan.

Sức khỏe kém, dễ mắc bệnh, chữa trị gian nan, sẽ kéo dài nhiều năm.

Công việc hay sự nghiệp không thuận lợi, khó kiếm tiền.

Nặng chủ quan, kiên trì với ý kiến của bản thân, dê thành người cố chấp.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Lúc còn nhỏ sức khỏe kém, dễ bị khuyệt tật bẩm sinh, phátướng.

Quan hệ với trường bối không được tốt, phần nhiều rời xa cha mẹ rất sớm, cũng dễ bị nạn tai bệnh tật nghiêm trọng, nguy đến tính mạng.

Ra ngoài không thuận lợi, thường không hợp thủy thổ.

Công việc hay sự nghiệp không thuận lợi, dễ gặp nguy cơ về tài chính và tình trạng văn thư thị phi kiện tụng, khó xoay sờ.

Tài vận của anh chị em không thuận lợi, dễ phá tài, không giữ tiền được.

Cung nô bộc phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung nô bộc phi hóa

(1) Cung nô bộc phi Hóa Lộc:

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Bạn bè đối xừ rất tốt với mệnh tạo, thán phục tài năng của mệnh tạo, quan tâm mệnh tạo.

Rất có duyên với người khác giới, rất được bạn bè khác giới ngưỡng mộ, đào hoa sẽ chủ động đến cửa.

Nếu đồng thời cung nô bộc lại phi Hóa Kị xung cung tam hợp, là ý tượng: vì bạn bè mà hao tốn tiền. Nếu Hóa Kị nhập cung tử nữ là ý tượng: bạn bè giao tế thù tạc với mệnh tạo hoặc bạn bè muốn mệnh tạo giúp họ xoay sở tiền bạc.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Gia trạch hưng vượng, nhiều anh chị em, có thể giúp đỡ lẫn nhau, sống với nhau hòa mục.

Sinh kế gia đình sung túc, bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm

tiền.

Nếu đồng thời cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh, cùng bạn bè thù tạc ờ bên ngoài phần lớn đều do mệnh tạo mời, nhưng có bạn bè tốt mời mệnh tạo trước.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu có sức khỏe tốt, rất có duyên với người chung quanh, lạc quan.

Mệnh tạo đối xử rất tốt với người phối ngẫu.

Bạn bè có thể giúp mệnh tạo phát triển sự nghiệp, nếu cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là ý tượng: bạn bè giúp mệnh tạo phát triển và muốn mệnh tạo sẽ báo đáp.

Sự nghiệp kinh doanh của mệnh tạo hoặc nơi mệnh tạo đi làm, đều có vận kinh doanh bình ổn, có phát triển.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Có duyên với người khác giới, gặp gỡ nhiều đào hoa.

Giao tế thù tạc nhiều với bạn bè, bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền.

Nếu đồng thời cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là ý tượng: bạn bè ỷ lại vào mệnh tạo, mục đích của họ là muốn tiền bạc của mệnh tạo; nếu Hóa Kị xung cung mệnh, là ý tượng: bạn bè sẽ moi tiền của mệnh tạo, mệnh tạo chỉ có chi ra mà không có thu hoạch.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Bạn bè thường tìm mệnh tạo để thù tạc, còn có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền.

Nếu đồng thời cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là ý tượng: bạn bè giúp mệnh tạo rất nhiều, bạn bè của mệnh tạo phần nhiều đều là bạn thâm giao nhiều năm; nếu mở công ti, là ý tượng: nhân viên làm thuê lâu dài, trung thành và tận tụy, nhưng không thể hợp tác cổ đông với bạn bè hoặc nhân viên, dễ có phiền phức, rắc rối.

Nếu Hóa Kị xung hoặc ở cung tam hợp của cung mệnh, là ý tượng: bạn bè sẽ làm mệnh tạo hao tốn tiền bạc.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Bạn bè thường trả tiền mời mệnh tạo thù tạc.

Có duyên với người khác giới, nhiều đào hoa, cơ thể khỏe mạnh, có thể phùng hung hóa cát.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Bạn bè giao du hòa hợp, rất quan tâm mệnh tạo; có cơ hội kiếm tiền sẽ giới thiệu cho mệnh tạo.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, thích ra ngoài vui chơi, gặp nhiều quý nhân.

Tình cảm vợ chồng tốt đẹp; công việc của người phối ngẫu khá thuận lợi.

Cung nô bộc tự Hóa Lộc:

Giao du bạn bè có tiền, có địa vị, bạn bè đối xử với nhau tốt đẹp.

Rất có ý tứ với bạn bè, qua lại tiên bạc, bạn bè không trả cũng không để bụng; là người tốt quá mức, không so đo tính toán với bạn bè.

Giao du rộng, nhiều bạn bè, hợp tác với bạn bè dễ kiếm được tiền. (Xin xem thêm mục liên quan ữong chương 6)

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền, hợp tác vui vẻ.

Nếu đồng thời cung nô bộc phi Hóa KỊ nhập cung mệnh là ý tượng: sẽ kết hôn sớm, nhung không nên qua lại tiền bạc với bạn bè.

Nếu đồng thời cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, là ý tượng: đối đãi bạn bè rất tốt.

Nếu Hóa Kị xung cung mệnh hoặc xung cung điền trạch, là ý tượng: bạn bè sẽ làm hao tốn tiền bạc của mệnh tạo.

Nếu Hóa KỊ xung cung tam hợp của cung mệnh, bạn bè sẽ làm hao tốn tiền bạc của mệnh tạo; nhưng nếu Hóa Kị nhập cung điền trạch, là ý tượng: có cơ hội kiếm tiền, bạn bè sẽ nói cho mệnh tạo biết.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Có thể hợp tác, bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền, cũng thích đến nhà mệnh tạo chơi.

Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa, dễ có tình trạng sống chung như vợ chồng.

Có thu nhập của tổ nghiệp để chi dụng trong gia đình.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Có phúc ấm của tổ tiên, phúc trạch tốt, sự nghiệp có thể phát triển thuận lợi.

Mệnh tạo có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa xen vào hôn nhân.

Bạn bè có thể giúp cho sự nghiệp của người phối ngẫu pháttriển.

Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu khá thuận lợi.

Thường giao tế thù tạc với bạn bè có cùng sở thích.

Cung nô bộc phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ có phúc trạch.

Có thể thừa kế sự nghiệp của cha mẹ.

Có thể được cha mẹ, trường bối quan tâm.

(2) Cung nô bộc phi Hóa Quyền:

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Bạn bè có lực cạnh tranh mạnh, khiến mệnh tạo có cảm giác bị áp bức.

