29.6 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 25

Manh phái mệnh lý cơ bản

0

Manh phái mệnh lý cơ bản

Bài dịch của tác giả ThienKhanh trên diễn đàn tuvilyso.org

PHẦN 1: ĐẶC ĐIỂM MANH PHÁI

1. Bỏ qua nhật chủ vượng suy, lấy nghiên cứu tượng của mệnh cục làm nguyên tắc luận mệnh.

2. Tượng (khách chủ, thể dụng): đem niên, nguyệt, nhật, thời trụ phân làm khách chủ, đem thập thần phân làm thể dụng. Thông qua hình xung hoá hợp để định tượng. Như đem Giáp, Ất mộc tương ứng là đối tượng nào trong sinh hoạt của nhật chủ, thì gọi là tượng. Đây là một hệ thống mệnh lý mới, nên buộc phải bỏ đi những tư tưởng lí luận cũ.

PHẦN 2: LÍ LUẬN THIÊN CAN

Mỗi thiên can đều có cá tính riêng, giống như mỗi người đều có tính cách của mình, không ai giống ai.

1. Giáp: mộc của cây thân gỗ (thụ mộc), mẫn cảm đối với mùa màng, nhưng quan trọng là phải xem có căn hay không có căn. Giáp mộc nếu có căn thì không nên bị phá hoại, như bị Dậu kim hợp hoại, xung khắc chẳng hạn, liền phát sinh vấn đề. Nếu như không có căn thì lại không sao, nhưng lại sợ gặp căn ở tuế vận. Giáp Tí thì xem như Giáp không có căn.

Càn: Ất Mùi – Bính Tuất – Giáp Tí – Giáp Tuất.

Căn trong Mùi bị Tuất khử, tòng cách, cần khử Ấn tinh Tí thuỷ. Người này mệnh làm quan. Đến vận Ngọ đặc biệt tốt.

Càn: Quý Mùi – Giáp Tí – Giáp Tí – Kỷ Tỵ

Trường hợp này có căn, căn đến liền thân, không thể tòng.

Mùa xuân là thời điểm mộc phát triển, sợ kim thích hoả. Mùa hạ mộc có căn thì thích thuỷ, không căn thì không sao. Mùa thu mộc có căn không tốt, không căn thì cát. Mùa đông mộc cần có căn, cần phải điều hậu; mùa đông mộc không căn thì hung.

2. Ất: mộc cây cỏ, mầm cây. Xuân hạ đều thích thuỷ.

Mùa xuân, Ất mộc giống Giáp mộc, nhưng Ất mộc mùa xuân cũng thích thuỷ, nếu gặp thuỷ thì không nên gặp thêm hoả. Mùa hạ nếu Ất có căn cần gặp thuỷ, nếu không có căn thì thích hợp khử thuỷ. Mùa hạ kim vượng, Ất mộc như vụ mùa đã thu hoạch; thu hoạch xong cần đem phơi nắng, vì vậy mùa thu Ất mộc gặp hoả thì quý. Thu mộc có căn như Ất Hợi thì chỉ có thể dùng thuỷ, khôngcăn thấy hoả thì quý; có căn là mệnh bình thường, như bát tự ngày Ất Hợi. Mùa đông cần điều hậu, thông thường cần có căn.

Càn: Mậu Tuất – Kỷ Mùi – Ất Tỵ – Đinh Hợi

Vận: Nhâm Tuất – Quý Hợi – Giáp Tí – Ất Sửu

Ất mộc có căn, sinh vào mùa hạ nhất định thích thuỷ, Tân ở thời trụ thấy Hợi thuỷ, Đinh hoả hư thấu là kị thần (phép lấy đơn trụ định hư thực) nên cát. Niên, nguyệt, nhật đều là kị, cha mẹ không tốt, vợ lại càng không tốt, do thê cung xung dụng thần. Vận Hợi tốt. Hiện tại hành vận Giáp Tí. Giáp trong vận Giáp Tí là từ Hợi thấu ra. Dụng thần thực thấu khắc thổ nên cát. Tí lại trợ giúp Hợi thuỷ nên cũng luận cát, nhưng Tí thuỷ chỉ có thể ức chế một ít hoả, chỉ giúp Hợi được một ít, nên tác dụng tốt của Tí không lớn. Năm Quý Mùi, Mùi gặp Hợi củng Mão, cũng là cát, vì Mão mộc là lộc của nhật chủ, mà lộc thì có nghĩa là hưởng dụng. Năm này kiếm tiền không ít, nhưng đều tiêu xài hết, do con cái nhập học. Năm Giáp Thân, Tỵ hoả kị thần bị khử, nên đoán là cát.

Càn: Ất Tỵ – Tân Tỵ – Ất Dậu – Mậu Tí

Vận: Canh Thìn – Kỷ Mão – Mậu Dần – Đinh Sửu – Bính Tí

Ất mộc không căn, không dụng thuỷ mà dụng Tỵ hoả chế Sát. Vậy Tí thuỷ là gì? Tí thuỷ và Sát làm thành một khối, nhưng không xem là kị thần. Năm Tân Tỵ thăng quan. Năm Nhâm Ngọ vận hạn bắt đầu đi xuống. Năm Quý Mùi không tốt. Vận Đinh Sửu, Dậu là quyền lực, vậy Tí thuỷ là cơ quan quyền lực. Năm Nhâm Ngọ bắt đầu rời xa cơ quan quyền lực. Năm Giáp Thân quay lại cơ quan quyền lực, nhưng không bổ nhiệm chức vụ. Vận Sửu cát, Dậu là chủ, Tỵ Dậu Sửu hợp, trung thần đến chủ vị, cũng là quyền lực của ta. Can Tân là kị thần, chi Dậu vì bị chế mà hữu dụng, bởi vì thấu xuất nên bị chế. Nếu như bát tự là Ất Tỵ – Tân Dậu – Ất Tỵ – Mậu Tí, Dậu ở tại khách vị, như vậy thì tại vận Sửu là người khác đạt đến quyền lực, hung.

Phương pháp luận đoán của Manh Phái: bỏ qua dụng thần, chỉ tập trung xem xét trạng thái của mỗi chữ trong bát tự, đồng thời xem mỗi chữ trong bát tự ứng với người, sự việc, sự vật nào trong hiện thực cuộc sống của đương số.

3. Bính: ánh sáng mặt trời. Đại biểu tài văn chương, ánh sáng, phương tiện thông tin, ánh sáng mặt trời, ý nghĩa là to lớn; hi vọng soi sáng cho người khác; rất bá đạo, giống như sự tồn tại của bản thân là để chiếu sáng, soi sáng, hấp tấp muốn thuyết phục người khác. Bính hoả sợ quá vượng mà tự thiêu đốt bản thân, cũng sợ quá nhược mà không thể thể hiện bản thân. Nếu cócăn mà nhược thì rất phiền phức. Người mà Bính hoả hữu dụng, khí thế bàng bạc, luôn muốn cán đáng sự nghiệp lớn.

4. Đinh: hoả mà mềm dẻo, là ánh sáng ngôi sao, và ánh đèn. Có hàm nghĩa thần bí, biết dùng lời nói để từ từ làm cho người khác hiểu được hàm ý sâu xa trong lời nói của mình, từ đó mà cảm hoá người. Đinh hoả không sợ vượng, cũng không sợ nhược, nhưng thích vượng. Người mà Đinh hoả hữu dụng, có khả năng cảm hoá người khác.

Trương Nghệ Mưu: Tân Mão – Canh Dần – Bính Tuất – Ất Mùi

Bởi vì nhật can là Bính hoả, chiếu đến người nào sáng người đó.

Càn: Ất Mùi – Bính Tuất – Bính Dần – Quý Tỵ

Vận: Ất Dậu – Giáp Thân – Quý Mùi – Nhâm Ngọ

Quá vượng là bệnh nặng nhất trong bát tự này. Sinh vào giờ Tỵ mà Tỵ lộc bị Dần hại phá, mệnh chết sớm. Nếu nói mệnh có chút quý khí, thì là quý tại Quý thuỷ, là danh tiếng. Vận Nhâm Ngọ, năm Mậu Dần, thuỷ diệt Tỵ hoả lại thêm Dần hạiTỵ, bị hoả thiêu chết.

Càn: Quý Mão – Đinh Tỵ – Đinh Tỵ – Bính Ngọ

Vận: Bính Thìn – Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu

Bát tự này, nếu hiểu hàm nghĩa của Quý Sát và Mão Ấn là hiểu bát tự của người này. Nhật chủ thông qua tiết Mão Ấn sinh thân, mà Mão mộc lại có Quý Sát sinh cho. Quý hư thấu lại đi sinh Ấn nên Quý không phải là quyền lực, chỉ có thể là danh tiếng. Mão Ấn là học vấn, nhật chủ là nghiên cứu sinh, thạc sĩ, tiến sĩ của 3 chuyên ngành khác nhau.

Càn: Tân Mão – Quý Tỵ – Đinh Mão – Bính Ngọ

Mệnh này làm quan, bởi vì Thất Sát có nguồn, lại không đến sinh cho Ấn tinh, nên chủ quyền lực.

Càn: Đinh Mùi – Nhâm Tí – Đinh Tỵ – Tân Hợi

Vận: Tân Hợi – Canh Tuất – Kỷ Dậu – Mậu Thân – Đinh Mùi

Bệnh của bát tự tại Hợi xung Tỵ. Tỵ hoả bị hư hoại một phần. Vì xung nên không có nghề nghiệp cố định, càng không thể làm quan chức. Vận Mậu Thân, năm Quý Mùi, Kiếp Tài hư. Năm Quý Mùi, Mậu Quý hợp lại chẳng có lợi gì. Năm này không có việc nào thành công. Năm Giáp Thân, Thân hợp Tỵ, kiếm được tiền.

5. Mậu: đại địa, vùng hoang dã. Cùng Bính hoả giống nhau ở chỗ sợ vượng, vượng thì không còn gì là quý khí. Mậu thổ mùa xuân, mùa thu khá tốt. Mùa xuân thổ mỏng sinh cơ bồng bột, thích Bính Đinh hoả. Mùa hạ thổ rất vượng rồi, nhưng nếu thổ khử kị thần trong mệnh thì tốt, ví dụ như thuỷ là kị thần bị thổ khử.

Càn: Kỷ Tỵ – Bính Dần – Mậu Ngọ – Đinh Tỵ

Quá vượng thì không nên hại lộc, quá vượng mà lại thấy lộc, lộc bị hại thì đoản thọ. Đứa bé này thông minh, do Thất Sát bị chế hoá tại chủ vị.

Càn: Ất Tỵ – Ất Dậu – Mậu Tí – Giáp Dần

Vận: Giáp Thân – Quý Mùi – Nhâm Ngọ – Tân Tỵ

Dậu là nguyên đầu của Tài bị Tỵ chế. Tài Tí thuỷ bị Dần hoá, nên thành mệnh giàu có ức vạn tệ. Vận Nhâm Ngọ, năm Nhâm Ngọ nắm trong tay ức vạn tệ; do Mậu thổ thông căn Dần mộc, Dần là bản thân, tiết Dần mộc cũng chính là sinh cho bản thân.

Càn: Nhâm Dần – Bính hoả – Mậu Dần – Ất Mão

Vận: Đinh Mùi – Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi

Bính hỏa đến từ Dần mộc, cho nên lực khắc nhật chủ của Dần mộc rất yếu. Mệnh làm quan. Mậu thổ thích thấy Giáp Dần, sợ thấy Ất Mão, bởi vì Ất Mão mộc đặc biệt chuyên, chỉ tàng Ất mộc, không có yếu tố can thiệp nên khắc Mậu thổ. Nhật chủ có bệnh gan nặng. Vận Canh Tuất làm quan. Đến vận Tân Hợi, Dần Hợi hợp bế khí, lại thêm Bính Tân hợp, không thể làm quan nữa. Năm Quý Mùi không tốt.

6. Kỷ: thổ ở ruộng vườn. Không sợ vượng, thích vượng.

7. Canh: kim cứng, thô. Không sợ nhược, dù nhược cũng không tòng. Sợ quá vượng, quá trọng, quá trọc (thổ đa sinh kim); trọc kim không có một tia quý khí nào.

8. Tân: tinh tế. Không sợ nhược, sợ nhiều, thích Quý thuỷ, Tí thuỷ. Mùa hạ thích thuỷ, mùa đông thích hoả.

Càn: Mậu Tí – Quý Hợi – Canh Tuất – Bính Tí

Vận: Giáp Tí – Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn

Toạ có Sát khố không mở. Thấu Bính là có ý khắc Canh kim. Đinh Mão, Mậu Thìn, Thất Sát không có chế nên là kị; Thất Sát cần bị chế phục. Vận Mão hợp khố nhưng không chế được Sát. Vận Mậu Thìn tốt nhất.

Càn: Bính Ngọ – Giáp Ngọ – Canh Thìn – Nhâm Ngọ

Vận: Ất Mùi – Bính Thân – Đinh Dậu – Mậu Tuất

Mệnh làm quan. Vận Mậu Tuất thăng quan. Vận Tuất tốt nhất, chế Nhâm thuỷ, Thìn thổ nên thăng quan. Thìn là thuỷ khố gặp Mùi khai, khai khố là thăng quan. Năm Canh Thìn, Quý Mùi thăng quan?? Xem nguyên cục như thế nào mà lại thăng quan? Hoá dụng? Thìn hoá Quan? Quan khử Thực Thần?

Càn: Đinh Mão – Ất Tỵ – Canh Thìn – Đinh Sửu

Vận: Giáp Thìn – Quý Mão – Nhâm Dần

Canh kim sợ thổ đa, thổ đa thì trọc. Người nuôi mình nhiều, thấp thổ thì dưỡng kim. Tính lười lộ rõ. Tài tinh không có nguyên đầu, vậy nên là mệnh bình thường, có phúc.

Khôn: Tân Hợi – Canh Dần – Canh Dần – Kỷ Mão

Vận: Tân Mão – Nhâm Thìn – Quý Tỵ – Giáp Ngọ

Mệnh này có 2 người. Một người sinh tại phương Bắc sông ngòi nhiều thuỷ vượng. Năm Ất Hợi kết hôn và đã li hôn. Dần Hợi hợp, Thực Thần chế khử Quan, chế Quan đắc quan. Chồng làm viên chức nhà nước, sinh tháng Dần. Người còn lại sinh tại Sơn Tây là nơi mộc vượng, năm Quý Dậu kết hôn, không có công việc, hiện chưa li hôn.

Càn: Nhâm Dần – Quý Mão – Tân Mùi – Kỷ Hợi

Vận: Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ – Đinh Mùi

Hợi Mão Mùi hợp, trung ở tại khách vị. Tài chảy ra phía ngoài, nên là mệnh giúp người ta kiếm tiền. Đây là mệnh người làm công ăn lương. Vận Bính Ngọ, Bính hoả từ Dần thấu ra, Tài từ phía ngoài tiến vào nên bản thân đắc tài, cho nên vận Bính Ngọ làm sếp, nên phát tài. Dần tiết sinh cho Ngọ hoả, Ngọ hoả lại hợp Mùi thổ là bản thân, nên là sinh cho bản thân, thành ra phát tài.

