32.2 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 24

CÁCH LẬP QUẺ THEO THỜI GIAN

0
CÁCH LẬP QUẺ THEO THỜI GIAN
I QUY ĐỊNH VỀ TƯỢNG QUẺ

1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn.

Số vừa là số thứ tự vừa là độ số của quái.

II CÔNG THỨC CHUNG: Tính ngày tháng năm theo âm lịch Việt1. Tính quái Thượng: (ngày + tháng + năm):8= lấy số dư, chia hết thì lấy 8.

Vd: Hôm nay ngày 3 tháng 11 năm canh dần.

ta có: (3+11+3):8= 2 dư 1, lấy 1 ===> quái CÀN.

2. Tính quái Hạ:

(ngày + tháng + năm + giờ):8= lấy số dư, chia hết thì lấy 8.

Vd: Hôm nay ngày 3 tháng 11 năm canh dần, giờ thìn.

ta có: (3+11+3+5):8= 2 dư 6, lấy 6 ===> quái KHẢM.

3.Tổ hợp quẻ: Trên Càn, dưới Khảm, tổ hợp lại là đọc từ trên xuống là Thiên Thủy Tụng.

4. Tìm Hào Động (ngày + tháng + năm + giờ):6= lấy số dư, chia hết thì lấy 6.

ta có: (3+11+3+5):6= 3 dư 4, lấy 6 ===> động hào 4.

Xem qua quẻ Thiên Thủy Tụng thì thứ 4 tính từ dưới lên là hào Dương động biến ra hào âm. Do vậy quái Càn trên biến thành quái Tốn. Quái Khảm dưới giữ nguyên. Vì vậy ta có quẻ biến là Phong Thủy Hoán.
III LỜI KẾT Quẻ Dịch theo thời gian là hình thức toán quẻ cơ bản nhất trong bốc dịch. Ngoài ra còn các hình thức bốc quẻ khác như tượng quẻ, nghe âm thanh, nhìn hình sắc…cần có độ cảm ứng nhạy và cao.

———————-

Quẻ dịch bao gồm có quẻ đơn và quẻ kép (trùng quái), quẻ đơn gồ có 3 hào, và không nằm ngoài 8 quẻ: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.Trùng quái bao gồm 2 quẻ đơn đặt trên dưới liền nhau tạo thành 1 quẻ kép có 6 hào. Quẻ tren gọi là thượng quái, quẻ dưới gọi là hạ quái. Vì là có 8 quẻ đơn chồng lên nhau theo quy luật thứ tự biến các hào, nên sẽ có 8 * 8 = 64 quẻ.Lập quẻ dịch theo thời gian: Năm, tháng, ngày, giờ:

Các bước lập trùng quái:

1. Xác định số cho thời gian:a/ Giờ:- Giờ tí là số 1- Giờ sửu là số 2- Giờ dần là số 3- Giờ mão là số 4- Giờ thìn là số 5……- Giờ hợi là số 12

b/ Ngày (âm lịch)- Ngày mồng 1 là số 1- Ngày mồng 2 là số 2- Ngày mồng 3 là số 3……..- Ngày 30 là số 30

c/ Tháng (âm lịch)- Tháng giêng là số 1- Tháng 2 là số 2……- Tháng 12 là số 12

d/ Năm- Năm tí là số 1- Năm sửu là số 2- Năm dần là số 3……- Năm hợi là số 12

Chú Thích:- Khi dự đoán vận mệnh cuộc đời thì lấy giờ, ngày, tháng, năm sinh. Trong đó năm sinh lấy theo hàng can với các số tương ứng như sau:Giáp=1, ất =2, bính =3, đinh =4, mậu = 5, kỷ = 6, canh = 7, tân =8,nhâm = 9, quý =10.- Lấy thời điểm trước lập xuân và sau lập xuân để tính năm tháng lập quẻ. lập xuân thường là ngày 4 hoặc ngày 5 tháng 2 dương lịch. nếu sinh sau ngày đó thì tính là năm mới, nếu sinh trước ngày đó thì tính là năm cũ.