Giao du với bạn bè ưa cạnh tranh, tranh quyền chủ đạo, cũng thường hay xảy ra tranh chấp.

Hai bên cũng có thể bàn bạc, hỗ trợ nhau, khẳng định nhau.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Anh chị em có tính độc lập rất mạnh, ra bên ngoài gặp nhiều cạnh tranh, có thể có thành tựu.

Sinh kế gia đình sung túc, nhưng tiêu xài nhiều.

Trong công việc hay sự nghiệp, bạn bè hay cạnh tranh với mệnh tạo.

Bạn bè của mệnh tạo thích tạo sự chú ý, khá chuyên quyền, hay đấu đá với người khác mà chuốc thị phi.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Bạn bè xem trọng sự nghiệp, có thể trợ giúp mệnh tạo làm cho sự nghiệp phát triển, nhưng cũng sẽ can dự vào công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo.

Người phối ngẫu có cá tính mạnh, thể chất yếu, dê gặp nạn tai bất ngờ.

Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giói, dễ bị đào hoa quyến dụ.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Giao du với bạn bè khác giới, dễ xảy ra quan hệ tính dục.

Bạn bè sẽ lấy tài năng, nghề chuyên môn ra hợp tác với mệnhtạo.

Người phối ngẫu có năng lực tính dục khá mạnh, ham muốn nhiều, khó tiết chế.

Bạn bè ở bên ngoài hay cạnh tranh với người khác, đễ có thịphi.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Bạn bè cạnh tranh với mệnh tạo để kiếm tiền, ngầm đấu đá, âm mưu lừa gạt tiền của mệnh tạo.

Mệnh tạo giao du với bạn bè có tính hay ra oai, phách lối, ưa gây sự chú ý.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Bạn bè thế mạnh hơn, rất chủ động; nếu giao du với bạn bè khác giới sẽ bị họ đeo bám, dễ có hành vi bạo lực.

Nên cẩn thận phòng tai họa bất ngờ.

Dễ xảy ra tranh cãi thị phi với đồng sự hoặc ông chủ trongcông ti.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Mệnh tạo ờ bên ngoài thường hay tranh với người khác tạo sự chú ý, dễ phạm tiểu nhân, chuốc thị phi tranh chấp.

Bạn bè có thế mạnh, hay can thiệp vào chuyện của mệnh tạo, làm mệnh tạo có cảm giác bị áp bức.

Cung nô bộc tự Hóa Quyền:

Bạn bè thường hay ra oai, phách lối, có tài năng, phần nhiều là người có quyền thế, có địa vị; sẽ chọn bạn để giao du, rất trung thành với bạn bè.

Bạn bè ưa tạo sự chú ý, sẽ tranh quyền với mệnh tạo, sẽ kéo chân của mệnh tạo.

Mệnh tạo lãnh đạo bộ phận có năng lực, nhưng khó quản lí. Người phối ngẫu có cơ thể khỏe mạnh, ít bị bệnh tật, sức chịu đựng rất mạnh, nhưng một khi mắc bệnh sẽ khó chữa khỏi.

Người phối ngẫu cá tính mạnh, dễ kích động, không cam tâm bị người khác lựa gạt, không thích bị thua thiệt, hay so đo với người khác; ông chủ, cấp trên có thế mạnh hơn, người phối ngẫu cũng sẽ so đo thị phi. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Bạn bè có tài năng, cá tính mạnh, không chịu thua, có thể giúp mệnh tạo phát triển công việc hay sự nghiệp.

Công việc hay sự nghiệp có thể phát triển; nếu nhậm chức sẽ dễ thăng tiến, quyền cao chức trọng.

Người phối ngẫu bận rộn làm việc, dễ tổn hại sức khỏe, có duyên với người chung quanh, nhưng cũng dễ gặp nạn tai bất ngờ.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Giao du bạn bè ổn định, có thể duy trì lâu dài, càng lâu càng thân tình.

Chiêu đãi bạn bè ở nhà quá sang trọng và phô trương.

Người phối ngẫu nắm quyền trong nhà, có nghề chuyên môn để mưu sinh, có tham vọng cao về tiền bạc.

Người phối ngẫu có năng lực tính dục khá mạnh, dễ có đàohoa.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Bạn bè ưa tạo sự chú ý, thích phô trương, có năng lực kiếm tiền, lúc thù tạc bạn bè thường xuất tiền nhiều hơn.

Mệnh tạo có thể được thừa kế tổ nghiệp mà phát dương quanđại.

Cung nô bộc phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Sự nghiệp của cha mẹ gặp nhiều cạnh tranh, có phát triển từ nhỏ thành lớn.

Bạn bè ưa sai bảo mệnh tạo, gây áp lực cho mệnh tạo; nếu là nữ mệnh, dễ bị bạn bè khác giới xâm hại.

(3)Cung nô bộc phi Hóa Khoa:

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Giao du chân thành, xử sự hiền hòa, có lí tính với bạn bè; là quý nhân của bạn bè.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Anh chị em ở bên ngoài làm ăn thuận lợi, có thanh danh, phần nhiều đều có quý nhân trợ lực, có thể phùng hung hóa cát, bạn bè hành sự quang minh lỗi lạc, hiểu biết lễ nghĩa, không so đo tính toán với người khác.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Bạn bè quan tâm sự nghiệp của mệnh tạo, còn có trợ lực; trong công việc, cấp trên hoặc đồng sự có trợ lực cho mệnh tạo.

Người phối ngẫu có sức khỏe tốt, ít sinh bệnh; cũng rất có duyên với người chung quanh, đối nhân xử thế chân thành, là người lạc quan.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Bạn bè rất quan tâm lo lắng cho gia đình của mệnh tạo; sinh hoạt gia đình bình yên, nhãn nhã.

Con cái có nhu cầu tiền bạc không lớn, dùng tiền có kế hoạch rõ ràng.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Mệnh tạo và bạn bè thường dùng tiền chung với nhau; lúc cấp bách sẽ có quý nhân giúp đỡ.

Người phối ngẫu dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, cân đối thuchi.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Gene di truyền tốt, không mắc bệnh di truyền, có sức đề kháng bệnh rất mạnh.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Bạn bè xừ sự với nhau chân thành, tình bạn lâu bền, có thểgiúp đỡ lẫn nhau, không tính toán so đo.

Cung nô bộc tự Hóa Khoa:

Xử sự hòa mục với bạn bè, bạn bè có tài năng, có tu dưỡng, lịch sự nhã nhặn, thường trợ lực mệnh tạo, không hay so đo tính toán.