Càn: Nhâm Tí – Kỷ Dậu – Tân Dậu – Kỷ Sửu

Vận: Canh Tuất – Tân Hợi – Nhâm Tí – Quý Sửu

Mệnh cục ba trụ nguyệt, nhật, thời là một nhà. Mệnh cục không có Tài tinh, nên lấy Thương Thực hoặc lộc để xem tiền tài. Mệnh này lấy Thương Thực xem tài vận. Tí Sửu hợp là Tài được hợp mà vô tay mình, có nhiều tiền vô cùng. Vận Tí phát tài mấy ngàn vạn. Vận Tí, năm Tân Tỵ bị bắt giam, bởi vì nguyệt chi là Dậu bị Tỵ chế. Năm Nhâm Ngọ phán tù chung thân, nhưng giống như đang chuẩn bị kháng cáo.

9. Nhâm: vượng thuỷ, nước trong sông lớn, thích Dần mộc, không thích Mão mộc; bởi vì Dần có tàng Tài. Vượng hay suy đều thích Dần mộc, còn Mão mộc phá Tí (chỗ này ý không rõ lắm – TK), cho nên không thích.

10. Quý: thuỷ nhỏ như nước mưa, nước sương. Nhược mà lại tốt, vì bản thân vốn là nhược. Canh Thân kim không trợ giúp được cho Quý thuỷ, không có phù trợ lại tốt.

Càn: Nhâm Dần – Quý Mão – Nhâm Tí – Nhâm Dần

Vận: Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ – Đinh Mùi – Mậu Thân – Kỷ Dậu

Vận Bính Ngọ tốt nhất, bởi vì Tài tinh thấu xuất. Vận Mùi không tốt, Thực Thần nhập mộ. Vận Mậu Thân tương đương tốt, bởi vì Mão mộc là kị thần, Thân hợp Mão, cát. Kỷ Dậu vận, Dậu xung Mão mộc vượng, xung loạn tổ hợp, không tốt. Chú ý Mão rất vượng nên xung không đi, nên xung vượng làm rối việc, chỉ có hợp khử là tốt nhất.

Khôn: Tân Dậu – Canh Dần – Nhâm Thân – Nhâm Dần

Vận: Tân Mão – Nhâm Thìn – Quý Tỵ – Giáp Ngọ

Gặp Dần thì cát, nhưng Thân xung Dần là bệnh. Tốt nghiệp đại học, công việc không ổn định. Người này có sở thích làm những điều mà đơn vị công tác thấy chướng mắt, bởi vì Ấn Thân kị thần. Vận Giáp Ngọ cát. Vận Tỵ bình thường, bởi vì Tỵ hại Dần.

Khôn: Nhâm Tí – Quý Mão – Quý Mão – Giáp Dần

Quý thuỷ có căn nhưng lại bị tử tuyệt. Thương Quan vượng thành thế lại thấu can, như thế thì nhật chủ sẽ bị tiết mà chết. Người này đã chết từ lâu rồi. Hình như chết vào năm Nhâm Ngọ. Bát tự phía trước nhật chủ Nhâm Tí vẫn còn sống, bởi vì mộc không thấu xuất, thuỷ mộc ở thế quân bình, mộc liên kết thành thế.

Khôn: Nhâm Tí – Quý Mão – Quý Mão – Bính Thìn

Thực Thần không thấu, lực tiết nhật chủ lại không lớn, nhật chủ vô sự.

Càn: Ất Mão – Kỷ Mão – Nhâm Tí – Nhâm Dần

Vận: Mậu Dần – Đinh Sửu

Không thể tòng, nhưng Thương Quan cực vượng, nhật chủ nhất định sẽ bị tiết mà chết, Giáp mộc Thực Thần là thọ nguyên của nhật chủ. Năm Giáp Tuất, Giáp mộc thấu, Tài tinh lại nhập mộ, nhật chủ tử vong.

PHẦN 3: LUẬN CAN CHI

1. Thiên can sinh khắc

Thiên can có thể khắc địa chi, địa chi không khắc thiên can. Can là quân, chi là thần, mối quan hệ can chi là mối quan hệ quân thần. Thiên địa hợp, địa chi có thể khắc thiên can, ví dụ như Đinh Hợi chẳng hạn, còn Ất Mão thì không phải. Tổ hợp can chi sinh khắc gồm có: Đinh Hợi, Giáp Ngọ, Mậu Tí, Kỷ Hợi, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Tỵ, Bính Tuất, Nhâm Tuất. Bính Tuất, Nhâm Tuất phải có Sửu Tuất hình khai khố, mới có thể hợp thiên can. Thìn xung, Mùi hình đều không thể.

2. Can chi hư thực

Hư thực không phải vượng suy. Đây là một khái niệm rất quan trọng. Có căn, có lực thì được gọi là thực; không căn, hư phù thì gọi hư.

Thực: Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Tí, Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi, Bính Ngọ, Bính Dần, Bính Tuất, Đinh Tỵ, Đinh Mão, Đinh Mùi, Mậu Ngọ, Mậu Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Kỷ Sửu, Canh Thân, Canh Thìn, Tân Dậu, Tân Sửu, Nhâm Tí, Nhâm Thân, Nhâm Thìn, Quý Hợi, QUý Dậu, Quý Sửu.

Hư: Giáp Thân, Giáp Tuất, Giáp Ngọ, Ất Tỵ, Ất Dậu, Ất Sửu, Bính Tí, Bính Thân, Bính Thìn, Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Sửu, Mậu Tí, Mậu Thân, Mậu Dần, Kỷ Hợi, Kỷ Mão, Kỷ Dậu, Canh Dần, Canh Tuất, Canh Ngọ, Canh Tí, Tân Tỵ, Tân Mão, Tân Mùi, Tân Hợi, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất, Nhâm Dần, Quý Tỵ, Quý Mùi, Quý Mão.

3. Can chi hỗ thông – thể hiện quan hệ và trạng thái bát tự

A. Nguyên thân – Can: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Lộc – Chi: Dần Mão Tỵ Ngọ Tỵ Ngọ Thân Dậu Hợi Tí. Can được phản ánh tại chi thì gọi là lộc, chi được phản ánh tại can thì gọi là nguyên thân. Can được phản ánh tại chi, chi được phản ánh tại can gọi là quan hệ nguyên thân và lộc.

B. Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc về quan hệ bán lộc: Quý – Sửu, Đinh – Mùi, Đinh – Tuất, Ất – Thìn, Tân – Tuất; Bính và Mậu tồn tại quan hệ bán lộc, Đinh và Kỷ cũng tồn tại quan hệ bán lộc.

Tưởng Giới Thạch: Đinh Hợi – Canh Tuất – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ

Vận: Kỷ Dậu – Mậu Thân – Đinh Mùi – Bính Ngọ – Ất Tỵ – Giáp Thìn – Quý Mão – Nhâm Dần

Hạch tâm: Canh kim Thương Quan không có chế là bệnh. Kim chủ võ, Thương Quan chủ quân đội, là kị thần mà không có chế, cho nên biết làm chính trị mà không biết cầm quân đánh trận, thường thua trận. Hoả thổ thành thế chế Hợi thuỷ, Hợi thuỷ là Tài Quan, Tài là nguyên thần của Quan. Quan bị chế, nguyên thần của Quan cũng bị chế, lực chế quá lớn. Chế khử Hợi thuỷ, vậy nên Đinh Hợi không thể hợp, Đinh hoả trở về trạng thái là bán lộc của ta. Vận Giáp Thìn, Thìn xung Tuất, hối hoả bại.

Càn: Nhâm Thìn – Quý Mão – Mậu Thìn – Bính Thìn

Vận: Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ – Đinh Mùi – Mậu Thân – Kỷ Dậu

Thuỷ khố không mở, xung thì mở, phát. Duy nhất có thể dụng được là Quý thuỷ, bởi vì Quý thuỷ hư thấu, cả đời yếu điểm là do Mậu Quý hợp. Nhật chủ hợp Tài thì phải xem thân cường thân nhược, hợp với yếu tố khác thì không cần xem thân cường thân nhược, như tượng là đeo ba lô, bát tự thân nhược, cần Tài khinh mới có khả năng giàu, cho nên gặp Tài hư thì tốt. Vận Thân hợp trói Mão mộc kỷ thần tốt nhất. Vận Mùi xấu nhất. Vận Ngọ bình thường. Vận Thân, Mão mộc bị khử hết, lại hợp trói Quý thuỷ, giàu, làm ông chủ lớn. Năm Mậu Dần chuyển vận, là điểm chuyển tiếp, Mậu đến.

Càn: Mậu Thân – Giáp Tí – Giáp Dần – Bính Dần

Vận: Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ

Tài Sát Ấn đều đến bản thân, là lãnh đạo một cơ quan quyền lực. Năm Quý Mùi, nguyên thân của Ấn thấu xuất, Ấn chủ cơ cấu quyền lực. Mùi hại Tí, Mậu hợp Quý, Mậu Quý một khi hợp sẽ tạo ra tình trạng hại đảo, hợp đi, không còn giữ quyền lực. Công tác biến động. Năm này rời xa cơ quan quyền lực, rất xấu, rất cực khổ. Năm 93 Quý Dậu chuyển công tác về vùng xa; năm này trên danh nghĩa là chuyển về nông thôn, chức quan không mất, nhưng vẫn chưa thật sự chuyển đi. Hiện tại không có quyền lực. Tháng Sửu chính thức điều đến một địa phương rất tệ.

Càn: Kỷ Dậu – Bính Dần- Kỷ Mão – Ất Sửu

Vận: Ất Sửu – Giáp Tí – Quý Hợi

Quan Ấn tương sinh cùng một thể, Ấn là công tác, mà Quan cũng tượng là công tác. Thất Sát hư thấu nên không thể làm quan, cát, chủ về danh khí (tiếng tăm), nhạy bén, có năng lực, thông minh. Muốn biết thiên can có hư thấu hay không thì nhìn địa chi mà nó toạ. Mão mộc là chính mình, Dần mộc lại tranh tài nên không tốt. Người này tại huyện nhà thi đánh cờ, thư pháp đều từng đạt giải nhất, cũng khá nổi tiếng về mặt Chu Dịch, có mở quán xem mệnh. Năm nay sự nghiệp vừa mới bắt đầu, có cùng người khác hợp tác, kiếm tiền đi học.

Hồng Tú Toàn: Quý Dậu – Giáp Tí – Quý Mão – Quý Sửu

Vận: Quý Hợi – Nhâm Tuất – Tân Dậu – Canh Thân – Kỷ Mùi – Mậu Ngọ

Kim thuỷ đều vượng, Giáp mộc không căn nên khó có thể tiết tú, thi năm lần bảy lượt mà không đậu (Tí Mão hình, Mão bị hoại là bệnh của mệnh này). Vận Canh Thân tòng khí thế kim thuỷ, khắc khử mộc nên cát, là năm đầu tiên Kim Điền khởi nghĩa. Vận Kỷ Mùi, năm đầu tiên nội bộ lục đục, khoảng 3 năm sau thì bị đánh bại. Vận Kỷ binh bại như sơn đổ, bởi vì kim thuỷ vốn thành thế, lại nghịch thuỷ thế. Quý tại Sửu là bán quy lộc, lộc đại biểu quyền lực.

Khôn: Ất Tỵ – Mậu Tí – Đinh Tỵ – Canh Tuất

Vận: Kỷ Sửu – Canh Dần – Tân Mão – Nhâm Thìn

Toạ chi Tỵ hoả là yếu tố cốt lõi của mệnh này. Phu thê cung thấu xuất dụng thần Thương Quan Mậu Thổ, chế khử kị thần Phu tinh Thất Sát, nên hôn nhân tốt, chồng có đạo đức tốt. Chồng người này giàu có ức vạn tệ. Năm Nhâm Thìn phát tài, vì đắc chế, tuế vận là ứng kì, đồng thời Thìn xung khai Tuất khố, cũng là Tài khố của chồng.

Khôn: Kỷ Dậu – Bính Dần – Đinh Mão – Quý Mão

Vận: Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ – Tân Mùi

Mão có tác dụng khử Tài, khử được thì tốt. Tài tại khách vị, nhật chủ là người làm công ăn lương. Đồng thời Kỷ là bán lộc của nhật chủ, nên bản thân là quản lí một khách sạn, có 40% cổ phần.

4. Đặc tính của can chi

A. Thìn Tuất Sửu Mùi

Tuất Mùi là táo thổ nên không sinh kim, mà còn làm giòn kim, khắc thuỷ. Sửu Thìn thấp thổ sinh kim, hối hoả, không khắc thuỷ. Thìn: Không khắc thuỷ, lực hối hoả lớn. Tuất: khắc thuỷ, làm táo kim, hối hoả. Sửu: không khắc thuỷ, ẩm hơn Thìn, lực hối hoả lớn. Mùi: khắc thuỷ, làm táo kim, hối hoả.

(1) Nhập mộ khố: Dần Thân Tỵ Hợi đều có thể nhập khố. Dần nhập Mùi khố, Thân nhập Sửu khố, Tỵ nhập Tuất khố, Hợi nhập Thìn khố.

(2) Nhiều mà gặp mộ thì nhập mộ

Càn: Mậu Tuất – Mậu Ngọ – Mậu Ngọ – Giáp Dần

Trung thần hiện nhiều lần nên nhập mộ mà không thể hợp thành cục. Thiên can cũng như vậy, chỉ cần nhiều mà thấy mộ thì nhập mộ.

(3) Sửu nhập Thìn mộ, nhưng Mùi không nhập Tuất mộ bởi vì tương hình. Mậu, Kỷ thổ đa thì nhập mộ Tuất. Đây là cách sử dụng đặc thù của Thìn mộ và Tuất mộ. Thìn Tí gọi là bán củng cục, không gọi là nhập mộ.

B. Mộc chia làm tử mộc, hoạt mộc

Tử mộc: không căn, không có thuỷ thì gọi là tử mộc. Tử mộc như bàn, ghế, tủ gỗ. Tử mộc không sợ kim, sợ thuỷ ngâm, sợ hoả đốt.

Hoạt mộc: có căn, có khí, hoạt mộc sợ kim, đặc biệt sợ địa chi có kim đến khắc làm đứt căn. Hoạt mộc vượng thì thích hoả tiết, được tiết tú như cây được đơm hoa kết quả; cho nên hoạt mộc vượng mà gặp hoả thì chủ về đẹp đẽ, có tài hoa, có thành tựu.

C. Thuỷ thì cần phân thành nước sông ngòi (Tí thuỷ) và nước ao hồ (Hợi thuỷ). Tí thuỷ khó sinh mộc, bởi vì là loại thuỷ trong sông ngòi lưu động, cũng không thể sinh Mão mộc. Hợi thuỷ sinh mộc, bởi vì là thuỷ ở trạng thái tĩnh.

D. Tỵ: là loại hoả có khả năng biết hoá. Gặp kim vượng thì biến kim, gặp hoả cường thì biến hoả.

Viên Thế Khải: Kỷ Mùi – Quý Dậu – Đinh Tỵ – Đinh Mùi

Vận: Nhâm Thân – Tân Mùi – Canh Ngọ – Kỷ Tỵ – Mậu Thìn – Đinh Mão

Thời thượng quy lộc, niên lại thượng lộc. Dậu kim với Quý thuỷ đều bị chế, nguyệt lệnh bản thần và nguyên thần bị chế, trợ Thất Sát, cho nên là mệnh làm hoàng đế. Dụng Tỵ hoả chế Dậu kim, vì vậy phản biến tính mà cường. Vận Đinh Mão, năm Nhâm Tí làm tổng thống. Năm Bính Thìn qua đời; Bính sợ nhất hư thấu, Thìn Dậu hợp, bị mọi người quay lưng phản bội, xa lánh. Vận Mậu thì cát, vận Thìn thì hung.