2. Mã hóa 8 quẻ đơn theo số dư tính toánCụ thể như sau:

Quẻ Càn: 1Quẻ Đoài: 2Quẻ Ly: 3Quẻ Chấn: 4Quẻ Tốn: 5Quẻ Khảm: 6Quẻ Cấn: 7Quẻ Khôn: 8

3. Tính toán lập quẻ- Quẻ chủ:+ Quẻ thượng:Lấy tổng gồm các số của ngày + tháng + năm rồi chia cho 8, được số dư tra theo số của quẻ đơn bên trên.+ Quẻ hạ:Lấy Tổng gồm các số: Giờ + ngày + tháng+ năm rồi chia cho 8 lấy số dư, tra số quẻ bên trên.Nếu mà chia hết thì lấy số 8 để tra quẻ.

– Quẻ biến:Xác định hào động biến: lấy tổng số của : Giờ + ngày + tháng + năm rồi chia cho 6 lấy số dưnếu không có số dư thì hào 6 là hào động biến

Tử Vi Việt Nam Sưu Tầm

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Các sao phụ tinh ở cung Nô Bộc

0

Các sao phụ tinh ở cung Nô Bộc

Văn Xương, Văn Khúc
Nhập miếu hay đồng cung, bạn bè cấp dưới nhiều mà đắc lực, quan hệ giao tế tốt đẹp, nhiều người có văn hóa. Xương Khúc độc thủ miếu vượng thì tốt, hãm địa hội Tứ sát Không Kiếp thì trở mặt oán trách.

Tả Phụ, Hữu Bật
Độc thủ, bạn bè cấp dưới nhiều mà đắc lực, hội nhiều cát tinh củng chiếu thì tốt, quan hệ giao tế tốt đẹp, nhiều người trung thành. Hội Tứ sát Không Kiếp đa phần chủ phản bội, có cũng như không.
Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa
Đều chủ bạn bè cấp dưới đắc lực, quan hệ giao tế tốt đẹp, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì càng tốt hơn, hội Tứ sát Không Kiếp tình nghĩa bạc bẽo, bị bạn bè cấp dưới trở mặt hay âm mưu toan tính.

Lộc Tồn
Chủ bản thân vất vả, nhưng quan hệ giao tế tốt đẹp, có thể có bạn bè giàu có, cấp dưới giúp đỡ nhiều, có thể có tiền nhờ bạn, hoặc được giúp đỡ về kinh tế.

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Kiếp, Địa Không
Không phải điềm tốt, nhập miếu độc thủ mà được cát tinh củng chiếu thì họa nhẹ, nhưng đều chủ không tốt, lắm tiểu nhân, phá hao, tranh chấp, thị phi, hay bị phản bội hay tổn hại. Mệnh có cát tinh củng chiếu thì không sợ.

ST

Một số thuật ngữ thường dùng trong Tử Vi

0

Một số thuật ngữ thường dùng trong Tử Vi

Bản cung (cung gốc): tức cung chủ về việc đang xem. Như xem tiền tài là cung Tài Bạch, cung Tài Bạch tức là bản cung.

– Đối cung (cung đối diện): là cung đối nhau vơi bản cung, có quan hệ “lục xung”. Như Tí Ngọ xung nhau, cung Tí và cung Ngọ là đối cung của nhau.

– Giáp cung: hai sao ở lân cung của bản cung, gọi là giáp cung. Như cung Dần có Vũ Khúc Hóa Kị, Kình Dương ở cung Mão, Đà La ở cung Sửu, tức là Kình Dương và Đà La giáp Hóa Kị.

– Hợp cung (cung hội hợp): là cung có quan hệ thành tam hợp với bản cung. Như bản cung là Tí, vì Thân Tí Thìn là tam hợp, nên hai cung Thân, Thìn là hợp cung của cung Tí.

– Lân cung (cung kế cận): hai cung giáp bản cung. Như bản cung ở cung Tí, thì hai cung Hợi và Sửu là lân cung.

– Tam phương (ba phương): bản cung và hợp cung (hai cung hội hợp), gọi chung là “tam phương”.