Người phối ngẫu tính tình trung hậu, có phong độ, có thể tự kiềm chế, không hùa theo người khác làm chuyện xấu, là người lạc quan, có sức đề kháng bệnh khá mạnh, mắc bệnh cũng dễ chữa. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp được nhiều trợ lực, hòa mục với đồng sự.

Sự nghiệp có thanh danh.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Gia vận tốt, nếu gặp khó khăn sẽ có quý nhân tương trợ.

Người phối ngẫu biết quản lí gia đình, mọi việc đều ngănnắp.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Tổ tiên có đức, nhiều phúc ấm, có thể phùng hung hóa cát, biết tiếc tiền, tiếc phúc.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, sức khỏe tốt, chú trọng đời sống tinh thần.

Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu khá bình ổn thuận lợi, đồng sự hòa hợp.

Cung nô bộc phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ là người sáng suốt, có lí lẽ, hiền hòa lễ độ, đối xử với mọi người rất hiền hòa.

Công việc của mệnh tạo khá thuận lợi, có quý nhân giúp đỡ, trưởng bối quan tâm, có thể cùng nhau giúp cho sự nghiệp cùa cha mẹ.

(4) Cung nô bộc phi Hóa Kị:

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Bạn bè rất ỷ lại vào mệnh tạo, lúc thù tạc cùng bạn bè đều do mệnh tạo chi trà, nhưng rất ít khi được đáp trả.

ít bạn bè, phần nhiều là bạn bè gây khó xử; mệnh tạo cũng có rất ít bạn thâm giao.

Không nên hợp tác với người khác.

Rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa rắc rối, phiềnphúc.

Người phối ngẫu có sức khỏe kém, dễ bị bệnh đau, không có phúc trạch, duyên phận bạc với mệnh tạo, dễ xảy ra tình huống sinh li từ biệt.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Bạn bè phần nhiều là người ở nơi khác, bất lợi đối với mệnh tạo, không được giao du thân thiết, sẽ làm mệnh tạo hao tốn tiền bạc, ảnh hưởng đến sinh kế gia đình.

Không được hợp tác với bạn bè, cũng đừng qua lại tiền bạc hay cho mượn đồ quý giá, sẽ bị thua thiệt, mà còn gặp phiền phức, rắc rối.

Sức khỏe của người phối ngẫu không được tốt, dễ gặp nạn tai bất ngờ.

Nêu có đào hoa là do đối phương chủ động đến, dễ có phiền phức, rắc rối.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung phu thê:

Bạn bè không trợ lực cho công việc hay sự nghiệp cùa mệnh tạo, mà còn gây thiệt hại.

Mệnh tạo là người hay ghen tuông, sẽ quản thúc chuyện giao du bạn bè của người phối ngẫu.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Bạn bè tìm mệnh tạo để hợp tác hoặc đề thù tạc, sẽ là mệnh tạo hao tốn tiên bạc.

Bạn bè không thích đến nhà mệnh tạo.

Nhà ở không được yên ổn, dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắcrối.

Có duyên với người khác giới, sẽ có đào hoa gây rắc rối.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Bạn bè sẽ làm hao tốn tiền bạc của mệnh tạo, đừng qua lại tiền bạc với bạn bè, cũng đừng cho người ta vay tiền để lấy lãi, dễ bị giật.

Lúc còn nhỏ, cuộc sống gia đình không được sung túc.

Cung nô bộc phi Hóa KỊ nhập cung tật ách:

Gene di truyền không tốt, dễ bị bệnh tật tiềm ẩn bẩm sinh. Không biết lòng dạ của bạn bè, dễ bị bạn bè gây lụy mà dẫn đến thị phi kiện tụng.

Không nên làm người bảo lãnh, dễ có phiền phức, rắc rối về văn thư hợp đồng.

Rất có duyên vói người khác giới, sẽ có đào hoa đeo bám, có quan hệ thân mật, cũng sẽ gặp phiền phức, rắc rối, khó xử.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

ít bạn bè tri kỉ, bạn bè có. duyên phận bạc với mệnh tạo, sẽ vì bạn bè mà bị tổn thương hoặc tổn thất.

Vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều, dễ xảy ra tình trạngli hôn.

Nếu có đào hoa sẽ không giữ lại, chi là duyên nhất thời, không lâu dài.

Cung nô bộc tự Hóa Kị:

Giao du bạn bè không ổn định, hay thay đổi; ít có bạn tri ki, khó có bạn thâm giao.

Bạn bè sẽ khá vô tình, tự tư tự lợi, sẽ lợi dụng hoặc phản bội, bán đứng mệnh tạo.

Có tình trạng mắc nợ nhau rối rắm, không rõ ràng giữa bạn bè. Thiếu nợ thì phải trả, một xu một hào cũng không bỏ; nhưng người khác thiếu tiền mệnh tạo, thường là không cách nào thu tiền về, lúc đi đòi thì tình bạn cũng sẽ mất.

Nhân viên hay thuộc cấp tuy nhiều nhưng không đắc lực, khó quản lí; thường hay thay đổi nhân viên.

Không nên hợp tác với người khác, dễ bị thua thiệt.

Nếu có đào hoa sẽ không giữ lại, không lâu dài; cũng rất dễ tương tư đơn phương. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Bạn bè không trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo; đi làm hường lương khó thăng tiến, nếu sáng lập cơ nghiệp dễ thuê nhầm người không có năng lực.

Làm ăn kinh doanh sẽ có đấu đá ngầm, chọc tức hoặc gây tổn thất cho mệnh tạo, sẽ rất khó xử.

Làm công chức thì quan trường không thuận lợi.

Người phối ngẫu có sức khỏe kém, dễ mắc bệnh nặng, sinh litừ biệt.

Nếu cung nô bộc đồng thời phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch, là ý tượng: bạn bè có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Bạn bè thường đến nhà mệnh tạo để tán gẫu, bàn luận những chuyện vô dụng, không có lợi cho mệnh tạo, mà còn gây khó xử.

Hợp tác bất lợi, nếu bạn bè có chuyện mượn tiền, sẽ một đi không trở lại.

Rất có duyên vói người khác giới, nếu có đào hoa sẽ khó cắt đứt, có quan hệ tính giao. Giao du với người khác giới khá xem trọng quan hệ nhục dục.

Lúc sinh đẻ, phải lim ý sức khỏe của đứa bé, nếu đồng thời cung nô bộc tự Hóa Lộc, là ý tượng: nguy hiểm đến tính mạng, nữ mệnh dễ mắc bệnh phụ khoa.

Cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Bạn bè sẽ làm mệnh tạo hao tốn tiền bạc, tiêu xài tiền của mệnh tạo.

Lúc còn nhỏ gia cảnh không được tốt, phúc trạch kém, dễ bị tai nạn

Người phối ngẫu dễ mắc bệnh khó chữa, khá vất vả, công việc hay sự nghiệp đều không thuận lợi.

Cung nô bộc phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Bạn bè thường hay làm phiền mệnh tạo, đã không có lợi mà còn gây tốn hại cho mệnh tạo.

Không nên hợp tác hoặc đứng ra bảo lãnh bạn bè; cho vay lấy lãi sẽ dễ bị phiền lụy.

Không nên đầu cơ hoặc đầu tư, cũng không thích hợp làm việc trong các tổ chức công hoặc tư nhân, rất khó thăng tiến.

Công việc hay sự nghiệp của cha mẹ không thuận lợi.

Cung điền trạch phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung điền trạch phi hóa

(1) Cung điền trạch phi Hóa Lộc:

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Hoàn cảnh gia đình khá tốt, gia nghiệp hưng vượng, có thể được hưởng phước ấm của dòng họ, sản nghiệp sẽ tăng thêm.

Mạng có con cái, sinh hoạt gia đình hòa hợp vui vẻ.

Nếu có đào hoa, đối tượng là người đã từng có hôn nhân hoặc đã có con.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Cuộc sống gia đình khá sung túc, có tiền có thể giúp đỡ anh chị em, anh em sống với nhau vui vẻ, anh chị em có thể được dòng họ quan tâm chăm lo.

Có duyên với người chung quanh, sống hòa hợp với bạn bè.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Sự nghiệp phát triển có thể là nhờ có dòng họ trợ lực.

Người phối ngẫu quản lí tài chính trong gia đình, có thể sẽ lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để mua tậu nhà cửa.

Rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn còn giao du nhiều bạn bè khác giới.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Sẽ mua tậu nhiều bất động sản, có nhiêu sản nghiệp.

Rất có duyên với người chung quanh, ra bên ngoài gặp nhiều quý nhân, thường hay giao tế thù tạc, thích chạy rong bên ngoài.

Con cái có duyên với người chung quanh, có thể được dòng họ bà con quan tâm chăm lo, ra bên ngoài cũng có quý nhân giúp đỡ.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Dòng họ bà con có thể giúp vốn cho mệnh tạo, cầm tiền trong nhà ra tiêu xài hoặc đầu tư sự nghiệp.

Có thể hợp tác làm ăn với người nhà.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Hoàn cảnh sống khá tốt, bụng dạ rộng rãi, cơ thể dễ phát phì, nhưng cũng sẽ vì việc nhà nhiều mà mệt mỏi, cẩn thận phòng bệnh đường tiêu hóa.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Có thể không có tổ nghiệp, sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển, và tự mua bất động sản.

Rất có duyên với người khác giới, đối tượng đào hoa là người đã từng có hôn nhân.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Có duyên với người chung quanh, giao du rộng, bạn bè có trợlực.

Vợ chồng tình thâm ý trọng, người phối ngẫu có thể được dòng họ bà con quan tâm chăm lo, cuộc sống được hưởng thụ nhiều, dễ phát phì, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa.

Cung điên trạch phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Có thể mờ tiệm tại nhà, làm ăn hưng vượng.

Mệnh tạo đầu tư sáng lập cơ nghiệp, gia đình có thể giúpvốn.

Cung điền trạch tự Hóa Lộc:

Hoàn cảnh gia đình khá tốt, có tổ nghiệp, rất có tiền, cũng rấtbiết tiêu xài tiền, tiêu xài nhiều ít chẳng quan tâm.

Mệnh tạo cũng sẽ tự mua bất động sản, nhà cửa sang trọng, cũng sẽ bán nhà; có thể làm nghề liên quan đến bất động sản hoặc kinh doanh tiền tệ.

Có duyên với người chung quanh, cũng rất có duyên với người khác giới, tính dục mạnh, sau kết hôn có thể có tình nhân ở bên ngoài, thuộc loại đào hoa nhục dục. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Có thể thừa kế tổ nghiệp, giàu có, cuộc sống sung túc, có phước để hưởng.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ tính tình rộng rãi, độ lượng; mệnh tạo có thể thừa kế tổ nghiệp, cuộc sống sung túc, có thể được gia đình quan tâm chăm lo, là người hiếu kính với cha mẹ.

(2) Cung điền trạch phi Hóa Quyền:

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Dòng họ có tổ nghiệp, mệnh tạo có thể được thừa kế sản nghiệp của tổ tiên, nhưng sẽ xảy ra tranh chấp thị phi; sẽ mua thêm bất động sản, lúc xoay chuyển vốn liếng bị trở ngại, có thể dùng bất động sàn giải quyết.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, nên dựa vào sự trợ giúp cùa anh chị em.

Lúc phân chia tài sàn của dòng họ, sẽ có hành vi tranh chấptài sản

Cung điền trạch phi Hóa Quyên nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu rất có năng lực, giỏi quản lí tài chính, sau kết hôn sẽ lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để mua bẩt động sàn, tài sàn để cho người phối ngẫu quàn lí.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Ở bên ngoài, mệnh tạo có lực cạnh tranh; sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển.

Con cái có tài năng, có nghề chuyên môn, ở bên ngoài được khắng định.

Rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa quấn vàongười.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Mua bất động sản, phải dựa vào bản thân để kiếm tiên.

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, cầm tiền trong nhà ra đầu tư.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Phần nhiều dựa vào bản thân nỗ lực, nghề nghiệp chuyên môn và tài năng để mưu sinh, vì gia đình mà làm lụng vất vả.

Dễ có đào hoa quấn vào người.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Không thòa mãn với tổ nghiệp, sẽ rời quê hương đi xa để tìm hướng phát triển, ra bên ngoài kiếm tiền, sẽ mua bất động sản.

Tổ nghiệp to tát, có thành tựu, ở bên ngoài có lực cạnh tranh.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Tự giúp mình rồi người mới giúp mình, có thể phát huy sở trường của mình, được người ta xem trọng, rất có lực cạnh tranh.

Giao du nhiêu bạn bè, được bạn bè tôn trọng.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Phần nhiều dựa vào nghề chuyên môn và tài năng để mưu sinh, khá vất vả, dòng họ bà con có thể giúp vốn sáng lập cơ nghiệp.

Phần nhiều sẽ được bạn bè khác giới trợ lực, khiến đời sống tinh cãm hoặc hôn nhânxảy ra nhiều chuyện phiền phức, rắc rối.