Càn: Ất Tỵ – Kỷ Sửu – Nhâm Thìn – Tân Sửu

Vận: Mậu Tí – Đinh Hợi – Bính Tuất – Ất Dậu – Giáp Thân

Sửu nhập Thìn khố, Tỵ Tài thông qua Sửu mà nhập Thìn chi, Thìn là chủ vị, là bản thân ta, nên là mệnh đại phú. Năm đầu tiên trong vận Ất bị ngồi tù; nguyên nhân là vì trong Thìn có Ất mộc thấu xuất, bị Tân khắc hoại, hoại Ất mộc cũng là làm hoại Thìn khố. Vận Tuất trong vận Bính Tuất, Tuất xung khai Thìn khố, phát tài vài ức (vài trăm triệu tệ).

Càn: Quý Sửu – Kỷ Mùi – Quý Sửu – Nhâm Tuất

Vận: Mậu Ngọ – Đinh Tỵ – Bính Thìn – Ất Mão

Thất Sát vượng mà vô chế, nên không phải mệnh làm quan, công việc cũng không được lâu bền. Sửu Tuất hình mở Tài khố, nhưng lại không đắc tài. Vận Bính Thìn, Sửu nhập Thìn mộ, Thìn xung Tuất, chế hoả trong Tuất. Thìn thổ lại không phải là tự thân, bởi vì Thìn là ngoại lai (từ bên ngoài tới), là người quản chi Sửu của mình, nên là người quản lí bản thân mình, cũng tức là xí nghiệp của mình; thành ra xí nghiệp phát tài, mà mình không phát tài. Vận này cũng không kết hôn được, bởi vì cung phối ngẫu bị người ngoài thu đi, cho nên kết hôn muộn, dù cho có kết hôn thì cũng li dị. Tổng kết: Thìn là mộ của người này, cho nên vận Thìn không phát tài mà cũng không kết hôn.

Khôn: Tân Hợi – Tân Sửu – Ất Sửu – Canh Thìn

Vận: Nhâm Dần – Quý Mão – Giáp Thìn – Ất Tỵ

Thất Sát không có chế, không phải mệnh làm quan, cũng không có công việc cố định, là người mở công ty tư nhân, hôn nhân không tốt. Vận Thìn là vận tốt, bởi vì Tài tinh nhiều mà còn nhập Thìn khố. Thìn khố là Tài khố, đại biểu quản lí tài vụ, cho nên phát tài mấy trăm vạn tệ. Đến vận Ất Tỵ, năm Tân Tỵ, Ất mộc bị Sát chế, cho nên bị phá tài nặng. Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi đều không tốt. Hai năm Ngọ Mùi, có Ngọ hại Sửu, Mùi xung hại Sửu, phản cục, nên không phát tài. Năm Giáp Thân, Giáp xung Canh, nên Canh phát động, lại hợp Ất, nên có thể phát tài.

PHẦN 4: THIÊN CAN NGŨ HỢP

Ngũ hợp có: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý. Hàm nghĩa của hợp: hợp là thân thiết, là chiếm hữu, là đạt được, là phụ thuộc, là thành nhóm, là quy hoá.

1. Một suy một vượng mà hợp: hợp khử, quy hoá.

2. Hợp hoá: bên vượng khống chế được bên nhược.

3. Lực lượng tương đương mà hợp: hợp tác, hai bên không thể chế trụ lẫn nhau, nhưng có thể chế ước.

4. Nhật chủ hợp, có hai tình huống:

A. Hợp Tài: cần xem suy vượng, vượng đắc Tài, còn nhược thì không đắc Tài. Thân nhược nhưng Tài hư thấu thì cũng có khả năng phát tài. Nhật chủ vượng mà Tài cũng vượng cũng vẫn có thể phát tài. Nhật chủ vượng, Tài nhược, thì không phát tài được, mà thậm chí có thể phá tài.

B. Hợp Quan: nguyên tắc là khi nhật chủ hợp Quan thì trước tiên phải xem toạ là gì, hợp cái gì thì nhất định phải dụng cái đó. Quan có ý nghĩa là quản lí, quan tai, chồng, và đào hoa.

(1) Đại vận hợp bát tự – hợp trói. Khi hợp trói thì không quan tâm vượng suy. Chỉ cần hợp bán thì xem như là bị trói, biến thành nhược.

Lưu Hiểu Khánh: Ất Mùi – Bính Tuất – Giáp Tí – Ất Hợi

Vận: Tân Mão

Mộc sinh hoả, có căn nên thuỷ, Tân kim là kị thần. Vận Tân Mão, Quan hợp trụ Bính Thực Thần, nên có quan. Năm Nhâm Ngọ, Nhâm xung Bính, giải phóng cho Tân, liền gặp quan tai phải ngồi tù. Năm Quý Mùi, vào khoảng mùa thu, mùa đông ra tù.

Bill Clinton: Bính Tuất – Bính Thân – Ất Sửu – Mậu Dần

Vận: Đinh Dậu – Mậu Tuất – Kỷ Hợi – Canh Tí – Tân Sửu – Nhâm Dần

Thương Quan vượng, chế khử Quan tinh kị thần, Sửu lại thu nạp Thân, Quan bị bản thân sử dụng; mệnh làm đại quan. Vận Tân Sửu, ứng kì đến, làm tổng thống. Vận Nhâm Dần, Nhâm khắc Bính, Dần lại xung Thân nên phải xuống.

(2) Lưu niên hợp bát tự: hợp động. Sở dĩ gọi là hợp động là vì làm cho những yếu tố vốn tĩnh trong bát tự trở thành động qua mối quan hệ tương hợp, từ đó mà phát huy ra tác dụng. Hợp động còn gọi là hợp lưu. Giống như trong hôn nhân, hợp động là đem đối phương hợp lưu lại. Thật ra hợp động, nói ngắn gọn là khi hợp thì xem thập thần nào tham gia hợp sẽ biết những sự việc tương ứng phát sinh, hoặc còn gọi là ứng kì.

Càn: Ất Tỵ – Canh Thìn – Tân Mão – Nhâm Thìn

Ất Canh hợp, Thiên Tài bị khắc, Thìn Mão lại tương phá, tinh cung đều bị thương. Hơn 20 tuổi đã để tang cha.

Càn: Bính Ngọ – Tân Mão – Đinh Mão – Bính Ngọ

Kiếp Tài tại niên trụ, hợp khắc Tân kim Phụ tinh, hợp hóa mất, Ngọ lại phá Mão, đại khái 7,8 tuổi đã để tang cha.

Càn: Bính Ngọ – Tân Mão – Đinh Mão – Nhâm Tí

Tạo này cha đến nay vẫn còn khoẻ, đại khái nguyên nhân là do Nhâm Tí xung Bính Ngọ, Bính Tân hợp mà không trói.

Càn: Bính Ngọ – Tân Mão – Bính Tuất – Mậu Tí

Tân kim bị hợp khắc, đồng thời Ngọ phá Mão, Mão Tuất hợp, cung vị bị hư hoại, năm 1982 Nhâm Tuất cha mất.

Càn: Bính Ngọ – Tân Sửu – Mậu Dần – Bính Thìn

Bính hoả tàng trong Dần thấu can, Dần khắc Mậu lực bị giảm thiểu. Dần Ngọ hợp, Bính Tân hợp là hợp trói, hai bên đều có lực. Bính Dần là bán lộc của mình, thông qua nổ lực bản thân mà gây dựng sự nghiệp. Nhật chủ là giáo viên, có được quyền lực nhất định vì phụ trách thu nhận và đưa học sinh ra nước ngoài du học. Bát tự này thân nhược, Dần một nửa xem như Bính mà luận. Tân kim Thương Quan cụ thể là chỉ công tác của bản thân, Bính Hoả cũng chỉ công tác, nên công việc của bản thân có liên quan đến học sinh hoặc quân đội (kim là Thương Quan chủ về binh khí, quân đội). Cho nên người này phụ trách thu nhận và đưa học sinh đi du học. Cũng có một người khác có bát tự này, người đó làm phó thư ký công an quận.

Khôn: Quý Tỵ – Giáp Tí – Quý Mão – Quý Hợi

Vận: Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn

Mão mộc sinh Tỵ hoả, Tài sinh đến khách vị, bát tự này là số làm công ăn lương. Chức vụ của người này là tổng giám đốc công ty thương mại. Thực Thần sinh Tài Quan. Tài thượng Quý thuỷ là bản thân ta, nên ta có khả năng khống chế được Tài Quan, thành ra mệnh này làm quan. Vận Mậu tốt, Quan hợp thân. Vận Thìn hại Mão nên không tốt. Vận Kỷ bát tự lại đắc dụng. Vận Kỷ Tỵ, năm Giáp Thân như thế nào? Người này được đơn vị cũ gọi về làm, đồng thời có công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán mới về làm tổng giám đốc, tiền lương hàng năm là 40 vạn tệ; đồng thời cũng có thể lựa chọn tham gia làm chính trị. Năm nay rất tốt, Tỵ Thân hợp, hợp đến Tài Tỵ hoả, đồng thời Thân Mão hợp, lại xung Hợi, cả mệnh cục đều động.

PHẦN NĂM: Thiên can ngũ hợp hỗ hoán

1. Định nghĩa: Thiên can ngũ hợp một khi xuất hiện, thì có tượng chồng vợ khăng khít. Khi tương hợp thì mỗi bên đều có khả năng đại biểu cho bên kia.

A. Định nghĩa đối phương: một bên này biểu thị đặc tính của bên kia. Kiếp Tài hợp Tài – như Đinh hoả nhật nguyên, Bính Tân hợp, là Kiếp Tài hợp Tài, nguồn của tài là do Kiếp Tài hợp mà đến, tượng là thu nhập không phải do lao động mà có, hoặc những cách kiếm tiền không theo lẽ thường; ví dụ như cổ phiếu, kì hoá (future options – TK), hoặc đánh bạc. Thực Thần hợp Ấn; Ấn chủ văn hoá học vị, Thực Thần là suy nghĩ sâu sắc, đại biểu có ý thức hệ tư tưởng. Thương Quan hợp Ấn – có thành tựu về phương diện kĩ thuật, nghệ thuật.

B. Đồng dạng tin tức (??)

C. Hỗ hoán: ví dụ Thương Quan hợp Sát. Thương Quan cũng có thể đại biểu ý nghĩa về quyền lực như Thất Sát. Như Thương Quan vượng mà Sát nhược, thì Sát đại biểu đức tính thông minh của Thương Quan. Khi một bên cường chế một bên nhược, thì bên cường đại biểu tin tức của bên nhược, còn bên nhược đại biểu tin tức bên cường.

Khôn: Đinh Mùi – Nhâm Tí – Ất Sửu – Mậu Dần

Ấn vượng có chế, mệnh này làm quan. Đinh Nhâm hợp, Thực Thần hợp Ấn, đại biểu tính suy nghĩ sâu sắc, có học thuật cao; nhưng tại khách vị, nên nhật chủ lại không liên quan gì đến học thuật. Những sở thích của nhật chủ không giúp ích được cho sự nghiệp, chủ yếu là để thoả mãn nhu cầu về mặt tinh thần. Nhật chủ thích Phật học và Chu Dịch.

Khôn: Nhâm Tí – Kỷ Dậu – Ất Sửu – Đinh Sửu

Vận: Mậu Thân – Đinh Mùi – Bính Ngọ – Ất Tỵ

Ấn chủ quyền lực, đến hợp với Sửu tại chủ vị, đồng thời Sửu lại là Sát khố (Sát có chế nên mệnh có thể làm quan). Người này có một chức quan nhỏ. Đinh Nhâm hợp, nên làm việc bên mảng văn hoá, là tổng giám đốc viện điện ảnh. Vận Bính Ngọ, năm Quý Mùi, Ngọ hại Sửu, Mùi xuyên Tí, giống như tháng Chạp cuối năm, không còn quyền lực nữa.

Aristotle Onassis: Ất Tỵ – Kỷ Sửu – Kỷ Mùi – Canh Ngọ

Vận: Mậu Tí – Đinh Hợi – Bính Tuất – Ất Dậu – Giáp Thân – Quý Mùi – Nhâm Ngọ

Ông trùm hàng hải, một trong những người giàu nhất thế giới. Hoả thổ thành thế, Mùi xung Sửu, chế khử nguyệt lệnh Thực Thần hợp Tài, đại phú. Ất Canh hợp, chế không triệt để là bệnh của mệnh này. Niên thượng Thất Sát là con, thời thượng Thương Quan là bệnh của con cái; Ất Canh hợp, con trai có bệnh trong người, hơn 20 tuổi thì chết thảm.

Càn: Nhâm Ngọ – Đinh Mùi – Tân Tỵ – Giáp Ngọ

Vận: Mậu Thân – Kỷ Dậu – Canh Tuất- Tân Hợi – Nhâm Tí

Đinh Nhâm hợp, hoả thành thế. Nhâm thuỷ bị chế, Nhâm thuỷ vượng thì có khả năng làm quan lớn. Vận Tân Hợi, Nhâm Tí thật làm quan lớn, phó giám đốc. Thất Sát là quyền lực, Thương Quan hợp Sát, Thương Quan cũng thành Thất Sát, bị chế thì có thể làm quan to (nếu như trong trường hợp này mà là Thực Thần, bị chế thì không phải làm quan, mà là phát tài).

Càn: Nhâm Ngọ – Tân Hợi – Canh Thìn – Đinh Hợi

Vận: Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão – Bính Thìn – Đinh Tỵ

Thương Quan khử Quan lẽ ra là mệnh làm quan, nhưng người này lại làm khoa học, bởi vì Quan tại chủ vị mà hư thấu, chỉ có thể là danh khí (Quan mà có chế, càng vượng càng tốt). Nếu như đem Nhâm Ngọ và Đinh Hợi đổi chỗ cho nhau, thì mệnh này nhất định là mệnh làm quan, Hợi thuỷ vượng bị Thìn thu, chứng tỏ người này thích học thuật, mà không phải là thích làm quan, cũng chứng tỏ người này biết cách tổng kết dữ liệu, thông minh tài trí: làm khoa học.

Càn: Quý Tỵ – Mậu Ngọ – Tân Sửu – Bính Thân

Vận: Đinh Tỵ – Bính Thìn – Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu – Nhâm Tí

Tại trụ Bính Thân, Quan chế Kiếp nên ý tại Quan, Tỵ Thân dao hợp ý là mưu quan. Toạ Sửu thổ thâu Thân kim, Tỵ Quan đến hợp Thân kim, tức là tự nhập mộ của mình, nên Quan có thể cho bản thân mình dụng. Tỵ Thân hợp, bản thân có khả năng khống chế nên có thể làm quan. Bệnh của bát tự tại Sửu Ngọ hại, Thất Sát và mình không hoà hợp, Thất Sát là người chủ quản của bản thân. Mậu thổ Chính Ấn có lợi cho nhật chủ, có nguồn từ Tỵ hoả, tượng trưng cho sếp lớn. Ngọ hoả tượng trưng cho sếp nhỏ. Nhật chủ luôn làm chức trưởng, chưa bao giờ làm phó, bởi vì Thân hợp với Chính Quan, tức là tượng Chính Quan hợp thân. Vận Giáp Dần, tuy đã làm quan, nhưng rất khó khăn. Nguyên nhân là do Dần hại Tỵ. Năm Kỷ Tỵ thăng chức. Năm Bính Tí, Quan tinh hư thấu, Tí Ngọ xung, Tí Sửu hợp mộ, thiếu một chút bị chuyển công tác. Vận Quý Sửu, vô cùng tốt, tài quyền, nhân quyền đều đủ. Mậu Quý hợp, Thực Thần hợp Ấn, làm cục trưởng cục truyền hình Nghiễm Bá. Năm Tân Tỵ lại thăng chức. Ngọ Sửu hại, không được hưởng phước của cha mẹ.