– Đồng độ (cùng đến một cung): các sao cùng bay vào một cung. Như ngoài Thất Sát tọa thủ, trong cung còn gặp Lộc Tồn, gọi là “Thất Sát có Lộc Tồn đồng độ” hay gọi là “Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn”.

Củng chiếu (vây chiếu): sao gặp ở đối cung. Như Thất Sát tọa thủ, đối cung là “Tử Vi, Thiên Phủ; gọi là “Tử Vi, Thiên Phủ củng chiếu Thất Sát. Còn gọi là triều củng (chần về).

– Hội chiếu (hội hợp): các sao gặp ở cung tam hợp, như Thất Sát tọa thủ cung Thân, Tham Lang tọa cung Thìn, Phá Quân tọa cung Tí vì vậy gọi là “có Tham Lang và Phá Quân hội chiếu”.

– Kiến (gặp): các sao hội hợp ở tam phương tứ chính, gọi chung là “kiến”

– Tọa thủ (ngồi giữ): chính diệu nhập bản cung, gọi là tọa thủ. Như cung mệnh có chính diệu Thất Sát, gọi là Thất Sát tọa thủ cung mệnh, hoặc gọi tắt là Thất Sát thủ mệnh.

– Tọa vượng (thừa vượng): lúc sao ở vào trạng thái tốt, tuy không bằng nhập miếu, nhưng tọa cung vượng, sao vẫn hữu lực.

– Tứ chính (bốn mối quan hệ chính): tam phương cộng thêm đối cung, gọi là “tứ chính”

– Xung: có lúc cũng gọi là xung phá. Các sao sát kị gặp ở tam phương tứ chính, gọi là xung, xung trong Đẩu Số khác với lục xung của “Tử Bình”.

– Nhập miếu: là sao ở vào cung có trạng thái tốt nhất, giống như được cung phụng, vì vậy gọi là “nhập miếu”.

– Lạc hãm: sao ở vào hoàn cảnh rất xấu, dẫn đến sao cát thì vô lực, sao hung thì tăng hung.

– Chính diệu: là chỉ 14 sao Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

– Đào hoa chư tinh (các sao đào hoa): là chỉ 6 sao Hổng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì (còn gọi là Đào Hoa Sát), Đại Hao, Thiên Diêu, Mộc Dục. Liêm Trinh và Tham Lang cũng có tính chất đào hoa, nhưng đã xếp vào chính diệu.

– Hao diệu (sao hao): là chỉ Đại Hao, Tiểu Hao.

– Hình diệu (sao hình): là chỉ Kình Dương, Thiên Hình, Quan Phù, Bạch Hổ, là các sao mang lại điều không may từ chính diện, công khai.

Hóa diệu (sao hóa): là chỉ bốn sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị.

Kị diệu (sao kị): là chỉ Hóa Kị, Đà La, là hai sao mang lại điều không may một cách âm thầm, không rõ nguyên nhân.

– Khoa danh chư diệu (các sao khoa danh): ngoại trừ các văn diệu đã kể ở trên, thêm, tám sao Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc.
– Không diệu (sao không): là chỉ Địa Không và Thiên Không. Triệt Không và Tuần Không cũng có thể tính là “sao không”, nhưng có tác động yếu hơn.

– Không Kiếp: là chỉ 2 sao Địa Không, Địa Kiếp.

– Lộc diệu (sao lộc): là chỉ Lộc Tổn, Hóa Lộc.

– Nhật Nguyệt: là chỉ 2 chính diệu Thái Dương, Thái Âm.

– Phụ diệu: là chỉ 4 sao Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt.  •

– Sát diệu (sát tinh): là chỉ 4 sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La; còn gọi là “tứ sát”. Có lúc cũng bao gồm cả Địa Không, Địa Kiếp, gọi là “lục sát”.

– Sát Phá Lang: là chỉ 3 sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Ba sao này luôn tương hội ở cung tam hợp (tức tam phương), trở thành then chốt của sự chuyển biến mệnh vận, vì vậy lúc chúng tụ hợp gọi chung là “Sát Phá Lang”.