Cung điền trạch tự Hóa Quyền:

Người trong nhà có nhiều ý kiến, ưa tranh quyền, không hòahợp với nhau.

Có duyên vói người chung quanh, xem trọng tiền bạc, tự tư tự lợi, sáng suốt tài cán, có thê làm nghề liên quan đến kĩ thuật để mưu sinh.

Sẽ mua bất động sản, có nhiều nhà cửa, có thể cho thuê.

Lúc phân chia gia sản sẽ có chuyện tranh giành. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Sinh hoạt gia đình không tiết kiệm, tiêu xài lớn, khá phôtrương.

Người phối ngẫu vì sự nghiệp mà rất bận rộn, thường phải giao tế thù tạc để tranh thủ tình cảm đối tác làm ăn.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ rất chủ quan , ưa ra oai, uy nghiêm, khó chấp nhận lời nói nhẹ nhàng lịch sự của người khác.

Sẽ không ngừng đầu tư vào bất động sản.

(3) Cung điền trạch phi Hóa Khoa:

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Gia đình có giáo dục tốt, cuộc sống bình yên vui vẻ; mệnh tạo được gia đình quan tâm, thỏa mãn với tổ nghiệp.

Lúc thiếu vốn liếng xoay sở, sẽ lấy bất động sản thế chấp để vay tiền.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Trong anh chị em có người làm việc trong ngành văn hóa giáo dục.

Cuộc sống gia đình bình yên, ít tranh chấp với người khác.

Sinh kế gia đình bình ổn thuận lợi, có thể cân đối thu chi, tuy không nhiều, nhưng không lo thiếu.

Rất có duyên với người chung quanh, ra bên ngoài có trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, lo liệu việc nhà có bài bản, quan hệ gia đình rất tốt, tài vụ do người phối ngẫu quản lí, thường có kế hoạch rõ ràng, không lãng phí.

Công việc hay sự nghiệp đều được gia đình và người phối ngẫu trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Gia đình khá già, gia phong tốt đẹp, cuộc sống bình yên, ít sóng gió, gặp nạn tai có thể được quý nhân giúp đỡ.

Con cái thông minh, dễ thương, có khí chất, có thanh danh ở bôn ngoài.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Tài chính của gia đình mệnh tạo có nhiều trợ lực, sẽ có tình hình điều chuyển qua lại về tiền bạc.

Rất có duyên với người khác giới, thái độ giao du với người khác giới hiền hòa, rộng rãi, nhưng không tùy tiện.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Sinh hoạt gia đình có quy luật, cơ thể khỏe mạnh bình an; nếu gặp nạn tai, dễ được quý nhân tương trợ.

Cung điền trạch phỉ Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Gia đình có thanh danh ỡ bên ngoài, mệnh tạo ra ngoài dễ được quý nhân giúp đỡ, ít nạn tai.

Sẽ có tình hình xa quê hương để tìm hướng phát triển, không thỏa mãn với tổ nghiệp, ở bên ngoài cũng được gia đình trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Gia đình của mệnh tạo rất thân thiết với bạn bè của mệnh tạo.

Mệnh tạo thường xuyên liên lạc với bạn bè; thích điện thoại, gời email… “tán dóc” cả ngày với bạn bè.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Thích hợp làm những công việc cần động não hoặc có tài nghệ, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, nhẹ nhàng và vui vẻ; giađình trợ lực nhiều.

Thu nhập ổn định, ít nhưng đều đặn.

Cung điền trạch tự Hóa Khoa:

Gia đình có giáo dục tốt, có bầu không khí thư hương, con cái diện mạo thanh tú, thông tuệ, nhu thuận, có khí chất văn nghệ.

Có năng lực quản lí tài chính, phần nhiều đều có kế hoạch rõ ràng về tài chính, lúc cần tiết kiệm thì tiết kiệm, lúc cần tiêu xài thì tiêu xài, cách hường thụ thanh nhã, không lãng phí.

Có thể có bất động sản, do người khác giúp đỡ mà có được, mua nhà không cầu lớn hoặc sang trọng, đủ ở là thỏa mãn.

Nhà ở thoải mái; cuộc sống vui vẻ.

Rất có duyên với người khác giới, giao du nhiều bạn bè khác giới, nhưng không dính dáng nhục dục. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Có nhiều phúc ấm, phùng hung hóa cát, biết trân quý đồng tiền, trân quý hạnh phúc.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, sức khỏe tốt, chú trọng việc điều chỉnh đời sống tinh thần.

Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu đều bình ổn, thuận lợi, nhẹ nhàng; hòa hợp với đồng sự.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ là người sáng suốt, có lí lẽ, hiền hòa, không so đo tính toán với người khác, sinh hoạt gia đình vui vẻ, rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo.

(4) Cung điền trạch phi Hóa Kị:

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Tính tình bảo thủ, quản lí tài chính theo nguyên tắc của mình, bản thân tiết kiệm, cũng không thích chiếm tiện nghi của người khác.

Tuy không muốn nhưng thường phải bôn ba ở bên ngoài.

Lần đầu mua nhà dễ bị thua thiệt.

Có thể giao du với bạn bè khác giới lâu dài, đối tượng đào hơn thường là người đã li hôn nhung không có con.

Tiền bạc thường có hiện tượng hao hụt, tổn thất, không giữ được.

Cung điền trạch phi Hóa KỊ nhập cung huynh đệ:

Không nên qua lại tiền bạc với anh chị em hay bạn bè, dễ bị tổn thất, phiền phức, rắc rối.

Sinh kế gia đình thường bị tình trạng thu không bằng chi.

Tiền bạc thường bị tổn thất.

Đến đại hạn thứ hai, thường sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển.

Cung điền trạch phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, vận kinh doanh không thuận lợi, dễ bị lỗ vốn; tốt nhất là nên đi làm hưởng lương.

Rất có duyên với người khác giới, nhiều đào hoa, dễ có tình huống sống chung như vợ chồng, hôn nhân không có danh phận.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Gia vận không được tốt, lúc còn nhỏ cuộc sống không ổn định, thích chạy rong bên ngoài, gia đình thiếu quan tâm mệnh tạo.

Thích tiêu xài tiền, cầm tiền trong nhà ra ngoài tiêu xài, không có ý định mua nhà cửa. Sẽ thường dời nhà.

Rất quan tâm chăm sóc con cái, nhưng có khả năng là mạng không con cái.

Không nên làm chủ.