Càn: Ất Tỵ – Canh Thìn – Tân Mão – Bính Thân

Vận: Kỷ Mão – Mậu Dần – Đinh Sửu – Bính Tí – Ất Hợi – Giáp Tuất

Ất Canh hợp, Thìn Mão hại, cha mất sớm. Tài sinh Quan, Quan thấu ra lại khắc bản thân, trước tiên phải nói là không phải mệnh làm quan, lại có thể có quan tai. Tài của bản thân (Tài tại chi toạ) sinh Quan khắc thân, nên từng đi tù. Thời còn đi học từng ăn cắp sách của thư viện, bị bắt lại đánh, lại còn bị kết tội.

PHẦN 6: ĐỊA CHI LỤC HỢP

Địa chi lục hợp đơn giản hơn nhiều. Không quan tâm mệnh cục, đại vận, hay lưu niên hợp, đều luận là hợp bán (trói), không phức tạp như thiên can ngũ hợp. Địa chi lục hợp làm cho hai bên tham gia hợp đều mất một số tác dụng nhất định. Hợp bán trụ thì luận là tính chất ban đầu bị mất bớt đi.

1. Dần Hợp hợp: Dập tắt hoả trong Dần.

2. Mão Tuất hợp: bế hoả khố, đồng thời mộc làm thổ thêm kiên cố, cả hai đều mất đi tính chất ban đầu.

Càn: Giáp Thìn – Bính Dần – Kỷ Hợi – Canh Ngọ

Vận: Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ – Tân Mùi

Dần Hợi hợp, Bính hoả Ấn tinh bị diệt. Bính là công tác, nên bản thân không có nghề nghiệp. Hợi thuỷ là Thê cung bị hợp đi mất, nên bị mất vợ, thành ra hai lần kết hôn. Năm 13 tuổi phạm đào hoa, người vợ thứ hai cần xem tại Ngọ hoả, vì Hợi Ngọ hợp. Người này đào hoa. Giáp Kỷ hợp, Giáp toạ Tài khố, cho nên nói là đào hoa.

Vương Ứng Hổ: Nhâm Dần – Tân Hợi – Giáp Tuất – Kỷ Tỵ

Vận: Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão – Bính Thìn – Đinh Tỵ

Thân vượng hợp Tài là phú mệnh. Tỵ hoả nhập Tuất mộ nên không thể sinh Tài. Năm đầu tiên của vận Mão là Kỷ Mão, bế mộ nên bắt đầu phát tài. Vận Bính Thìn, Thìn Tuất xung khai mộ nên có danh tiếng, lại phát tài.

3. Thìn Dậu Hợp: bế thuỷ khố, đồng thời làm hư hoại Ất mộc.

Càn: Giáp Thìn – Quý Dậu – Canh Thìn – Giáp Thân

Thìn Dậu Hợp, bế thuỷ khố, Tài căn bị hư hoại, kim trọc nên là tiện mệnh. Mệnh này không khử hết mộc thuỷ, không thể luận là tòng cách.

4. Tỵ Thân hợp: có thể khử Tỵ hoả, cũng có thể khử Thân kim. Tỵ hoả vượng thì khử kim thuỷ trong Thân. Thân vượng thì khử hoả thổ trong Tỵ.

Càn: Mậu Thân – Kỷ Mùi – Quý Tỵ – Kỷ Mùi

Vận: Canh Thân – Tân Dậu – Nhâm Tuất – Quý Hợi – Giáp Tí

Hoả thổ thành thế khử kim thuỷ, Mậu Quý hợp, Quan hợp nên bị khống chế. Mệnh cục Sát kề sát mà lại vượng, không phải là quan mệnh, mà là mệnh phát tài lớn, làm đại sự. Là nhà đầu tư cổ phiếu, mở hai công ty đầu tư. Năm thứ năm của vận Tuất, từ hai bàn tay trắng mà kiếm được vài chục ức tệ. Năm Tân Tỵ là huy hoàng nhất. Hiện đang ở vận Quý Hợi không tốt, công ty cuối cùng đầu tư đến hiện tại vẫn bị rớt giá, không giải quyết triệt để thì có khả năng thất thoát số tiền lớn.

5. Ngọ Mùi hợp: bế mộc khố, Ngọ hoả bị hối.

6. Tí Sửu hợp: bế kim khố.

Càn: Canh Tuất – Kỷ Mão – Ất Mão – Kỷ Mão

Vận: Canh Thìn – Tân Tỵ – Nhâm Ngọ – Quý Mùi

Mão Tuất hợp, Tài hợp thân, lại có Quan hợp thân (Quan hợp thân không quan tâm vượng suy), nhật chủ có một công ty tư nhân lớn. Quan tinh hư phù, nên không phải mệnh làm quan, mà là mệnh quản lí xí nghiệp. Ba Mão hợp một Tuất, quản lí ba cái xí nghiệp. Vận Nhâm Ngọ, Ngọ phá Mão nên không tốt, nhưng nhìn chung thì có phát tài, bởi vì Tài vượng. Vận Quý Mùi, phát tài mạnh hơn nữa.

Khôn: Giáp Dần – Tân Mùi – Ất Hợi – Quý Mùi

Vận: Canh Ngọ – Kỷ Tỵ – Mậu Thìn – Đinh Mão

Dần Hợi hợp, phối ngẫu cung Hợi thuỷ bị hợp mất, chứng tỏ khó tìm chồng, cũng có nghĩa là Hợi bị hợp khử nên mất tác dụng, hôn nhân không thuận, khó thành. Năm Tân Tỵ, tình cảm xảy ra vấn đề, thiếu chút nữa tự tử. Trong mệnh cục có Dần Hợi hợp, có hai loại ý nghĩa: A. chồng có nhân tình bên ngoài; B. bản thân mình là kẻ thứ ba. Thực tế thì người này là kẻ thứ ba. Năm Giáp Thân xung khai Dần Hợi hợp nên vấn đề được giải quyết.

Khôn: Giáp Dần – Tân Mùi – Ất Hợi – Kỷ Mão

Vận: Canh Ngọ – Kỷ Tỵ – Mậu Thìn – Đinh Mão

Mộc quá vượng, Tài nhược, Sát lại có nguồn, mệnh không phú. Tạo trước, Hợi Mùi củng Tài, nên tài vận tốt. Thân vượng Tài vượng. Dần Hợi hợp, trước khi kết hôn, chồng là người không đàng hoàng. Sau khi kết hôn, thời trụ là lộc, có thể hợp trói Hợi thuỷ, nên hôn nhân người này so với người phía trước tốt, nhưng tài vận lại kém hơn so với người trước.

7. Đặc điểm của hợp: hợp bán (trói). Nhưng có một điểm bất đồng là: lưu niên hợp đại vận là động, động thì có thể phát huy tác dụng. Đại vận là tĩnh, nên chỉ có lưu niên đến hợp thì mới có khả năng phát huy tác dụng. Lưu niên và bát tự hợp là hợp bán, có hai tính chất: đối với bát tự, bị trói; đối với lưu niên là bị lưu giữ lại, cũng có nghĩa là nhận được điều mình muốn. Lưu niên hợp nhập mệnh cục thực tế chính là một loại ứng kì của mệnh cục. Lưu niên hợp đại vận: đại vận hợp lưu, nhận được điều mình muốn.

Càn: Nhâm Tí – Đinh Mùi – Quý Hợi – Ất Mão

Vận: Mậu Thân – Kỷ Dậu – Canh Tuất – Tân Hợi

Vận Canh Tuất thiên điạ hợp với mệnh cục, Thực Thần trong mệnh cục bị trói, có ý nghĩa gì? Thực Thần này không sinh tài, có chế Quan một chút, chú yếu biểu thị tâm tính, nên không lấy Thực Thần này luận xem có phát tài hay không. Tâm tính chủ yếu là thích du nhàn, yêu tự do, không được tự do thì chịu không nổi. Nhưng lại được Canh Tuất là Tài Quan, nên vận này được giao cho quản lí kho tài liệu, cũng tính là có thăng chức. Thập thần trong mệnh cục tuy không đắc dụng, nhưng đại vận lại đắc được Quan Ấn.

Càn: Đinh Mùi – Nhâm Tí – Đinh Tỵ – Tân Hợi

Vận: Tân Hợi – Canh Tuất – Kỷ Dậu – Mậu Thân

Vận Mậu, Mậu trong Bính hoả hư thấu nên không tốt, cũng là nói Tỵ hoả hư nên vô dụng. Cho nên vận Mậu không tốt, chỉ có năm Tân Tỵ và Giáp Thân là tốt. Năm Tân Tỵ, Tỵ đáo vị, cũng chính là mang Tài đáo vị, lại hợp trụ Thân kim Tài tinh, năm này phát được 7,8 vạn tệ. Năm Giáp Thân, Thân hợp nhập Tỵ vị, Tỵ hoả hợp trói nên không còn hư thấu, chính là nói dựa vào tiêu hao lực lượng của Tỵ hoả mà phát tài.

Viên Thế Khải: Kỷ Mùi – Quý Dậu – Đinh Tỵ – Đinh Mùi

Vận: Nhâm Thân – Tân Mùi – Canh Ngọ – Kỷ Tỵ – Mậu Thìn – Đinh Mão

Phản cục: vì đi ngược lại với ý tượng của kết cấu tổ hợp bát tự nên gọi là phản cục, như nguyên cục Dậu kim kị thần do Tỵ chế, như gặp năm Mão tuy xung khử Dậu, nhưng cũng cũng phá cục Tỵ Dậu hợp, nên gọi phản cục, hung. Tổ hợp của nguyên cục là Tỵ hoả chế Dậu kim, sợ nhất là Mão mộc đến xung hoặc Thìn thổ đến hợp. Đại vận Đinh Mão, Mão Dậu xung phá cục hợp Tỵ Dậu nên không cát lợi. Năm Bính Thìn, Tỵ hoả dụng thần hư thấu nên hung, cũng là nói Tỵ hoả vô dụng (đây là nói mối quan hệ của thiên can và địa chi). Hư thấu có ý là bị bào mòn mà mất đi. Thìn Dậu hợp, Dậu kỷ thần hợp lưu trụ, tức là nói kim kị thần được bảo hộ, Tỵ hoả chế không được kị thần nữa, nên năm này qua đời.

Càn: Tân Hợi – Nhâm Thìn – Nhâm Tuất – Quý Mão

Vận: Tân Mão – Canh Dần – Kỷ Sửu – Mậu Tí – Đinh Hợi

Toạ dưới nhật chủ có Tài khố, gặp tài khố nhất định muốn xung khố, tức là nói toạ dưới có Tài khố thì hỷ gặp xung, nhưng xung cũng có xung mà bị hư hại. Tuy nhiên tượng Tài khố trong mệnh cục thì gọi là xung khai, có khả năng phát tài. Xung khai Tài khố, tốt nhất là có thể chế trụ Tài tinh và nguyên thần của nó trong Tài khố, bởi vì đó là một trong những loại phát tài lớn nhất; đây là nguyên tắc xung khai tài khố mà Tài tinh được chế. Mão Tuất hợp bế khố là bệnh nặng nhất trong mệnh cục. Cho nên năm Kỷ Mão, bởi vì đánh người thi hành công vụ mà bị phá tài rất nặng, đồng thời con gái cũng qua đời trong năm này. Mão Tuất hợp, vốn xung khai lại bị Mão hợp, nên tự nhiên là hung.

Chu Dong Cơ: Mậu Thìn – Nhâm Tuất – Ất Mùi – Kỷ Mão

Vận: Quý Hợi – Giáp Tí – Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ

Tuất xung Thìn, Nhâm (Quý? – TK) thuỷ trong Thìn bị chế, Tài khố khử Ấn khố, Ấn chủ quyền lực, Tài chủ kinh tế, khố có tác dụng lớn nhất khi ở niên trụ và nguyệt trụ, nên người này là viên chức quản lí nhà nước về kinh tế, chức rất lớn. Mão Tuất, Mão Mùi Thìn hợp (?), đều hợp đến chủ vị, Mão mộc là lộc, cũng là bản thân, nên tất cả tiền bạc đều qui về sở hữu của bản thân, đều bị bản thân khống chế. Đến vận Thìn, Ấn bị chế khử triệt để, Thìn lại đáo vị, là vận tốt nhất. Vận Đinh là vận tệ nhất, Mão Tuất hợp khố, đồng thời Đinh Nhâm hợp là phản cục, không còn chút quyền lực nào. Do Nhâm đã bị Mậu chế, mà Đinh Nhâm hợp, tức là Mậu không chế Nhâm được nữa, cho nên phải đi về vùng ven kiếm tiền (Đinh Nhâm hợp, Nhâm được bảo hộ). Vận Thìn có cơ hội phất lên. Vận Kỷ Tỵ, Mậu thổ đắc lộc nên tốt, vì chế hoàn toàn kị thần. Vận Canh Ngọ không tốt, bởi vì Canh Quan là kị thần.

PHẦN 7: HOÁN TƯỢNG CỦA LỤC HỢP

Gọi là hoán tượng là bởi vì trong mối quan hệ lục hợp, bên này sẽ biến thành bên kia.

Càn: Nhâm Thân – Kỷ Dậu – Quý Tỵ – Tân Dậu

Vận: Canh Tuất – Tân Hợi – Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão

Đây là mệnh của 1 đại tham quan. Thân Tỵ, Dậu Tỵ hợp, Thân kim chế Tỵ, kim đều thành hoả Tài. Vận Hợi toàn bàn đều xung khử nhưng không loạn. Vận Sửu hội thành kim cục, kim thành thế, toàn là tiền tài. Vận Giáp, Giáp mộc hợp trụ Thất Sát duy nhất trong mệnh, tức là không có ai quản lí bản thân, nên bản thân có quyền lực rất lớn. Vận Dần, Dần xung Thân, phá cục, Tỵ hoả vô chế, mệnh vận không tốt, bị bắt. Tổng kết: kim thuỷ thành thế, hoả bị diệt.

Càn: Mậu Thân – Kỷ Mùi – Quý Tỵ – Kỷ Mùi

Vận: Canh Thân – Tân Dậu – Nhâm Tuất – Quý Hợi

Hoả thổ thành thế, nên muốn khử kim thuỷ. Thân kim nhược nên cần có vượng thần đến chế, mệnh cục có chế nhưng không triệt để. Đây là mệnh phú nhưng không phải đại phú. Tỵ Thân hợp, Tài chế khử Kiếp Tài, Thân kim có thể xem như là Tài để luận. Vận Nhâm Tuất phát tài.

PHẦN 8: TAM HỢP CỤC

Manh sư khi luận không quan tâm vượng nhược, trọng điểm của lí luận manh phái là hình xung hợp hại xuyên phá. Tam hợp cục: trường sinh, đế vượng, mộ khố; trong đó trung thần là quan trọng nhất, vì nó chính là lực hướng tâm. Bán củng cục cũng có tác dụng, như Thân Thìn củng Tí thuỷ. Trong tam hợp cục, ví dụ như Hợi Mão Mùi, Thân Tí Thìn, Tỵ Dậu Sửu, thì chữ cuối cùng trong tam hợp sẽ bị hoá mất. Chỉ có trong tam hợp Dần Ngọ Tuất thì khác. Trong đó Tuất được sinh chứ không bị hoá đi mất. Tỵ Dậu Sửu tam hợp, Tỵ hoả bị hối, Bính hoả không thể khắc Tân kim. Dần Tuất bán cục củng hoả, Tân kim trong Tuất không bị khắc động. Trung thần hiện nhiều lần thì không thành hợp cục, ví dụ như Dần Ngọ Ngọ Tuất, thì không luận là hợp cục mà luận là nhập khố. Thường hợp cục hay được sử dụng để dự đoán ứng kì của việc hôn nhân.