– Tá diệu: là chỉ 4 sao Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã.

– Tá tinh (mượn sao): bản cung vô chính diệu, mượn sao ở đối cung cho vào bản cung để luận đoán, gọi là tá tính. Bất kể luận đoán 12 cung mệnh bàn, hay 12 cung đại hạn, cho đến lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời đều dùng phép tá tinh.

– Văn diệu (sao văn): là chỉ 6 sao Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài Long Trì, Phượng Các.

(Theo Tử Vi Đẩu Số Tam Hợp Phái)

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Tam đại tinh hệ trong Tử Vi Đẩu Số

0

Tam đại tinh hệ trong Tử Vi Đẩu Số

Tử Vi Đẩu Số có ba tinh hệ lớn, gồm tinh hệ Bắc Đẩu, tinh hệ Nam Đẩu và tinh hệ Trung Thiên.

Chủ tinh của tinh hệ Bắc Đẩu là Tử Vi; các chính diệu là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá quân; các trợ diệu là Tả Phụ, Hữu Bật, Kình Dương, Đà La.

Chủ tinh của tinh hệ Nam Đẩu là Thiên Phủ; các chính diệu là Thiên Cơ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thất Sát, Văn Xương; các trợ diệu là Thiên Khôi, Thiên Việt, Hỏa Tinh, Linh Tinh.

Chủ tinh của tinh hệ Trung Thiên là Thái Âm, Thái Dương; các chính diệu là tứ hóa diệu: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, kiêm quản các tá diệu và tạp diệu khác.
Trong phái Trung Châu, ba tinh hệ sao này tổng cộng là 145 sao, thường dùng là 115 sao, và 30 sao thuộc các sao quan trọng trong “Tùng Thần gia”, nhưng lúc luận đoán Đẩu Số, chỉ khi nào cần thiết mới tìm vị trí của nó. Như khi gặp nguy cơ mất tiền, mới tìm vị trí của sao Phi Tài, để xem có xảy ra tình hình bị cướp của hay không; hoặc khi gặp nguy cơ bị tai nạn chảy máu, mới tìm sao Huyết Nhận và Sát Nhận để xác định tính chất của sự kiện, v.v…

(Theo Tử Vi Đẩu Số Tam Hợp Phái)

Thiên bàn, Địa bàn và Nhân bàn trong Tử Vi

0

Về vấn đề “Tam bàn” Lục Bân Triệu phát biểu như sau:

Tử Vi Đẩu Số căn cứ Tử Vi viên, Bắc Đẩu, Nam Đẩu và các nhóm sao khác bay vào các cung độ để luận đoán cát hung họa phúc, đương nhiên chúng ta cần phải có một “bàn đổ” (tinh bàn) để ghi chép động thái của các sao, “bàn đổ” này gọi là “mệnh bàn”.

Mệnh bàn này chia làm 12 cung, lấy 12 địa chi để cố định vị trí, sau đó chiếu theo nguyên tắc để điền các sao vào từng cung trong mệnh bàn. Một mệnh bàn lại chia thành ba “bàn đồ”: Một là “thiên bàn”, hai là “địa bàn”, ba là “nhân bàn”. Ba bàn đổ này có công dụng khác nhau, như sau:

Thiên bàn

Trong Tử Vi Đẩu Số, thiên bàn là bàn đồ chính, dùng để định ra cách cục cao thấp về tính cách, ý chí, danh lợi và sự nghiệp của mệnh tạo. Còn có thể luận đoán về sự hình khắc và thành bại của cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái; là khái quát về các trạng thái biểu hiện của đời ngươi. Giống như kiến trúc của một toà nhà, thiên bàn chính là phác thảo về ngôi nhà này, qua đó chúng ta có thể biết được toà nhà này to lớn hay nhỏ bé, theo kiểu cổ điển hay là hiện đại,…

Địa bàn

Địa bàn dùng để luận đoán về căn nguyên tiên thiên. Giống như kiến trúc của một toà nhà, địa bàn chuyên nghiên cứu nền móng của toà nhà xem nó sâu hay cạn, chất liệu kiến trúc là xi măng cốt thép, hay là cát đất gỗ ván. Nhưng từ thời cận đại trở lại đây, nhiều nhà Đẩu số không còn chú trọng “địa bàn”. Theo Lục Bân Triệu, vào đời Minh, khi luận đoán Đẩu Số ngươi ta đều phải tra xét “địa bàn” để tìm ra căn cơ tiên thiên của mệnh tạo, xem nó có vững vàng hay không.