Thường hay giao tế thù tạc ở nơi phong hoa tuyết nguyệt; khó có hôn nhân, nhưng nhiều đào hoa, dễ có tình trạng sống chung như vợ chồng, nếu kết hôn “người ấy” sẽ mang con đến!

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Tài vận không tốt, trong nhà thường túng thiếu tiền bạc, sống cảnh nghèo túng.

Nên đi làm hưởng lương; không thích hợp đầu tư sáng lập cơ nghiệp, thường bị hụt vốn, sẽ mang nhà ra thế chấp để vay tiền hoặcbán nhà để xoay sở.

Tiền bạc thường bị thiếu hụt, tổn thất.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Sẽ rời xa cố hương, định cư ở tha hương.

Dễ bị thương tật vì nạn tai bất ngờ.

Trong gia đình xảy ra nhiều chuyện thị phi rắc rối, có thể sẽ không ờ chung với cha mẹ.

Nữ mệnh có thể bị kẻ xấu xâm phạm, khiến thân tâm bị tổn thương.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Thường hay dời nhà, sẽ rời xa cố hương, định cư ở tha hương để mưu sinh; ở bên ngoài dễ có tai ách, nên lưu ý phòng sự cố giao thông.

Xem trọng quan niệm gia đình, nhưng duyên phận bạc với dòng họ bà con.

Không có duyên với bất động sản; mua nhà lần đầu bị thiếutiền.

Khó kết hôn, giao du với bạn bè khác giới không được lâu, năng lực tính dục kém, có thể không có con cái.

Tài vận không tốt, tiền bạc dễ bị hao tốn, tổn thất.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Không hòa hợp với bạn bè, ít bạn bè mà nhiều phiền phức, dễ vì bạn bè mà tổn thất tiền bạc.

Lớn lên anh chị em đều ở riêng.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp đều không thuận lợi, sáng lập cơ nghiệp sẽ bị thiếu vốn, người nhà sẽ chi viện, nhưng dễ vì thua lỗ mà sinh phiền phức, rắc rối.

Nếu mua nhà, không nên lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để đăng kí.

Người phối ngẫu có mối quan hệ xa cách với gia đình của mệnh tạo.

Cung điên trạch tự Hóa Kị:

Sinh ra trong gia đình bận rộn lo chuyện sinh kế, lúc còn nhỏ gia giáo không nghiêm, duyên phận bạc với dòng họ bà con.

Nhà ở lộn xộn mà nhỏ, thường thay đổi nơi cư trú; tự mua nhà rất khó khăn.

Không có quan niệm quàn lí tài chính, rất lãng phí, không biết tiết chế, thường tiêu xài hết tiền.

Không muốn mấy chuyện lập gia đình, có kết hôn hay không, cũng chẳng quan trọng.

Rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa nhung không giữ lại.

Có thể làm nghề mua bán bất động sản.

Lần đầu mua nhà dễ xảy ra vấn đề, trước năm 35 tuổi không nên mua nhà.

Không quen ở nhà, thường bôn ba ở bên ngoài, dễ vì tai nạn bất ngờ mà phá tài, cũng phải phòng tù tội.

Sau kết hôn vẫn dễ có tình nhân ở bên ngoài, đối tượng là người độc thân đã li hôn. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phỉ Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Tài Vận không tốt, thu nhập không ổn định, trong nhà thường không có tiền, cuộc sống không ổn định, không có phước để hưởng.

Đầu tư làm ăn, vận kinh doanh không được tốt, sẽ lỗ vốn; nên đi làm hưởng lương.

Thường hay lãng phí tiền bạc, hoặc dễ bị tổn thất tiền bạc; khó mua nhà; có nhà cũng sẽ thế chấp để vay tiền, nhưng nợ khó trả.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Thường bôn ba, bốn phương là nhà.

Gia vận không thuận lợi, dễ phá tài, bán bất động sản mà tiền khó giữ được.

Sẽ ở chung với cha mẹ.

Dễ bị phá tướng vì tổn thương bất ngờ.

Cung phúc đức phi Hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung phúc đức phi Hóa

(1)       Cung phúc đức phi Hóa Lộc:

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Là người bụng dạ rộng rãi, độ lượng, thích hưởng thụ, có phúc ấm của tổ tiên, có tiền để tiêu xài; nhưng không nhất định là có đủ phúc phận, phúc khí cũng có lúc sẽ hết, tổ nghiệp có lúc cũng không còn.

Được hưởng thụ cuộc sống vợ chồng vui vẻ, nhưng cũng ngầm chứa nguy cơ.

Có cơ hội kiếm được nhiều tiền, nhẹ nhàng, vui vẻ.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Anh chị em có thể được hường phước ấm của tổ nghiệp, sinh kế gia đình được tổ nghiệp cung ứng đầy đủ.

Thường hay thù tạc vui vẻ với bạn bè.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu thông minh, tài cán, có sở trường chuyên môn, rất có duyên với người chung quanh, có thể làm việc độc lập, sự nghiệp ổn định, trợ lực nhiều cho mệnh tạo, có phúc khí, hôn nhân tốt đẹp, công việc hay sự nghiệp gặp được cơ hội tốt, phát triển thuận lợi.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Dòng họ bà con có vận thế tốt, ờ bên ngoài có nhiều trợ lực, sàn nghiệp phát triển.

Ra bên ngoài kiếm tiền vì gia đình, có thể mua thêm nhà cửa, nhưng hôn nhân dễ có người thứ ba xen vào.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Có thể bồi dưỡng tri thức cho thị hiếu sở thích của bàn thân để thành phương tiện kiếm tiền, kết hợp công việc với thị hiếu sở thích thành một.

Có phúc ấm của tổ tiên, có tổ nghiệp, được trợ lực.

Kiếm tiền nhẹ nhàng, vui vẻ, vợ chồng có phúc cùng hưởng.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Được hưởng gene di truyền tốt, cơ thể khỏe mạnh, không có bệnh nặng.

Tổ nghiệp hưng thịnh, nhung không nhất định sẽ giữ được.

Vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Có thể có tổ nghiệp, có phúc ấm của tổ tiên.

Ở bên ngoài vui vẻ, tâm tình cởi mở, sống hòa hợp với mọi người, không so đo tính toán thị phi.

Hôn nhân vui vẻ hạnh phúc.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Là người độ lượng, không tính toán so đo với bạn bè.

Thích giao du thù tạc với bạn bè có chung thị hiếu, sở thích.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Có tổ nghiệp, có phúc ấm, sự nghiệp có căn cơ vững chắc, càng ngày càng mạnh hơn, phát triển theo nhiều hướng.

Rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với nhiều bạn bè khác giới.

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Gia vận hưng thịnh, vui vẻ quan tâm chăm lo gia đình, tiền kiếm được phần nhiều chi dụng trong gia đình.

Người phối ngẫu kinh doanh tại nhà, có thể kinh doanh làm ăn liên quan đến bất động sản, kiếm đủ tiền sẽ mua nhà.

Cung phúc đức tự Hóa Lộc:

Là người độ lượng, không có tâm cơ, không nhờ vả lục thân, tự kiếm tiền tự hường thụ.

Rẩt sẵn sàng chi tiền để hường thụ; phúc ấm không tệ, được thừa kế sản nghiệp, cho nên tiêu xài tiền mà không lo.

Người phối ngẫu có quan hệ xã hội rất tốt, công việc thuậnlợi, kiếm được tiền sẽ cùng hưởng với mệnh tạo, mệnh tạo vất và, sẽ giúp mệnh tạo kiếm tiền. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phúc đức phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Có phúc ấm của tổ tiên, cha mẹ được hưởng gia tài, là người không tính toán so đo, bụng dạ rộng rãi.

Người phối ngẫu gặp nhiều cơ hội tốt, nhậm chức có thể được quý nhân đề bạt, nâng đỡ, chức vị cao, sáng lập cơ nghiệp có thể thành tựu.

(2) Cung phúc đức phi Hóa Quyền:

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Nặng ý thức về cái tôi, rất chủ quan, không chịu nghe lời khuyên chân thành, ưa ra oai, thích nắm quyền.

Có thể được hưởng phước ấm của tổ tiên.

Người phối ngẫu bận rộn làm ăn, lao tâm lao lực nhưng có thành tựu.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo đều gặp cơ hội tốt, thuận lợi, kiếm được nhiều tiền, sinh kế gia đình sung túc, còn được dòng họ giúp vốn.

Trong anh chị em có người thích ra oai, phách lối, ưa cạnhtranh.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Mệnh tạo chịu nỗ lực vì công việc hay sự nghiệp, người phối ngẫu có trợ lực, sự nghiệp có thành tựu.

Tổ nghiệp hưng thịnh, quy môlớn, có lực cạnh tranh.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Tô nghiệp hưng thịnh, có lực cạnh tranh, có không gian để mở rộng.

Bản thân cũng sẽ phát triến ra bên ngoài, đến nơi khác tìm cơhội.

Người phối ngẫu sẽ xa quê hương sáng ỉập cơ nghiệp, có thành tựu.

Họp tác làm ăn với người khác sẽ có không gian để mở rộng.

Con cái có tài năng, ở bên ngoài cạnh tranh với nhiều người, có thể được người ta tôn trọng.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Có tổ nghiệp hoặc được trưởng bối trợ lực, cho cơ hội kiếm tiền.

Sẽ vì hường thụ hoặc để mua chuộc cảm tình mà tiêu xài nhiều tiền cho việc giao tế thù tạc.

Người phối ngẫu có tinh thần trách nhiệm, bận rộn làm việc, có tham vọng lớn, có dục vọng kiếm thật nhiều tiên, có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền.

Cung phúc dức phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Được hưởng gene di truyền tốt, cơ thể cường tráng, công năng tính dục khỏe mạnh, hiếu sắc, không biết tiết chế.

Người phối ngẫu vất vả vì công việc mà không than oán, quá lao lực làm ảnh hưởng đến sức khỏe.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Cá tính mạnh, rất chủ quan, ở bên ngoài cạnh tranh với nhiều người, không chịu thua.

Được trường bối trợ lực, có chỗ để phát huy.

Công việc hay sự nghiệp cùa người phối ngẫu có nhiều cạnh tranh đấu đá, nhưng trong hôn nhân lại đóng vai trò của kẻ yếu.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Mệnh tạo là người cố chấp, tính tình cương cường, dễ xảy ra chuyện tranh quyền đoạt lợi với bạn bè đồng sự.

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Có tinh thần trách nhiệm, xem trọng sự nghiệp, rất chủ quan, có lực xung kích, được trưởng bối trợ lực mà có thành tựu.

Trong quan hệ hôn nhân, là người chủ động, đóng vai trò của kẻ mạnh

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Có thể được hường tổ nghiệp, nhưng vẫn không thỏa mãn, sẽ tự tậu thêm sản nghiệp.

Người phối ngẫu có tham vọng lớn trong sự nghiệp, tranh quyền đoạt lợi tại quê nhà.

Cung phúc đức tự Hóa Quyền:

Là người ưa ra oai, thích biểu hiện cái tôi, hay tranh địa vị chủ đạo, nhưng không cố ý hại ai, mà chi mưu đồ làm cho bản thân được an nhàn, có thành tựu, mà không để ý đến cảm thụ của người khác.

Xem mình là trung tâm, không chịu nghe ý kiến của người khác, cố chấp kiến giải của bàn thân, cũng không tin số mệnh.

Cuộc sống hôn nhân có nhiều xung đột, không được ổn định. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phúc đức phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ rất chủ quan, ưa cãi lí, được tổ nghiệp trợ lực, không chịu nghe ý kiến của người khác, thích hưởng thụ.

Mệnh tạo cũng thích hường thụ, dễ vì thị hiếu mà quên ngủ quên ăn, khiến sức khỏe bị tổn thương.

Hôn nhân không hạnh phúc.

(3) Cung phúc đức phi Hóa Khoa:

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Là người có tu dưỡng tính tình, lịch sự nhã nhặn, có phong độ, có khí chất, hiền hòa, không hay so đo tính toán.

Có phúc ấm của tổ tiên, có thể được hưởng tổ nghiệp.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, sinh kế gia đình ổn định, nếu gặp lúc cần tiền gấp cũng sẽ an nhiên vượt qua.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu có khí chất, có phong độ, công việc thuận lợi có danh vọng, cũng có trợ lực cho công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Ra bên ngoài kiếm tiền ít gặp sóng gió, sinh hoạt gia đình ổn định, nhà ở trang nhã thoài mái, cuộc sống hôn nhân ổn định.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Được tổ nghiệp trợ lực, tài chính ổn định, dùng tiền có kế hoạch tốt, không lãng phí, trong cuộc đời ít gặp sóng gió.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Được hưởng gene di truyền tốt, có phúc khí, cơ thể khỏe mạnh, tâm trạng yên ổn, thường được quý nhân giải nguy, là người không hay so đo tính toán, không chuốc thị phi.