Càn: Tân Hợi – Bính Thân – Đinh Sửu – Ất Tỵ

Vận: Ất Mùi – Giáp Ngọ – Quý Tỵ

Niên nguyệt trụ nếu thấu Tài là tượng tảo hôn. Năm Quý Dậu, Tỵ Dậu Sửu hợp cục nên kết hôn.

Càn: Giáp Dần – Quý Dậu – Đinh Sửu – Canh Tí

Vận: Giáp Tuất – Ất Hợi – Bính Tí – Đinh Sửu

Tí Sửu hợp là hợp rất khắng khít, nhưng Dậu Sửu hợp trước, hai loại hợp đồng thời tồn tại. Đinh nhật chủ toạ dưới có Thực Thần Tài khố nên cát. Tí Sửu hợp bế khố nên hung, nhưng Tí thuỷ kị thần bị hợp chế là tốt. Sửu sinh cho nguyệt lệnh Dậu kim gần bên, tượng là chủ sinh đến khách vị, thành ra là mệnh kiếm tiền cho người khác, đồng thời Sửu lại có tượng là thâu kim khí, nên tự thân giúp người kiếm tiền thì người ta cũng báo đáp mình đầy đủ. Tí Sửu hợp, Tí thuỷ Thất Sát hợp đến tự thân, Thất Sát có thể xem như Thực mà luận, đại biểu là thông minh, có kĩnăng. Hợp Tí thuỷ thì có tượng là có bạn bè là quan chức. Tuy nhiên Thất Sát lại không sinh tài phú, Thất Sát vô chế, nên mệnh không thể làm quan. Vận Bính Tí, Tí Sửu hợp bế khố, nên các can tàng trong khố không thể thấu xuất ra, đồng thời các yếu tố bên ngoài cũng không thể tiến vào, vì vậy mệnh cục này có tín hiệu muộn hôn nhân, bởi vì Tí tại thời trụ nên vận Tí tuyệt đối không thể kết hôn. Cần phải chờ qua vận Tí mới có thể kết hôn. Vận Tí, năm Quý Mùi, đương số nghĩ là có thể kết hôn, nhưng sự thật hôn nhân không thành. Tí bị Mùi hại, Sửu bị Mùi xung, làm sao lại không kết hôn được? Bởi vì đại vận không có tín hiệu sẽ kết hôn, đồng thời Mùi thổ chỉ có thể hại đảo một chút, nhưng lại có Tí đến hợp Sửu, vì vậy mà cần phải chờ qua hết vận này mới có khả năng kết hôn, đại khái là vào khoảng năm Bính Tuất.

PHẦN 9: LỤC XUNG

Cần chú ý xem xa gần, cường nhược. Nếu như hình thành một bên cường, một bên nhược xung nhau, thì bên cường vượng có thể xung khử, xung hoại, xung phá, xung chế bên nhược. Nếu xung khố mà lại xung gần, thì có khả năng xung hoại những can tàng trong khố. Khố mà xung xa thì có tức là khai khố, có nghĩa là xung xa thì khố chỉ bị thương một ít.

Thìn Tuất xung, có thể chế khử các can tàng trong khố, thuỷ chế khử hoả. Nếu như hoả thổ vượng, thì thuỷ khố sẽ bị chế. Thìn Tuất xung, chỉ có thể chế khử thuỷ, hoả hoặc mộc, không thể chế khử kim; phải cần dụng Mùi thổ mới có thể chế khử Tân kim, bởi vì có Đinh hoả. Cho nên Tân kim tàng trong Tuất là khó khắc chế nhất, thường thường chỉ có thể xung Tân thấu ra.

Sửu Mùi xung, kim khắc mộc, thuỷ khắc hoả, nếu hoả thổ vượng thì có thể chế khử kim thuỷ trong Sửu. Có thể hay không có thể chế trụ các can tàng trong khố thì phải xem lực lượng. Như Sửu Mùi xung, lại có Tí hợp Sửu thì bị giảm lực, lực lượng giảm nên tính là vừa có xung cũng vừa có hợp.

Càn: Canh Dần – Giáp Thân – Quý Mão – Quý Sửu

Dần Thân xung, mộc bị hư hoại. Hoạt mộc thì sợ kim khắc, mộc đại biểu cho bà của mình, vì mộc ở tại trụ năm có nghĩa là ông bà. Thương Thực là bà con phái nữ, thành ra bà qua đời.

Càn: Canh Tuất – Mậu Tí – Nhâm Ngọ – Canh Tí

Hai Tí xung một Ngọ, thành thế gọng kìm mà trói, xung không động, vợ không thành vấn đề, mà còn rất tốt, bởi vì Tuất thổ chế Tí thuỷ, thành ra thế cân bằng, nên vô sự.

Càn: Ất Mùi – Nhâm Ngọ – Giáp Tí – Canh Ngọ

Phu thê tinh chế khử phu thê cung, phản, hôn nhân không ổn định, người nam bị người nữ khác đem đi mất, thành ra li hôn. Ngược lại, phu thê cung có thập thần chế khử phu thê tinh kị thần thì lại cát, phu thê cung có ý là gia đình.

Đại vận xung bát tự, nếu lực lượng tương đương thì là xung phá. Đại vận có một chữ lại xung hai chữ trong bát tự là xung động bát tự. Đại vận xung khố thì phá khố. Lưu niên xung bát tự là xung động. Lưu niên xung khố là xung khai. Lưu niên xung, hợp nguyên cục đều đại biểu là ứng kì đã đến. Đây là nguyên tắc lưu niên chính là ứng kì (hợp gặp xung, xung gặp hợp là ứng kì).

Mối quan hệ giữa lưu niên và đại vận: Can vận quản 5 năm đầu, chi vận quản 5 năm cuối. Cần phải xem đang hành vận thiên can hay địa chi. Khi hành vận thiên can mà lưu niên xung đại vận thì là xung động, có ý nghĩa là dẫn động. Khi hành vận địa chi mà lưu niên xung đại vận thì là xung khử chi đại vận, xung đi, có ý nghĩa là tạm thời rời xa, chứ không nhất định là hung.

Roh Moo-Huyn: Bính Tuất – Bính Thân – Mậu Dần – Đinh Tỵ

Vận: Đinh Dậu – Mậu Tuất – Kỷ Hợi – Canh Tí – Tân Sửu – Nhâm Dần

Dụng Dần xung khử Thân, lại dụng Tỵ hợp trụ, có quyền lực, đồng thời Tỵ là lộc. Năm Nhâm Ngọ, hợp cục chế Thân cát. Năm Giáp Thân, Thân kim kị thần đến, xuống chức, vì năm Giáp Thân xung khử Sát, mà Thất Sát hư thấu nên hung, có nghĩa là quyền lực cũng là hư chứ không phải thực, quyền lực bị bào mòn.

Mệnh tổng thống: Quý Tỵ – Đinh Tỵ – Đinh Tỵ – Mậu Thân

Vận: Bính Thìn – Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu – Nhâm Tí – Tân Hợi

Hoả thổ thành thế, chế khử nguyên thần Tài của Quan, mệnh đại quý. Vận Tân bị chế nên khá. Vận Hợi kị thần vượng xung động Tỵ, Thân được giải phóng nhưng khử không hết thành ra không có thành công trong cuộc sống (bởi vì hợp cục Tỵ Thân bị phá).

Càn: Nhâm Thìn – Quý Mão – Mậu Thìn – Bính Thìn

Vận: Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ – Đinh Mùi – Mậu Thân

Tài Quan là kị thần. Vận Mậu Thân, Mậu Quý hợp, Thân Mão hợp, kị thần đều chế khử. Năm Mậu Dần, Dần Thân xung, Thân kim bị dẫn động, hợp động Mão mộc kị thần, nên năm này kiếm được hơn 20 vạn.

Càn: Quý Mão – Bính Thìn – Mậu Tí – Bính Thìn

Vận: Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu – Nhâm Tí

Tí Thuỷ Tài tinh luận là cát. Thân nhược Tài tinh hư thấu hợp thân nên đắc Tài. Vận Tí, năm Nhâm Ngọ, Ngọ xung động Tí thuỷ trong mệnh cục, xung đi mất Tí thuỷ trong vận, trước tốt sau xấu. Năm này kiếm được 2.000 vạn cho xí nghiệp y dược phẩm đang công tác. Tài trong vận đại diện cho một dự án góp vốn. Quý thuỷ toạ Quan địa, nên là kiếm tiền cho xí nghiệp chứ không phải cho bản thân mình, vì Tài tại khách vị.

PHẦN 10: HOÁN TƯỢNG CỦA XUNG

Khi xung, bên cường chiến thắng bên nhược. Bên cường có thể đại diện cho tin tức của bên nhược. Bên nhược cũng có thể đại diện cho tin tức bên cường.

Khôn: Nhâm Tí – Bính Ngọ – Kỷ Tỵ – Kỷ Tỵ

Vận: Ất Tỵ – Giáp Thìn – Quý Mão – Nhâm Dần

Hoả thổ chế khử Tí thuỷ, khử đi mất, cùng là Tài bị khử mất. Vận dụng nguyên lí hoán tượng, hoả thổ đều xem như Tài, người này đặc biệt giàu có. Vận Mão sinh hoả nên phát tài, nhưng có một năm đặc biệt xấu, gần như phá tài, là năm Canh Thìn. Người này làm xuất nhập khẩu, làm cái gì cũng không thành, đổ sông đổ biển. Vì năm Canh Thìn, Tí Thìn hợp, thuỷ nhập khố, Ngọ hoả chế không được thuỷ, Thìn thổ lại hối hoả. Thìn hại Mão, phá tài. Vận Nhâm, năm Quý Mùi không tốt, Mùi hợp bán Ngọ, Ngọ không thể xung Tí, Mùi tuy chế Tí thuỷ, nhưng không phù hợp với tổ hợp của nguyên cục, phản cục nên hung. Cần ghi nhớ: nguyên cục là dùng xung chế mà không phải hại chế. Năm Giáp Thân, Tỵ Thân hợp, ta hợp cùng nguyên thần của kị thần thuỷ, nên phát tài lớn. Hôn nhân: vận Dần, Dần Tỵ hại đến phu thê cung, không cần nhìn cũng biết đến kim Mùi (?) cũng kết hôn. Năm Nhâm Ngọ kiếm được 1-2 ngàn vạn. Vận Nhâm Dần tốt, Nhâm hư thấu, Dần sinh Tỵ Ngọ. Năm Nhâm Ngọ hoả đáo vị nên phát tài mấy ngàn vạn.

Càn: Đinh Mùi – Quý Sửu – Bính Tí – Nhâm Thìn

Vận: Nhâm Tí – Tân Hợi – Canh Tuất – Kỷ Dậu – Mậu Thân

Người này có trong tay hàng ức vạn tệ. Mệnh này không luận tòng Sát. Thân toạ dưới có Quan tinh, nên là mệnh làm quan. Sửu Mùi xung Tài khố, xung khử Kiếp Tài khố (Kiếp Tài lúc này có thể luận như Tài). Đinh Nhâm hợp, có khả năng khống chế Tài tinh. Thuỷ vượng, Tí Sửu hợp, Sửu bị hợp đến chủ vị. Tí Thìn hợp, Tí là trung thần, cũng tại chủ vị, cho nên nhật chủ có tiền lại có danh tiếng. Đương số là ông chủ một tập đoàn lớn, bởi vì trong bát tự, chữ nào cũng qui về tay nhật chủ. Hạch tâm của bát tự này là Sửu Mùi xung, Tài khố xung khử Kiếp Tài khố, tượng là khống chế quản lí, chứ không phải tượng làm làm quan. Hiện nay đang ở vận Kỷ Dậu, lên kế hoạch kiếm 30 ức. Vận Mậu Thân, Thân Tí Thìn hợp Sát cục, đều qui về nhật chủ, 300 ức cũng có thể kiếm được. Thìn thổ là bản thân, Mậu Thổ cũng là bản thân, Thân Tí Thìn cũng là bản thân, cho nên là mệnh đại phú. Vận Kỷ Dậu, năm Nhâm Ngọ không tốt vì Ngọ hại Sửu, Ngọ hợp Mùi, phản cục. Muốn vay vốn mà không vay được đồng nào. Năm Quý Mùi, khử Ấn, là ứng kỳ của Kiếp Tài, vì xung nên cát, vay được vốn.

PHẦN 11: HẠI

Manh phái đoán mệnh, chỉ luận hình xung hợp hại phá, thật ra hại là quan trọng nhất, được manh sư sử dụng nhiều nhất.

Tổ hợp hại: Tí Mùi, Sửu Ngọ, Mão Thìn, Dần Tỵ, Thân Hợi, Dậu Tuất. Chia thành hại sinh và hại khắc. Hại mà khắc tiết có tác dụng mạnh nhất, như Tí Mùi, Sửu Ngọ, Mão Thìn, Dậu Tuất. Trong đó Dậu Tuất hại được sử dụng nhiều nhất, và lực lượng cũng mạnh nhất. Nếu kim mà đặc biệt vượng thì Dậu có khả năng hại ngược lại Tuất. Dần Tỵ hại Thân Hợi hại, trong hại có sinh, lực nhỏ, nên chỉ có ý nghĩa hại mà động, hại đảo, là tượng bất hoà. Tương hại tức là có mối quan hệ cừu hận, mâu thuẫn rất khó điều tiết, là bất hoà tuyệt đối, phải gây thương tổn lẫn nhau. Hại thì không tính là chế đối phương, mà là hư hoại. Xung, hợp, khắc đều có thể chế, duy chỉ có hại là không thể chế, mà là làm cho đối phương bị hư tổn. Đây là bởi vì có mâu thuẫn không thể điều tiết, có cừu hận mà đối kháng nhau mạnh mẽ. Hại đảo có nghĩa là phản. Chính Ấn bị hại đảo thì xem như Thiên Ấn, Thất Sát bị hại đảo thì xem như Chính Quan, cũng giống lí luận của phản. Hại khố thì không thể khai khố. Chỉ có xung hoặc hình khố mới có thể khai.

Càn: Bính Ngọ – Đinh Dậu – Bính Tuất

Hoả này thế lớn, nên chế kim, nhưng Tuất hại Dậu nên không chế nổi kim, thành ra không thể phát tài lớn được, bởi vì hại nên có mối bất hoà với Tài, thành ra là có cừu hận, nên tự nhiên là không thể phát tài lớn. Dù cho có phát lớn cũng sẽ xài hết. Vì hại nên hôn nhân cũng không thuận, cung vị và tinh có cừu oán.

Càn: Quý Mão – Nhâm Tuất – Bính Ngọ – Đinh Dậu

Vận: Tân Dậu – Canh Thân – Kỷ Mùi – Mậu Ngọ- Đinh Tỵ

Tổ hợp bát tự này là Kiếp Tài khử Tài. Tuất có khả năng hại đảo Dậu, đồng thời Ngọ có Đinh giúp khắc Dậu, Dậu bị chế trụ, nhưng Dậu lại ở tại thời trụ, nên là tiểu phú. Nhật chủ khi trước từng phát tài, kiếm được hơn trăm vạn. Tuất Dậu hại, Thực Thần và Tài bất hoà, có cừu hận, cho nên tiêu xài tiền rất lớn, có tiền đều xài hết, cũng có nhiều phụ nữ xung quanh, nhưng lại không kết hôn.