Nhân bàn

Các sao ở các cung lúc người ta sinh ra được ghi hết vào ”thiên bàn”, nhưng một người sau khi sinh ra nhất định không thề dừng lại lúc đó, thời gian sẽ không dừng trôi qua, hoàn cảnh và nhân sự cũng không ngừng biến động trong từng giây, cho nên nếu chỉ căn cứ vào “thiên bàn” thì không đủ để luận đoán sự thiên biến vạn hóa của đời người. Vì vậy cần phải có một “bàn đồ” biến động giống như thời gian, nhằm biểu hiện sự biến thiên của nhân sự theo thời gian, “bàn đồ” này gọi là “nhân bàn”.
Liên quan đến “địa bàn” và “nhân bàn”, thảy đều biến hóa từ “thiên bàn” mà ra. Do đó, bưóc đầu tiên là cần phải có tư liệu về giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, và năm sinh của mệnh tạo để trình bày “thiên bàn” cho thật chíiìh xác,

Trên là thuyết minh của Lục Bân Triệu về “tam bàn” của Đẩu Sô: trong sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú, Vương Đình Chi chú giải như sau:

Liên quan đến “thiên bàn”, “địa bàn”, và “nhân bàn” có nhiều ý kiến khác nhau. Hiện nay các phái Đẩu số thông thường chỉ luận “Thiên bàn”, không có “địa bàn”, còn “nhân bàn” thì gọi là “lưu bàn”. Riêng phái Trung Châu là có “tam bàn”.

Lục Bân Triệu tiên sinh, luận về “địa bàn” ví như nền móng của một ngôi nhà, dùng để luận đoán về “căn nguyên tiên thiên”; còn “nhân bàn” là “một bản đồ biến động giống như thời gian, nhằm biểu hiện sự biến thiên của nhân sự theo thời gian đây cũng là “lưu bàn” như tục vẫn thường gọi. Đây là một thuyết.

Có thuyết khác cho rằng, dùng “địa bàn” và “nhân bàn” là để luận đoán các trường hợp “giao thế thời” (giờ giao thoa, giờ chuyển tiếp). Tức 15 phút đầu của một giờ thời xưa dùng để tính “địa bàn”, 15 phút cuối của một giờ thời xưa dùng để tính “nhân bàn”.

Ví dụ như, 5 giờ đến 7 giờ sáng là giờ Mão, nên người sinh vào khoảng từ 5 giờ đến 5 giờ 15 phút (hoặc 5 giờ 30 phút) thì dùng “địa bàn”; sau 5 giờ 15 phút (hoặc 5 giờ 30 phút) đến 6 giờ 30 phút (hoặc 6 giờ 45 phút) thì dùng “‘thiên bàn”; từ sau 6 giờ 30 phút (hoặc 6 giờ 45 phút) đến 7 giờ thì dùng “nhân bàn”.

(Theo Tử Vi Đẩu Số Tam Hợp Phái)

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Chức năng của các nhóm sao trong Tử Vi Đẩu Số

0

Chức năng của các nhóm sao trong Tử Vi Đẩu Số

Theo lưu truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, các sao của Tử Vi Đẩu Số được phân loại như sau:

– Chính diệu: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

– Phụ diệu: Tả Phụ, Hữu Bật; Thiên Khôi, Thiên Việt,

– Tá diệu: Văn Xương, Văn Khúc; Lộc Tồn, Thiên Mã.
– Sát tinh: Kình Dương, Đà La; Hỏa Tinh, Linh Tinh.