Cuộc sống hôn nhân chú trọng ý vị tinh cảm, thiên nặng càm giác thỏa mãn vê tinh thần.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Có phúc ấm tổ tiên, ra bên ngoài gặp nhiều quý nhân, bình an thuận lợi, tinh thần vui vẻ.

Cuộc sống hôn nhân yên ổn.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Thích trợ giúp bạn bè, sống hòa hợp với bạn bè, đồng sự.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Đối với công việc hay sự nghiệp, trước khi hành động đều có kế hoạch, không gấp gáp xông tới, mà đi từng bước, dễ được quý nhân giúp đỡ, đề bạt, cũng dễ có thanh danh.

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Có thể được hường gia sản của tổ tiên, hoặc được người ta cho tiên, nhưng không nhiều.

Gia giáo tốt, có thể giữ thành quả; về tài chính, có thể cân đối

Cung phúc đức tự Hóa Khoa:

Là người có tu dưỡng tính tình, hành sự sáng suốt, có lí lẽ, không cực đoan, có phong độ, rộng lượng, có thê tự lập, có thiện tâm, thích giúp người khác, có kế hoạch kiếm tiền rõ ràng, nguồn tiền bình ổn, ít sóng gió.

Tâm trạng ổn định, thái độ nhã nhặn, có thị hiếu lành mạnh.

Người phối ngẫu làm việc có phong độ, dễ được quý nhân trợ giúp, dễ có thanh danh.

Quan hệ hôn nhân bề ngoài có vẻ bình ổn, nhưng thực ra không êm ấm. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phúc đức phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ có thế được hưởng phước ấm của tổ tiên.

Vận về già của mệnh tạo có thể được hưởng phước thanh

nhàn.

(4) Cung phúc đức phi Hóa Kị:

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Bụng dạ hẹp hòi, thiếu tu dưỡng tính tình, hay so đo tính toán, thích tranh đoạt danh lợi.

Tâm thần không yên ổn, không biết hưởng phước, khá vất vả.

Tính tình không cởi mở, hay buồn rầu tư lự, cảm thấy mình có tài mà không gặp thời.

Thích hưởng thụ, không có cảm giác an toàn, thường tiêu xài tiền lãng phí.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Vợ chồng không hòa hợp, hôn nhân khó hạnh phúc, dễ xảy ra tình trạng ờ riêng, li dị, tình cảm đô vỡ.

Khó có tổ nghiệp, sinh kế gia đình phải dựa vào bàn thân, thu nhập hay bị đứt đoạn.

Anh chị em sống với nhau không hòa hợp, khó có bạn bè tri ki.

Phần nhiều ít biết bà con dòng họ; nếu chia gia sàn sẽ không

Cung phúc đức phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu không có hoài bão, bụng dạ hẹp hòi, hay so đo tính toán, sự nghiệp không phát triển, không ổn định, cũng không trợ giúp cho sự nghiệp của mệnh tạo.

Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo không thuận lợi, tự kiếm tiền tự tiêu xài; hôn nhân khó hòa hợp, nhưng sẽ không li hôn.

Hôn nhân không được như ý, kết hôn cho có mà thôi.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Không có phước để hưởng, thường bôn ba ở bên ngoài, gia vận không tốt, gặp nhiều thị phi, khó được hưởng tổ nghiệp.

Trong nhà bất hòa, dễ xảy ra tình trạng tranh giành gia sản.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Xem trọng tiền bạc, nhưng không giữ được tiền, vì hưởng thụ mà lãng phí, gây ra tình trạng thấu chi, không được hưởng phước, tinh thần không ổn định.

Nguồn tiền không tốt, kiếm tiền vất vả.

Sự nghiệp của người phối ngẫu không kiếm được tiền.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Là người có lòng dạ ngay thẳng, thiện lương, vất vả nhiều.

Cơ thể suy nhược, nhưng ý chí kiên định; nên hành nghề tôn giáo hoặc sự nghiệp từ thiện; quan hệ hôn nhân không tốt, sinh hoạt tính giao không hòa điệu.

Cung phúc đức phi Hóa KỊ nhập cung thiên di:

Tâm thuật bất chính, thiếu phúc khí, bụng dạ hẹp hòi, hay so đo tính toán, sẽ hại người lợi mình, quan hệ giao tế không tốt.

Khó được hường phúc ấm của tổ tiên; dễ xảy ra tình trạng li hôn; phong thủy có vấn đề.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Tư tường cực đoan, dễ tranh chấp với người khác, hay so đotính toán.

Không hòa hợp với bạn bè đồng sự.

Duyên phận bạc với anh chị em, anh em không gần gũi, trong nhà bất hòa, dễ xảy ra tình trạng tranh giành gia sản.

Không nên cho người ta vay để lấy lãi.

Sự nghiệp của người phối ngẫu không kiếm được tiền, không đủ chi dụng trong gia đình.

Quan hệ hôn nhân không hòa điệu, khó trò chuyện trao đổi với nhau.

Cung phúc đức phi Hóa KỊ nhập cung quan lộc:

Trong công việc hay sự nghiệp, mệnh tạo phải nỗ lực vất vả, nhưng vận khí không tốt, khó khởi sắc.

Hôn nhân không được hạnh phúc, ít sum họp, không quan tâm chăm sóc nhau, khó sống với nhau đến đầu bạc, hoặc khó có hôn nhân.

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Bụng dạ hẹp hòi, là người hay so đo tính toán.

Gia vận không thuận lợi, trong nhà khó hòa hợp, dễ xảy ra tình trạng tranh giành gia sản, tiền bạc không thuận lợi, khó kiếm tiền, ít có phước để hưởng.

Cung phúc đức tự Hóa Kị:

Là mẫu người hay lo lắng thái quá, tính tình không cởi mở, hay rầu lo, ưu uất, vất vả, có khuynh hướng trầm cảm, tâm thần không yên ổn.

Bụng dạ hẹp hòi, hay so đo tính toán, không chịu nghi ngơi, sẽ tiêu xài nhiều tiền, không giữ tiền được.

Không có vận kiếm tiền, sức khỏe kém, vận trình nhiều trắc trở; công việc của người phối ngẫu không ổn định, vợ chồng dễ vì chuyện tiền nong mà xảy ra tranh chấp. (Xùi xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Vận trình của cha mẹ không thuận lợi, ít phát triển, sức khỏe

Mệnh tạo không nên làm người bảo lãnh, dê bị hao tài; cũng không nên cho người ta vay tiền để lấy lãi.

Sức khòe của mệnh tạo cũng không tốt, dễ mắc bệnh nặng. Thích nghiên cứu triết học, tôn giáo, tín ngưỡng.

- Advertisement -