Khôn: Bính Ngọ – Đinh Dậu – Giáp Tuất – Ất Hợi

Tuất Dậu hại nên hôn nhân có vấn đề, từ trước đến giờ khắc ba người chồng, là do Quan bị hại, cung phối ngẫu cũng bị hại. Dậu Tuất hại lực tương đương mạnh.

Lưu niên hại: lưu niên hại đại vận không có vấn đề lớn, bởi vì đại vận là yếu tố bên ngoài. Sợ nhất các địa chi trong mệnh cục bị hại, bởi vì chúng là các yếu tố bên trong, tức là liên quan đến mình.

Càn: Giáp Dần – Quý Dậu – Đinh Sửu – Canh Tí

Vận: Giáp Tuất – Ất Hợi – Bính Tí – Đinh Sửu

Vận Tí, năm Nhâm Ngọ, lưu niên hợp nhật trụ, thành thế thiên hợp địa hại. Nhật chủ muốn đi không được, muốn giải cũng không được; năm này tâm tình không tốt, ức chế. Năm Quý Mùi, hại kị thần Tí, Sát hư thấu nên luận là cát. Mùi xung khai Sửu kim khố, nên được đảm nhiệm chức vụ trong công ty. Mùi hại đảo thời trụ Tí thuỷ, nếu là đã có gia đình thì có thể có con, như chưa có gia đình thì tự nhiên là không luận có con.

Khôn: Ất Mão – Giáp Thân – Đinh Hợi – Tân Hợi

Vận: Quý Mùi – Nhâm Ngọ – Tân Tỵ – Canh Thìn

Nguyên cục có Thân Hợi hại nên có các ý sau đây. (1) Hại đảo: không phải hại hoại mà là hại đảo; Chính Tài, Chính Ấn biến thành Thiên Tài, Thiên Ấn, cho nên không giữ được việc làm trong cơ quan nhà nước, mà phải tự ra ngoài tìm việc làm. (2) hôn nhân tinh cùng hôn nhân cung tương hại, nên hôn nhân không thuận.

Càn: Nhâm Tí – Nhâm Dần – Kỷ Tỵ – Tân Mùi

Vận: Quý Mão – Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ

Dần Tỵ hại, nhưng vì là quan hệ tương sinh nên không phải hại hoại, mà là hại đảo. Chính Quan biến thành Thất Sát, Chính Ấn biến thành Kiêu Thần. Đồng dạng, công việc cũng không thuận lợi, không có thu nhập ổn định. Mối quan hệ vợ chồng cũng có tín hiệu không hòa thuận, không may mắn.

Khôn: Nhâm Tí – Nhâm Dần – Canh Thìn – Tân Tỵ

Vận: Tân Sửu – Canh Tí – Kỷ Hợi – Mậu Tuất

Nguyệt lệnh Dần hại thời chi Tỵ, Dần là phụ mẫu, nên cha mẹ và con cái bất hoà. Vì vậy, từ khi đương số có con, cha mẹ cũng không đến thăm cháu bao giờ. Đây đều là bởi vì hại thành cừu hận, bất hoà, không ưa thích nhau. Mệnh cục này Dần Tỵ cách chi mà hại nhau, lại có mối quan hệ tương sinh nên luận là hại đảo chứ không phải hại hoại. Thiên Tài biến thành Chính Tài, Thất Sát biến thành Chính Quan, cho nên nhật chủ là người đi làm công ăn lương. Năm Mậu Dần, Dần Tỵ hình, làm cho Tỵ hoả quan tinh càng vượng mà động, cho nên được bổ nhiệm công tác. Năm Giáp Thân, Thân Tỵ hợp, lộc hợp Quan, nên năm này công tác đặc biệt bận bịu.

PHẦN 12: ĐỊA CHI TAM HÌNH

Sửu Tuất Mùi, Dần Tỵ Thân, Tí Mão hình nhau, chủ yếu luận là phá. Sửu Tuất hình khai khố, làm hư hoại khố. Mùi Tuất hình khai khố, cũng làm hư hoại khố, hoả vì được hình vượng mà thấu ra, lại không bị hư hoại, có thể hình khử kim và thuỷ. Dần Tỵ hình chủ yếu luận hại, vì lực hình rất nhỏ, chủ yếu chỉ mối quan hệ đảo và động.

PHẦN 13: ĐỊA CHI PHÁ

Tí Mão phá, Mão Ngọ phá, do đều là trạng thái đế vượng nên không thể tương sinh, nên gọi là phá. Tí thuỷ có ý là làm hủ bại mộc, nên không luận tương sinh mà luận phá. Phá có 2 tầng ý nghĩa: (1) Phá là phá hoại, phá sản, đảo loạn. (2) Phá là không sinh cho nhau, chứ không phải chế nhau.

Phá vốn là quan hệ tương sinh, cùng nhau hợp tác là chuyện thiên kinh địa nghĩa, nhưng hai bên đều là đế vượng, vượng mà không sinh, không đi thực hiện chức trách của mình, giống như là chỉ đường cho người ta đến nơi có thể phục vụ người ta, chứ mình không trực tiếp phục vụ, không trực tiếp giải quyết cho người ta. Trong xã hội những ví dụ như vầy rất nhiều, giống như bởi vì đều nhận là tự mình tài giỏi (đế vượng), nên không được người ta giúp đỡ.

Càn: Quý Mão – Bính Thìn – Mậu Tí – Bính Thìn

Vận: Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu – Nhâm Tí

Tài toạ dưới là Quan, kiếm tiền cho người quản lí mình, hoặc nói là kiếm tiền cho đơn vị mình công tác. Năm Nhâm Ngọ, Ngọ phá Mão, nên đáng lẽ năm này công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhưng vì nhiều nguyên do mà bị phá tài, không thể niêm yết.

Càn: Nhâm Tí – Quý Mão – Nhâm Tí – Bính Ngọ

Càn: Nhâm Tí – Quý Mão – Nhâm Tí – Giáp Thìn

Mệnh trước Mão phá Ngọ, Mão mộc không sinh Ngọ hoả, là tổ hợp có quan hệ tương sinh, có tài nguyên nhưng lại không sinh, như vậy Thương Quan không có tác dụng gì, là mệnh phế nhân. Mà Ngọ hoả vốn nhược nên chỉ hi vọng được Mão mộc đến thông quan, nhưng Mão mộc lại không sinh cho Ngọ hoả nên hoả bị hư hoại, cho nên người này chỉ có thể làm ăn xin, cầu người ta cho một ít đồ ăn (vì mệnh cục có sinh cho hoả một ít).

Mệnh sau là người bình thường, vì không bị phá, Thực Thương có thể tiết thân. Mão Thìn tương hại, tượng là hôn nhân không tốt. Mệnh không có Tài nên lấy Thương Quan để luận Tài, luận vợ. Cưới vợ lớn hơn mình khoảng 20 tuổi, vợ tái giá.

Càn: Đinh Sửu – Quý Mão – Đinh Mùi – Canh Tuất

Mùi Tuất hình khử Tài nên có thể phát tài, nhưng Mão mộc đến hợp, lực khử yếu, nên chỉ phát tài nhỏ. Mùi xung Sửu, Sửu ở khách vị, làm quản lí trong xí nghiệp.

Càn: Ất Mùi – Kỷ Sửu – Nhâm Ngọ – Nhâm Tuất

Vận: Mậu Tí – Đinh Hợp – Bính Tuất – Ất Dậu – Giáp Thân

Tạo này sinh tại tháng Sửu, thổ vượng mà hoả không vượng. Sửu Mùi xung, thổ khử kim thuỷ không triệt để, tức là khử kị thần không triệt để. Sửu Ngọ hại không tốt, đồng thời Thương Quan lại kiến Quan, là chỗ hỏng nghiêm trọng nhất trong mệnh cục. Bát tự thiên can địa chi chữ nào cũng vô dụng. Người này đã li hôn, ngồi tù, khắc cha, khắc an hem, khắc con cái, không từng sinh con, con cái đều là con nuôi, lại có bệnh thần kinh, ngũ độc câu toàn.

Càn: Tân Sửu – Tân Mão – Bính Dần – Quý Tỵ

Vận: Canh Dần – Kỷ Sửu – Mậu Tí – Đinh Hợi– Bính Tuất
1. Luận phú quý: thời chi là lộc, lộc lại chở Quan phía trên. Lộc là quyền lực của bản thân mà lại kèm theo Quan, nhất định là mệnh làm quan. Quan tinh hư thấu bình thường không luận là quan mệnh, nhưng trong trụ Quý Tỵ có Mậu Quý hợp, can chi tương hợp tất nhiên làm quan.

2. Luận vận Hợi: Dần Hợi hợp, Hợi Mão hợp, Tỵ Hợi xung, nên biến động, một cái chỉ có thể sinh một cái. Nhật chủ sẽ buông tha cho chức trách của Dần, bởi vì chức vụ của Dần vốn không lí tưởng, lại thêm hợp thì hoả bị diệt, nên Hợi đổi ý hợp với Ấn, tăng thêm lực lượng cho Mão, là tượng thăng chức. Năm Quý Mùi, Hợi Mão Mùi hợp cục, từ thành phố được điều đến Thái Nguyên làm phó tổng, nhưng vì có một người đối với đương số không hoà hợp, nên đương số muốn hỏi nên về Thái Nguyên hay ở lại, nếu ở lại thì khi nào mới có thể lên chức phó tổng? Năm nay giáp mộc hư thấu, chức vụ trước đây không còn, mà quay về Thái Nguyên cũng không có tác dụng gì nên không nên về. Mão Thân lại hợp, ở lại tỉnh thành sẽ tốt. Đoán tháng Mão sẽ thăng là phó tổng. Đến nay không thấy phản hồi kết quả.

3. Sự nghiệp: Vận Mậu Tí thăng tiến đặc biệt nhanh. Quan vượng, Ấn vượng, càng quan trọng là Mậu là bán lộc của bản thân, tức là tự bản thân đã đắc quan, nên thăng quan, từ cấp phó địa phương thăng chức. Vận Đinh Hợi, Đinh là Kiếp Tài, cũng là người ta, cũng biểu thị là quyền lực của người khác, cho nên chỉ có thể làm chức phó cho người ta. Vận Bính Thìn, Bính Tân hợp Tài cục, không làm quan nữa. Đây là vận tốt nhất của đương số, nên hùn vốn với người ta mở xí nghiệp.

PHẦN 14: KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Lập bát tự

A. Phương pháp định giờ Tí: Lấy 0h là điểm phân cách hai ngày. Nguyên tắc cho ngày Giáp: từ sau 0h đến trước 1h, ví dụ như 0h10p là giờ Giáp Tí. Từ sau 23h đến trước 0h, ví dụ như 23h10p là giờ Bính Tí.

B. Dùng giờ của Bắc Kinh để định trụ giờ, không lấy giờ địa phương.

C. Bát tự của người nước ngoài, định bát tự theo giờ địa phương của người đó. Chú ý: nhất định phải phù hợp với qui luật tự nhiên, và pháP luật.

2. Giao vận:

A. Tính khởi vận: Đếm lấy số thực từ ngày sinh đến ngày giao tiết, ví dụ như sinh ngày 9, mà ngày 20 giao tiết, thì cách nhau là 11 ngày. Vận đều là hư số, tối thiểu là 1 tuổi khởi vận, tối đa là 10 tuổi. (Phần này hình như bị thiếu – TK).

B. Khẩu quyết giao vận: Nhìn niên mệnh nạp âm (hư số). Mệnh hoả: trước Thanh Minh ba ngày, vào giờ Ngọ giao vận. Mệnh kim: ngày tiết Xử Thử giờ Thân giao vận. Mệnh thuỷ: ngày tiết Đại Hàn giờ Dần. Mệnh mộc: trước Đông Chí ba ngày giờ Hợi. Mệnh thổ: sau tiết Mang Chủng chin ngày giờ Thìn. Thời khắc giao vận rất quan trọng, vào ngày và giờ giao vận tuyệt đối kị ra khỏi nhà. Nếu có giải hạn thì vào thời khắc giao vận là tốt nhất. Năm năm giao vận, mười năm giao hai lần vận. Trước khi khởi đại vận thì không tính tiểu vận, mà dùng lưu niên để đoán mệnh.

3. Vấn đề về cung vị:

A. Cung vị và lục thân: tác dụng của cung vị lớn hơn tinh thần. Niên là tổ tiên cha mẹ, nguyệt là cha mẹ anh em, nhật là vợ chồng, thời là con cháu. Cung vị của cha có hai cái: niên trụ và nguyệt trụ; cung vị của mẹ có hai cái: nguyệt trụ và nhật chi. Nếu trụ năm thấu xuất Ấn, Quan, Tài thì khẳng định là đại biểu cha mẹ.

B. Cung vị và bộ phận cơ thể: niên là chân, bởi vì năm là căn rễ; nguyệt là mình (ngực và bụng), xương; nhật là ngực, nội tạng; thời là ngũ quan, tay, và những bộ phận giúp con người tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thời trụ còn là môn hộ, là nguyên nhân bị người ta nhòm ngó, đồng thời cũng là chủ về cơ quan sinh sản.

C. Cung vị và địa phương: niên là phương xa, là nơi cha mẹ sinh ra; nguyệt là nhà tổ, là nơi ta sinh ra, là nơi cha mẹ ở hiện tại, là bạn cùng trường, là quê quán; nhật chi là nhà của bản thân; thời trụ là môn hộ.

D. Muốn biết có rời xa quên hương hay không thì nhìn niên và thời; nguyệt nhật tương hợp thì không li khai tổ gia; nguyệt nhật tương xung thì khẳng định là rời xa nhà cha mẹ; nhà mình tự mua thì nhìn nhật chi, nhật chi là nhà của mình, nhật chi là Ấn, Tài là tín hiệu mua nhà; mua xe nhìn thời trụ, Ấn, Tài ở thời trụ là tín hiệu mua xe. Nguyệt nhật phục ngâm là chuyển nhà, di động, có ý nghĩa là ở hai nơi. Nguyệt trụ là gia đình vợ, niên chi là cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng. Cung phu thê mà có phát sinh quan hệ với niên chi, khẳng định đại biểu có liên quan đến cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng. Như là hình hại thì không tốt. Dương can là bên trái, âm can là bên phải (nhưng không nhất định chính xác).

PHẦN 15: LÀM SAO XEM BÁT TỰ

1. Có sáu lí luận: A. khách chủ, B. thể dụng, C. tặc thần, bộ thần, D. chính dụng, phản dụng, E. năng lượng, hiệu suất, F. chính cục, phản cục.

Bát tự biểu thị cuộc đời người. Thông qua mối quan hệ giữa các chữ trong bát tự để biết được nhật chủ phú quý bần tiện, cát hung hoạ phúc. Quan hệ giữa các chữ trong bát tự có sinh khắc chế hoá, hình xung khắc hại phá, cũng là nói, xem mệnh là xem mối quan hệ giữa nhật chủ và thế giới bên ngoài.