– Hóa diệu: Hóa khí dựa theo thập can, hóa thành 4 loại: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị; mỗi can có 4 sao, tổng cộng 40 sao.

– Tạp diệu: Tức các sao Địa Không, Địa Kiếp, Tam Thai, Bát Tọa, Thiên Hình, Thiên Diêu, Cô Thần, Quả Tú, Hổng Loan, Thiên Hi,…

– Lưu diệu: Lưu Lộc, Lưu Mã; Lưu Dương (Lưu Kình Dương), Lưu Đà La; Lưu Văn Xương, Lưu Văn Khúc; Lưu Khôi, Lưu Việt; Lưu tứ hóa; và 36 sao trong ba nhóm “Tướng tiền chư tinh”, “Tuế tiền chư tinh”, “Bác Sĩ tiền chư tinh”.

(Theo Tử Vi Đẩu Số Tam Hợp Phái)

CÁC SAO MIẾU HÃM TRONG TỬ VI

0

Đối với 12 cung độ, các sao của Đẩu Số có sự ưa ghét khác nhau, vì mỗi cung đều có hoàn cảnh khác nhau. Khi các sao bay đến, hoàn cảnh của cung độ có thích hợp hay không, sẽ ảnh hưởng đến sự phát huy sức mạnh của nó.

Về hoàn cảnh của các cung, phái Trung Châu Vương Đình Chi thường dùng “miếu”, “vượng”, “bình”, “nhàn”, “hãm” để đại biểu.

Nói “nhập miếu”, tức các sao ở vào cung độ thích hợp nhất đối với nó. Nhờ đó cát tình có thể phát huy sức mạnh một cách lớn nhất, còn hung sát tinh cũng sẽ giảm bớt tính hung bạo. Điều này cũng giống như quân tử ở miếu điện thì có thể thi thố tài năng ở đời; còn tiểu nhân thì được rượu thịt, cũng không rảnh rỗi để gây chuyện thị phi.
Nói “lạc hãm”, tức các sao ở vào cung độ cực kì không thích hợp. Vì vậy cát tinh không thể phát huy sức mạnh của nó, còn sao hung thì lại phát huy tính hung bạo của nó. Điều này cũng giông như quân tử ở chốn hoang dã, bị tiểu nhân ức hiếp, làm nhục, không thể phát huy thông minh tài trí của mình; còn tiểu nhân thì khốn cùng, đương nhiên sẽ xông vào chốn hung hiểm, gây ra chuyện thị phi.

“Thừa vượng” chỉ kém hơn “nhập miếu” một bậc “Bình cung” và “nhàn địa” có ảnh hưởng không lớn đối với các sao, nhưng “bình” tốt hơn “nhàn”.

ST

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

ĐỊNH NGHĨA VỀ 12 CUNG TRONG TỬ VI

0

ĐỊNH NGHĨA VỀ 12 CUNG TRONG TỬ VI

Tinh bàn của Đẩu Số tổng cộng có 12 cung, đối với tính chất của 12 cung, định nghĩa của phái Trung Châu hơi khác với các phái, như sau:

Cung mệnh: Luận đoán về tính cách chủ yếu của mệnh tạo, có khuynh hướng thích hợp với nghề nghiệp, duyên phận với người thân thế nào, định cách cục của người này cao hay thấp, và xu hướng chung của mệnh, vận.

Cung huynh đệ: Luận đoán tình cảm giữa anh em, có được trợ lực hay không, đồng thời cũng có thể luận đoán mối quan hệ vơi đồng sự trong nghề nghiệp.

Cung phu thê: Luận đoán nên kết hôn sớm hay muộn, khái quát về tướng mạo và tính cách đặc trưng của người phối ngẫu, tình cảm và quan hệ hôn nhân.

Cung từ nữ: Luận đoán con cái nhiều hay ít, tình cảm giữa mệnh tạo với con cái, sinh con cái có thuận lợi hay không, tương lai của con cái đại khái như thế nào, trong quá trình trưởng thành có hiện tượng hung hiểm gì hay không.