2. Loại hình bát tự:

A. Kết cấu khử dụng: chiếm 40%

Gọi là kết cấu khử dụng nghĩa là trong bát tự có bên vượng khử mất bên nhược, nếu khử được hoàn toàn thì cát, khử không hoàn toàn thì hung. Các chủng loại khử có: khử Tài, khử Quan, khử Ấn, khử Thương, khử Kiếp Tài. Lộc là chỉ bản thân mình, cho nên nếu khử lộc phải đặc biệt thận trọng.

Càn: Bính Ngọ – Tân Mão – Đinh Mão – Nhâm Tí

Bính Tân hợp, Kiếp Tài khử Tài. Kiếp Tài này có toạ là lộc của nhật chủ, cũng có nghĩa là ta đắc Tài, cho nên đây là mệnh phát tài.

B. Kết cấu hoá dụng: chiếm 10%

Gọi là hoá dụng là vì thông qua chuyển hoá phát huy được tác dụng tốt đối với nhật chủ, như Sát Ấn tương sinh.

Càn: Nhâm Dần – Bính Ngọ – Mậu Dần – Ất Mão

Sát Ấn tương sinh, sinh cho thân ta, nên cát. Đây là mệnh làm quan. Ất Mão không chuyển hoá, có bệnh gan nghiêm trọng.

C. Kết cấu tiết dụng sinh dụng: chiếm 10%

Tiết dụng sinh dụng tức là Thực Thương tiết tú, Thương Quan sinh Tài, tiết là lao động, thông qua lao dộng mà sáng tạo Tài Quan.

D. Kết cấu hợp dụng: 10%

Hợp dụng tức là nhật chủ gặp hợp, trong đó có hai loại là hợp Tài và hợp Quan. Chú ý: cái mà mình hợp nếu hữu dụng là cát, như hợp Tài Quan là kị, tức là có bệnh, hung, không có lợi cho nhật chủ.

E. Kết cấu vô dụng: chiếm 10%:

Kết cấu vô dụng nghĩa là không có chữ nào phát huy được tác dụng, cho nên là mệnh bần tiện, vùng nông thôn đặc biệt nhiều, còn gọi là phế tự, tức là không phát huy được tác dụng.

3. Ví dụ:

Càn: Mậu Thân – Giáp Tí – Giáp Dần – Bính Dần

Vận: Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ

Sát Ấn tương sinh, Ấn lại sinh thân, kết cấu hoá dụng, mệnh làm quan. A. Tỷ Kiên kiếp Tài, nên là mệnh có tiền. B. Thực Thần tiết tú, nên đa tài đa nghệ. Người này bắt đầu làm quan từ chức Bí Thư. Vận nào cũng đều tốt, bởi vì mỗi chữ trong bát tự đều hữu dụng, tổ hợp bát tự lại đặc biệt tốt. Vận Mão, tuy Mão hình Tí, nhưng Mão Thân ám hợp, Mão là Dương Nhận nên cũng là bản thân, nên có thể đạt được chức vụ. Vận Thìn, Thân Tí Thìn hợp, Ấn càng vượng. Vận Tỵ, khử quan cũng cát.

Địa chi ám hợp gồm có: Mão Thân, Dần Sửu, Ngọ Hợi.

Càn: Kỷ Dậu – Đinh Mão – Canh Tuất – Kỷ Mão

Vận: Bính Dần – Ất Sửu – Giáp Tí – Quý Hợi

Mão Tuất hợp, nên Tài đến được chủ vị, đồng thời lại có Mão Dậu xung khử Kiếp Tài, nên là ông chủ một xí nghiệp lớn. Vận Giáp Tí, Thực Thần sinh Tài, kiếm được mấy ngàn vạn tệ. Vận Quý Hợi, Hợi Mão hợp Tài nên càng kiếm được nhiều. Mão xung Dậu là xung chế, nhưng chế không triệt để, vẫn luận chủ yếu là nhờ hợp mà đắc tài. Nhật chủ ban đầu cùng với công ty dược vốn nhà nước hợp tác, sau đó lại rút phần vốn của mình ra riêng, được lợi không nhỏ, hiện tại đang là chủ một xí nghiệp lớn.

Càn: Quý Sửu – Kỷ Mùi – Bính Thìn – Giáp Ngọ

Mệnh cục này thoạt nhìn thì hoả thổ vượng khử kim thuỷ, nhưng nhật chi Thìn là thuỷ khố bị Mùi phá, trụ năm thấu thuỷ thông căn có nguồn từ Thìn khố, nên căn bản là thuỷ này khử không triệt để, đồng thời Mùi thổ cũng khử không hết Tân kim, nên là mệnh cách bình thường.

Khôn: Bính Tí – Mậu Tuất – Đinh Sửu – Đinh Mùi

Mệnh cục có Sửu Tuất Mùi hình, Kiếp khử Tài khố, nên là mệnh phú quý. Nhưng mệnh này Sửu Tuất Mùi hình, khử không hết kim, đồng thời Tí Sửu lại hợp nên cũng khử không hết thuỷ. Kim thuỷ khử không triệt để nên lại thành mệnh bần tiện. Đã khử không hết lại phạm hình, nên chắc chắn khắc chồng, khắc con cái. Bất tự này không có chữ nào hữu dụng, biến thành thân nhược. Thương Quan cùng Sát cùng tồn tại, bần tiện mệnh.

Khôn: Ất Mùi – Ất Dậu – Bính Tuất – Kỷ Sửu

Vận: Bính Tuất – Đinh Hợi – Mậu Tí – Kỷ Sửu

Nguyên mệnh có thổ kim vượng, khử không triệt để thuỷ mộc. Sửu Dậu hợp, vượng kim phá Tuất nên phản cục. Hôn nhân không tốt, mệnh đặc biệt nghèo.

Trình Hiểu Trí: Canh Tuất – Canh Thìn – Mậu Thìn – Nhâm Tuất

Địa chi bốn thổ, đáng lẽ Tuất xung Thìn, khử triệt để Thìn khố thì phát tài. Nhưng Thìn vượng nên khử không hết, nên chỉ có thể dùng Thực Thần sinh tài, nhưng Tài nhược mà lại vô dụng, cho nên mệnh này nghèo. Hạch tâm: hai Thìn và hai Tuất lực lượng tương đương, nên không thể khử triệt để, cho nên bốn địa chi đều vô dụng, đồng thời cũng bị phản cục nên đây là mệnh gập ghềnh.

PHẦN 17: THỂ DỤNG, KHÁCH CHỦ

1. Thể dụng: từ góc độ của Thập Thần mà phân thành thể dụng. Ta là thể, không phải ta thì là dụng. Hoặc có thể nói như sau: mục đích của ta và mục đích của người đều là dụng. Thể là Tỷ, Kiếp, lộc, Ấn; là bản thân ta. Dụng là Tài, Quan, Sát; là công cụ, mục đích của ta. Thực Thương là trung tính. Thực thì nghiêng về Thể, mà Thương thì nghiêng về Dụng. Nên Thực Thương có thể làm Thể, cũng có thể làm Dụng.

2. Khách chủ: phân định chủ vị và khách vị thì dựa vào vị trí của tứ trụ. Niên nguyệt là khách; nhất thời là chủ.

Chủ: là ta, là công cụ của ta, là mục đích của ta. Chủ vị bao gồm: nhật chủ (tự thân ta), nhật trụ (gia đình nhỏ của ta), nhật và thời trụ (ta, vợ/chồng ta và con cái).

Khách: là người khác, là đến từ bên ngoài. Khách là can chi thuộc về người ta, tức là vật ngoài thân; tha trụ (người ta, người ngoài); niên nguyệt trụ (những yếu tố do tiên thiên định ra: ông bà tổ tiên, cha mẹ); tuế vận (ngoại lai).

Đỉnh Thăng: Nhâm Tí – Nhâm Dần – Canh Thìn – Tân Tỵ

Chủ vị Dụng Thìn củng thuỷ, hữu dụng. Tỵ bị Thìn hoá sinh thân nên hữu dụng. Người này thông minh, bát tự tốt.

Khôn: Nhâm Tí – Tân Hợi – Đinh Tỵ – Bính Ngọ

Tỵ Hợi xung, Tí Ngọ xung, xung không khử triệt để thì là tương chiến. Địa chi vô dụng, nên không thể làm quan, không có nghề nghiệp. Nếu như thuỷ hoặc hoả có thể khử triệt để đối phương, chắc chắn là mệnh làm quan. Bính Tân Hợp, Tài hư thấu được hợp đến chủ vị, có thể phát tài. Kin thuỷ là một nhà, hợp trụ kim, cũng tương đương với hợp mà khống chế được thuỷ, cho nên người này có khả năng phát tài và nổi tiếng, tức phát đại tài. Hiện tại có 300-400 vạn tệ. Trạng thái của Tân kim rất có lợi cho nhật chủ: kim thuỷ một nhà, kim theo hợp mà đến, cũng tương đương với chế trụ Ngọ mà thêm nguồn cho Tí, thuỷ cũng nương theo mà đến, cho nên người này phát tài lớn. Địa chi Tỵ hoả xung khử không triệt để Hợi Tí, nên không thể đi làm công ăn lương. Công lao của bát tự này ở Bính.

Khôn: Mậu Thân – Tân Dậu – Đinh Mùi – Quý Mão

Vận: Canh Thân – Kỷ Mùi – Mậu Ngọ – Đinh Tỵ

Thể tại chủ vị, Dụng tại khách vị, chính là người sống có qui củ, nề nếp, có tư duy theo kiểu đại chúng. Vận Kỷ Mùi, hợp Mão xung Dậu, có công việc, có phát tài nhỏ. Vận Mậu Ngọ, Ngọ chế không triệt để Thân Dậu, công việc không có. Bởi vì không có Tài nên không phát tài. Vận Đinh Tỵ, Tỵ Thân, Tỵ Dậu hợp, nên đắc Tài, nhưng một mà hợp hai cho nên có đào hoa.

Bill Clinton: Bính Tuất – Bính Thân – Ất Sửu – Mậu Dần

Quan tinh bị chế nên là mệnh có thể làm quan: Quan tinh bị Sửu Tài ở chủ vị kéo nhập Quan khố, chính là tượng nguyệt lệnh Quan bị chế nên chức quan rất lớn, là tổng thống. Dần có tác dụng gì? Dần ở chủ vị mà lại là nguồn của Bính hoả Thương Quan, nên biểu thị thông tin đương số thông minh, tài trí; tài năng là do nổ lực của bản thân mà có. Toạ chi Sửu là Dụng, trợ giúp bản thân kéo giữ Quan, cho nên vợ có giúp ích rất lớn cho bản thân. Sửu là Dụng mà lại ở chủ vị, rõ ràng nói các yếu tố bên ngoài rất có lợi cho đương số, chủ yếu là chỉ vợ. Thời Can Mậu là đào hoa, tại thời trụ nên địa vị so với nhật chủ nhỏ hơn, nhưng là người cùng đơn vị; cho nên Mậu đại biểu Tony Blair. Năm 98 Mậu Dần, Mậu đến chủ vị, cho nên đương số có việc đào hoa. Bính Thương Quan lại là đơn vị phụ trách tin tức, mà Bính lại từ chi lưu niên Dần thấu ra, cho nên bị báo chí phanh phui. Hoả là đào hoa, Sửu Tuất hình, cho nên nhiều phụ nữ xung quanh.

PHẦN 18: XEM TRẬT TỰ CỦA BÁT TỰ

1. Bắt đầu với chủ vị. Trước tiên xem nhật trụ, thời trụ có hữu dụng hay không, tác dụng là thế nào. Nếu như chủ vị hữu dụng, lực lượng lớn thì bát tự tốt. Nếu như các chữ trong chủ vị không hữu dụng, thì là bát tự xấu.

2. Thể tại chủ vị thì theo đúng nguyên tắc là nhất định phải hữu dụng. Tức là nói Tỷ, Kiếp, lộc, Ấn tại chủ vị cần phải hữu dụng. Dụng tại chủ vị, như Tài tại chủ vị, bản thân tự nhiên hữu dụng, là mệnh có tiền. Dụng tại chủ vị là phản dụng, có lợi cho công việc, nghề nghiệp, tuy nhiên không làm thuê ăn lương cũng không phải là trái mệnh. Sát tại chủ vị thì nhất định phải hữu dụng mới cát, không hữu dụng thì hung.

3. Sử dụng Thể tại chủ vị để chế Dụng tại khách vị: là hình mẫu lí tưởng của bát tự; nhật chủ là người được hoàn cảnh thuận lợi, ủng hộ; có vận mệnh tốt, được người chiếu cố. Sử dụng Dụng tại chủ vị để chế Dụng tại khách vị: nhất định là người có tài, có lối suy nghĩ, tư duy khác biệt người thường.

Càn: Mậu Ngọ – Kỷ Mùi – Canh Thìn – Mậu Tí

Thìn là thể tại chủ vị, nhất định phải hữu dụng, không thể bị bế, bị bế thì bất lợi. Tí Thìn củng Thương Quan, nhưng Mùi hại Tí, Thương Quan bị hư hoại, đồng thời cũng có Mậu khắc Tí, nên bát tự này không thành khí hậu, không tốt. Hoả thổ khử không hết thuỷ, bởi vì Tí thuỷ nhập Thìn khố, xung khử không hết.

Mao Trạch Đông: Quý Tỵ – Giáp Tí – Đinh Dậu – Giáp Thìn

Thể: Tỵ hoả tại khách vị. Dụng: Dậu kim tại chủ vị. Hạch tâm: A. Sát Ấn tương sinh, hóa dụng. B. Tí khắc Tỵ, Quý khắc Tỵ; đây là tổ hợp chế Kiếp Tài, chế tận. Bệnh của bát tự tại Thìn Dậu, nên chế không triệt để. Vợ con không tốt. Sát là hung thần, bị hoá thì đại biểu là quyền lực. Tỵ Kiếp là người chưởng quản quân đội. Tí khử Tỵ, nên ta đạt được quyền lực, có thể quản lí người khác, do đó là lãnh tụ tối cao. Giáp mộc hoá Sát, đây đại biểu thủ đoạn giúp nhật chủ đạt được quyền lực. Thìn Dậu hợp bế khố, trong Thìn có Quý thuỷ Thất Sát chế không hết, đây là chỗ xấu trong bát tự, ảnh hưởng cả đời. Dậu kim là vợ, tạo ra tì vết trong bát tự, nên vợ không tốt. Tí chế khử Tỵ, Tí là kị thần, nhưng có thể bị Giáp mộc hoá, rõ ràng Tí đại biểu gì thì ta được cái đó.

Chu Ân Lai: Mậu Tuất – Giáp Dần – Đinh Mão – Giáp Thìn

Bát tự Chu Ân Lai có thể chế khử bệnh trong bát tự Mao Trạch Đông là Thìn và Dậu. Mệnh cục này Dần Mão Thìn hội cục, nên chế trụ được Thìn, cũng khử triệt để Dậu, Tuất lại xung khai Thìn khố, nên thuỷ trong Thìn cũng bị chế; cho nên Chu chính là trợ thủ đắc lực của Mao. Ấn đa, cha mẹ tốt.

Bát tự Tưởng Giới Thạch có Tân kim là kị thần. Trợ thủ đắc lực của Tưởng Giới Thạch như Đái Lạp chẳng hạn, đều có bát tự có tổ hợp chế kim. Tuyệt chiêu giải tai chính là tìm người có tổ hợp bát tự khắc được kị thần của mình.