Cung tài bạch: Luận đoán khuynh hướng chủ yếu của hình thức có tiền bạc, như thu nhập cố định (chính tài), thu nhập bất ngờ (thiên tài), tiền của do kinh doanh làm ăn mà có, đồng thời có thể luận đoán vận thế tài lộc của đời người, xem có dồi dào hay không.

Cung tật ách: Luận đoán về sức khỏe, như dễ mắc bệnh gì, cơ quan nào trong người yếu nhất, và có bị tai nạn bất ngờ hay không, có gặp chuyện gì nguy hiểm hay không.

Cung thiên di: Luận đoán về năng lực thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, bao gồm thay đổi hoàn cảnh sống và hoàn cảnh công tác, xem có tốt hay không; thậm chí có thể luận đoán về những tao ngộ trong lúc đi xa.

Cung giao hữu: Xưa gọi là “cung nô bộc”, luận đoán về mối quan hệ giữa mệnh tạo vơi đổng sự ngang vai và người dưới quyền, xem có đắc lực hay không, có bị đồng sự hay ngươi dưới quyền bán đứng không.

Cung sự nghiệp: Xưa gọi là “cung quan lộc”, luận đoán khuynh hướng phát triển của sự nghiệp, nên phát triển theo hướng nào. Ví dụ như mệnh tạo nên sáng lập sự nghiệp hay là đi làm công ăn lương, thích hợp lao tâm hay thích hợp lao lực.

Cung điền trạch: Luận đoán vận thế mua nhà cửa đất đai, có thừa kế di sản hay không, hoàn cảnh cư trú tốt hay xấu.

Cung phúc đức: Luận đoán tình hình hưởng thụ tính thần và hoạt động tư tưởng của mệnh tạo, do đó có thể biết được sở thích, nhân phẩm cao hay thấp, cũng có thể luận đoán mệnh tạo thuộc mẫu người hiếu động hay hiếu tĩnh, hay thuộc mẫu người bề ngoài thì ưa náo nhiệt nhưng nội tâm lại ưa yên tĩnh, v.v…

Cung phụ mẫu: Xưa gọi là “cung tướng mạo” luận đoán về tương mạo của mệnh tạo; vì cơ địa tiên thiên của một người là thụ hưởng từ cha mẹ (trong đó có cả tương mạo), nên về sau cổ nhân đổi thành “cung phụ mẫu”, dùng để luận đoán tình cảm giữa mệnh tạo với cha mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, hoàn cảnh của cha mẹ lúc mệnh tạo còn bé; có được cha mẹ giáo dục, che chở hay không.

Thời cổ đại, phụ nữ không có “quan lộc”, nên cung quan lộc gọi là “cung y lộc”.Đối với người xuất gia làm tăng nhân hay đạo sĩ, người xưa cũng đặt tên gọi 12 cung khác với người bình thường, như sau: Cung mệnh, cung huynh đệ, cung đạo tình, cung đồ đệ, cung tài bạch, cung tật ách, cung thiên di, cung nô bộc, cung sư hiệu, cung điền trạch, cung phúc đức, cung tương mạo (hay phụ mẫu).
Trên là 12 cung, chưa nói đến cung thân, bởi thân phải ký thác vào một trong sáu cung sau: phúc đức, phu thê, sự nghiệp, tài bạch, thiên di, và cung mệnh. Tính chất của cung thân, thông thường được xem là khuynh hướng nỗ lực hậu thiên, tức mệnh tạo có thể làm được gì, có xoay chuyển xu thế của mệnh vận được không. Đồng thời cũng có thể xem mệnh tạo đôi với dục vọng và sự hưởng thụ vật chất như thế nào, khác với cung phúc đức chủ yếu chỉ hiển thị về phương hướng xu thế tinh thần của mệnh tạo, tương phản với tính vật chất của cung thân.

Cung mệnh tốt mà cung thân không tốt mệnh tạo hưởng thụ vật chất chưa chắc được dồi dào; cung thân tốt mà cung mệnh không tốt mệnh tạo khó phát triển được toàn lực.

Cách bày bố 12 cung của Tử Vi Đẩu Số, mỗi cung đều có “tam phương tứ chính” của nó, do đó 12 cung là có 12 tổ hợp quan hệ như sau:

– Cung mệnh: thiên di, tài bạch, quan lộc.

– Cung huynh đệ: nô bộc, điền trạch, tật ách.

– Cung phu thê: quan lộc, thiên di, phúc đức.

– Cung tử nữ: điền trạch, nô bộc, phụ mẫu.

– Cung tài bạch: phúc đức, quan lộc, cung mệnh.

– Cung tật ách: phụ mẫu, điền trạch, huynh đệ.

– Cung thiên di: cung mệnh, phúc đức, phu thê.

– Cung giao hữu (nô bộc): huynh đệ, tử nữ, phụ mẫu.

– Cung sự nghiệp (quan lộc): phu thê, mệnh, tài bạch.

– Cung điền trạch : tử nữ, huynh đệ, tật ách.

– Cung phúc đức: tài bạch, phu thê, thiên di.

– Cung phụ mẫu: tật ách, tử nữ, nô bộc.

Cung giao hữu còn xem kiêm những người mệnh tạo giao du và những người đồng bối, nó có quan hệ mật thiết với cung huynh đệ.

Bệnh tật có thể di truyền, cho nên cần xem kiêm cung phụ mẫu, cung huynh đệ và cung điền trạch (cung điền trạch cũng được dùng để xem vận gia trạch).

Trong xã hội thời cổ đại nô bộc nhiều hay ít, có trung thành hay không, điều này có quan hệ rất lớn với mệnh vận của gia tộc, do đó cùng với ba cung phụ mẫu, huynh đệ, tử nữ thành một tổ hợp.

Đời sống vợ chồng (cung phu thê) có quan hệ rất mật thiết với sự nghiệp (cung quan lộc), hoàn cảnh đi lại, nơi sinh sống (thiên di) và tinh thần của mệnh tạo (cung phúc đức).

Nói chung, đều là những tổ hợp cung có tính lôgic rất mạnh.

Sưu Tầm

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Lập quẻ Lục Hào

0
Lập Quẻ Lục hào
Lập Quẻ Dịch
Bói Lục Hào
1 – Quẻ Lục Hào là gì.

Là cách thức gieo 3 đồng xu 6 lần.

Cần có 3 đồng tiền xu. Người đến xin quẻ phải trực tiếp gieo đồng tiền. Cách gieo như sau:
→Đặt 3 đồng tiền vào lòng bàn tay trái, bàn tay phải úp lên.
→Để yên ,tập trung tư tưởng nghĩ về việc đang muốn cầu.

– Cách ghi các hào như sau: (mặt có 4 chữ nho là mặt ngửa, mặt không có chữ nho là mặt xấp)
→2 đồng ngửa 1 đồng sấp ghi là hào dương (+)
→1 đồng ngửa 2 đồng sấp ghi là hào âm (-)
→3 đồng ngửa ghi là hào âm (-) (động)
→3 đồng xấp ghi là hào dương (+) (động)

2 – Cách lập quẻ Lục Hào
3- Xem quẻ dịch miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/phongthuythanglong/. Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

 
Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

 

Lập quẻ Mai Hoa

0
Lập Quẻ Mai Hoa
Lập Quẻ Dịch
Bói Lục Hào
1 – Quẻ Mai Hoa là gì.

Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biền; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch).

2 – Cách lập quẻ Mai Hoa
  • Vào một trong các đường dẫn sau:
    • https://tuvivietnam.vn/boi-luc-hao/
    • https://tuvivietnam.vn/boi-dich-phong-thuy-thang-long/
    • https://phongthuythanglong.vn/boi-luc-hao
    • https://phongthuythanglong.vn/boi-dich-phong-thuy-thang-long
  • Chọn giờ động tâm, nếu giờ động tâm là giờ an quẻ thì không phải chỉnh sửa
  • Click vào an quẻ và tải ảnh về máy
3- Xem quẻ dịch miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/phongthuythanglong/. Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

 

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

- Advertisement -