Hoà Thân: Canh Ngọ – Ất Dậu – Canh Tí – Nhâm Ngọ

Vận: Bính Tuất – Đinh Hợi – Mậu Tí – Kỷ Sửu – Canh Dần – Tân Mão

Hạch tâm: khử Quan cách, thượng hạ đều khử, lại khử triệt để nguyên thần của Quan là Ất. Vận Hợi Tí Sửu, 30 năm phong quang. Vận Canh Dần, vận khí đảo chiều, bởi vì hoả vượng tại Dần nên trụ năm Ngọ hoả chế không triệt để: qua đời. Như trụ năm mà không có Ngọ, đến vận Dần sẽ không chết mà chỉ bị bãi chức, nhưng như vậy thì chức quan lại không lớn, tại vì hiệu suất nhỏ nên chỉ có thể làm quan lại nhỏ.

Càn: Đinh Hợi – Canh Thìn – Nhâm Ngọ

Thực Thần chế Quan nên mệnh có thể làm quan, nhưng là chức quan nhỏ, bởi vì hiệu suất của Thực Thần không lớn.

Càn: Kỷ Mão – Kỷ Tỵ – Tân Hợi – Giáp Ngọ

Vận: Mậu Thìn – Đinh Mão – Bính Dần – Ất Sửu – Giáp Tí – Quý Hợi – Nhâm Tuất

Mộc hoả thành thế, khử Thương Quan tại chủ vị. Thương Quan có thể là Dụng mà cũng có thể là Thể. Thương Quan bị khử, cho nên có thể xem Thương Quan như Quan mà luận. Thương Quan bị khử triệt để nên chức quan không thấp, đạt đến cấp tỉnh. Vận Quý Hợi, bị chế tại chủ vị, một bước lên mây, từ cấp phó địa phương thăng đến chức phó cấp tỉnh. Vận Nhâm Đại hội đại biểu nhân dân. Vận Tuất không có chức quyền. Vận Nhâm Tuất, bị chế, Hợi thuỷ hư thấu nên không làm quan. Đây là mệnh trưởng thường uỷ tỉnh.

Khổng Tường Hi: Canh Thìn – Ất Dậu – Quý Mão – Canh Thân

Kim thành thế, chế khử Thực Thần. Thực là nguyên thần của Tài, nên so sánh với Tài thì còn lớn hơn. Thực Thần bị chế khử triệt để, nên mọi chữ trong bát tự đề qui về bản thân quản chế. Người này quản lí hệ thống ngân hàng quốc gia. Cung phối ngẫu bị thương nghiêm trọng nên chết một người vợ.

PHẦN 19: NĂNG LƯỢNG HIỆU SUẤT

Phương thức thể hiện: chế, hoá, tiết. Các loại chế: hợp chế, khắc chế, xung chế.

1. Hợp chế: chế toàn bộ cả dụng thần và nguyên thần, lúc đó năng lượng và hiệu suất là cao nhất, lực lượng lớn nhất. Cần ghi nhớ là bản thân và nguyên thân bị chế trụ là nguy hại nhất. Có hai tổ hợp: Tỵ Thân và Tỵ Dậu. Tuỳ theo năng lượng từ cung nào đến mà sắp xếp như sau:

Tỵ Thân: Tỵ và Thân bên nào vượng thì sẽ chế nguyên thần và dụng thần của bên kia. Tỵ Dậu: giống như phía trên. Tí Sửu: Sửu thổ khắc Tí thuỷ, năng lượng khá lớn. Mão Tuất: Mão mộc chế Tuất thổ, năng lượng nội tại của kim bị giảm. Mão Thân: Canh khắc Ất. Ngọ Hợi: Nhâm khắc Đinh. Dần Hợi: Thuỷ khắc hoả. Dần Sửu: Mộc khắc thổ. Ngọ Tuất: Hoả khắc kim. Can chi hợp: can chế chi thì hiệu suất cao, như Mậu Tí, Bính Tuất. Chi chế can thì hiệu suất thấp, như Tân Tỵ, Đinh Hợi.

Phương pháp xem phú quý bần tiện (sử dụng quan hệ hợp chế): cần xem hiệu suất của hợp chế. Nếu nguyên thần và bản thân đều bị chế trụ thì là chế triệt để nên năng lượng cao, tầng thứ cao, như Tỵ Thân, Tỵ Dậu. Nếu chỉ chế trụ bản thần thì năng lượng là vừa phải, tầng thứ là trung bình, như Tí Sửu, Mão Tuất. Nếu ám hợp mà chế, lại có thông quan thì không thể chế tận, thành ra năng lượng hiệu suất thấp, tầng thứ thấp, như Dần Hợi, Giáp Kỷ, Ngọ Tuất. Bính Tuất phát tài trăm vạn tệ. Ngọ Hợi làm chức phó cấp tỉnh. Ngọ Tuất cấp phó địa phương. (?)

2. Khắc chế: vây khắc (bao vây mà khắc) và can khắc chi có hiệu suất cao, khắc gần hiệu suất thấp. Như Tuất Thân Ngọ là vây khắc, trái phải và phía trên đều vây chế Thân kim, Thân kim bị chế chết, hiệu suất rất cao. Chú ý: Ngọ Tuất Bính và Thân không có mối quan hệ trực tiếp, nhưng vì tổ hợp bát tự mà khắc chế được Thân kim triệt để, cho nên hiệu suất rất cao. Nếu chỉ đơn giản là khắc chế thì năng lượng thấp, giống như chỉ có thể kiếm được ít cơm ăn, làm công ăn lương.

3. Xung chế: sở dĩ gọi là xung chế là vì thông qua xung nhau mà chế được nhau. Trong các mối quan hệ xung chế, quan trọng nhất là xung chế khố. Tài Quan lâm khố, không xung thì không phát, cho nên chỉ nếu có thể gặp hình xung thì mới hữu dụng, như Sửu Mùi, Thìn Tuất xung. Xung khố thì năng lượng cao, vì chế được triệt để, đại khái nếu phát tài thì phát ức tệ, còn phát quan thì cấp tỉnh hoặc trung ương, tổng giám độc, tổng thống. Loại nhân vật này hiếm, vì bát tự có bố khố, mà còn phải phát sinh mối quan hệ xung khử nhau triệt để thì mới có thể hữu dụng. Hình khố: Mùi Tuất hình, chế khử Tân kim, có thể phát tài vài trăm vạn; Sửu Tuất hình, Tuất chế Sửu triệt để, phát vài ngàn vạn hoặc ức vạn.

Tí Ngọ Mão Dậu, Dần Thân Tỵ Hợi xung thì nhất định trong bát tự phải hình thành thế lực, như hai xung một, ba xung xung, hoặc vượng xung suy, như vậy thì mới có thể xung thương, xung khử đối phương, lúc đó mới chế thành công. Như một xung một, hai phương lực lượng không hơn kém nhau bao nhiêu thì gọi là xung động, tức là đối kháng, tiêu háo năng lượng của đối phương mà không có ý nghĩa gì. Cho nên chỉ có thành thế mà xung thì mới phát huy được khả năng xung thương xung khử, mới là xung có ý nghĩa.

4. Năng lượng của chế, hoá, tiết

A. Chế: muốn chế thì phải có đủ lực lượng và năng lượng để thắng đối phương, như vậy mới thành công, cách cục như vậy mới cao. Chế là cao nhất, sau đó đến hoá, rồi mới đến tiết sinh.

B. Hoá: Ấn hoá Thất Sát

C. Tiết sinh: hiệu suất năng lượng thấp nhất, cách cục thấp, bởi vì phải sử dụng năng lượng của bản thân mà tiết sinh thì làm sao mà tự mình sinh ra vài ngàn vạn, vài ức tệ nổi, giống như Thương Quan sinh Tài, bình thường chỉ phát khoảng chục vạn, trăm vạn tệ.

5. Hung thần, cát thần và thành tựu

A. Hung thần: Sát, Thương, Kiếp, Nhẫn, Kiêu (sai một ít -??), hung thần là dụng thần thì cách cục cao. Những nhân vật lớn rất nhiều người có bát tự thuộc dạng hung thần được chế hoá. Người như vậy thì linh hoạt, có khả năng ứng biến, khả năng thích ứng cao, không từ thủ đoạn để đạt được mục đích, cho nên mới có thể thành công.

B. Cát Thần: Tài, Quan, Ấn, Thực là dụng thì thành tựu cũng thấp, làm người quá chính trực, cho nên bị hoàn cảnh xung quanh và tự thân ước thúc.

PHẦN 20: CHÍNH DỤNG, PHẢN DỤNG

1. Chính dụng: gọi là chính dụng là chỉ Thể tại chủ vị chế Dụng tại khách vị, là cách cục khá qui củ, cũng chính là nói nhật chủ là người có qui củ, hành động theo thói thường, là người giống bao nhiêu người khác.

2. Phản dụng: gọi là phản dụng là vì Dụng chiếm chủ vị, Thể chiếm khách vị, âm dương sai vị, cho nên Dụng tại chủ vị phản chế Thể tại khách vị, thành ra gọi là phản dụng. Loại mệnh cục này là loại không theo những lí lẽ thông thường, cũng chỉ nhật chủ là người có hành vi không giống những người thường. Nếu như tổ hợp bát tự tốt, thì nhật chủ có tài hoa và trí tuệ đặc biệt.

Càn: Mậu Thân – Kỷ Mùi – Quý Tỵ – Kỷ Mùi

Tạo này Dụng chiếm chủ vị, chế khử Thể tại khách vị, cũng là nói hỏa thổ thành thế, chế khử kim thuỷ, chế tận nguyên thần bản thần tại niên trụ, chắc chắn là mệnh đại phú quý. Nhật chủ là chủ một công ty môi giới chứng khoán. Dùng năm năm thời gian tích luỹ mười mấy ức tệ. Loại người này dĩ niên là phải có tài năng đặc dị, thông minh dị thường, lại có thủ đoạn không giống người thường.

Alan Greenspan: Bính Dần – Tân Mão – Giáp Ngọ – Quý Dậu.

Mộc thành thế chế kim thuỷ. Ngọ hoả chế Dậu kim thì hiệu suất thấp, không ra dạng gì. Tuy nhiên Tân kim hư thấu tại nguyệt trụ bị bính hoả chế tận, đại cát. Vận Đinh Dậu, thiên địa chế, rất lợi hại. Vận Mậu Tuất, Tân kim trong Dậu đến Tuất nên bị Ngọ chế, càng lợi hại.

Lý Bằng: Mậu Thìn – Nhâm Tuất – Quý Tỵ – Nhâm Tuất

Vận: Quý Hợi – Giáp Tí – Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ – Canh Ngọ

Hoả thổ thành thế, Tuất thổ Quan tinh chế khử Kiếp Tài khố, Kiếp Tài khố đến khách vị mà bị chế khử, nên là phản dụng, năng lượng hiệu suất cực cao. Tuất không chỉ là Tài khố, mà còn là Quan, chế khử Kiếp Tài khố. Tài lâm khố, cha mất sớm. Không cần quan tâm là Chính Tài hay Thiên Tài, đặc biệt là khố tại niên, nguyệt, thời; nhưng Tuất là dụng thần lớn nhất, tuy cha mất sớm, nhưng lại chiếm nguyệt lệnh Tuất, nên cũng là phúc cha để lại. Bệnh của bát tự là do có đến hai Nhâm nên không thể chế triệt để. Vận Thìn của vận Mậu Thìn, kị thần đáo vị bị chế nên cát, làm chức tổng giám đốc. Vận Canh sinh kị thần Nhâm thuỷ nên đi xuống.

Càn: Bính Ngọ – Tân Sửu – Kỷ Mão – Tân Mùi.

Vận: Nhâm Dần – Quý Mão – Giáp Thìn – Ất Tỵ – Bính Ngọ – Đinh Mùi – Mậu Thân – Kỷ Dậu

Đây là bát tự của thư kí Thành Uỷ thành phố Thiên Tân, sau lên chức thị trưởng vào năm 1906. Hoả thổ khử kim thuỷ. Vận Giáp Thìn, Giáp Kỷ hợp, Thìn hại mão, ngồi tù mười năm. Vận Bính Ngọ, Đinh Mùi, chức vị của người này rất cao. Vận Mậu Thân, bị đả đảo trong cuộc đại cách mạng văn hoá, vì Tài lâm khố không xung thì không phát.

Bác Nhất Ba: Mậu Thân – Giáp Dần – Tân Mão – Quý Tỵ

Vận: Ất Mão – Bính Thìn – Đinh Tỵ – Mậu Ngọ – Kỷ Mùi – Canh Thân – Tân Dậu – Nhâm Tuất – Quý Hợi

Phản dụng, là người có thủ đoạn phi thường. Chủ vị dụng Tài tinh chế khử Thể Kiếp Tài tại khách vị. Tỵ Thân hợp, Tỵ Thân hợp có mục đích cuối cùng là chế, nên Kiếp Tài bị Tài chế. Nguyệt lệnh là Tài siêu cấp, dùng Thân kéo vào chủ vị, nên là mệnh làm quan, làm chức quan cao nhất chuyên môn quản lí tiền bạc. Mão là cung phối ngẫu chính, Dần là cung phối ngẫu phụ, lại là Tài, cho nên có hai vợ. Li hôn người vợ thứ nhất. Dần hình Tỵ, cung con cái bị thương, con trai chết. Thực Thần là tài ăn nói, nhược bị chế nên có tài ăn nói rất tốt. Vận Thìn, thu thuỷ khí nên thuỷ không bị chế, đồng thời hình dụng Thần Mão, lại hối hoả sinh kim, nên ngồi tù 5 năm. Vận Bính bị bắt, vì lấy lí do là bản thân chỉ là người buôn bán nhỏ nên 2 lần bị bắt đều được thả. Vận Thìn không tiếp tục gạt được nữa nên phải ngồi tù. Vận Đinh kháng chiến bắt đầu, tội phạm chính trị được thả, nên bản thân được tự do. Vận Đinh Tỵ thành vị lãnh đạo trẻ tuổi nhất. Vận Canh Thân, can chi nhất khí, thiên thấu địa tàng, chế không được nên hung, bị đả đảo trong cuộc đại cách mạng văn hoá. Vận Tân Dậu, trở lại chính trường. Vận Nhâm Tuất, đạt đỉnh cao quyền lực; nguyên tự bát cục khử kim thuỷ, Nhâm thuỷ hư thấu nên cát, là ứng kì của việc cát trong bát tự, nên thành Phó viện trưởng Viện Quốc Vụ, quản lí nhân sự.

Càn: Giáp Thân – Đinh Sửu – Tân Tỵ – Nhâm Thìn

Vận: Mậu Dần – Kỷ Mão – Canh Thìn – Tân Tỵ – Nhâm Ngọ – Quý Mùi

Phản dụng, khử Quan. Thân hợp Tỵ Quan, Thân Kiếp lại nhập Sửu khố, vì Sửu là Quan khố. Kim thuỷ có thể khử triệt để Quan tinh kị thần, nhật chủ có thể làm quan, nhưng Tài tinh lại không thể bị khử hết, thành ra là bệnh của bát tự. Nhật chủ là Bí Thư, có danh khí rất lớn. Vận Ngọ không tốt. Vận Quý có danh khí lớn; Quý trong Sửu thấu ra cùng Sửu thành một chữ. Quý thuỷ đến cũng giống như là Sửu thổ đến, cho nên vận Quý vô cùng không tốt. Vận Mùi, Mùi xung Sửu không cát lợi.

PHẦN 21: CÔNG THẦN, PHẾ THẦN

1. Công thần: thông qua tiêu háo năng lượng mà sinh ra hiệu suất, có tác dụng tốt đối với bát tự, như Thương Quan khử Quan, Kiếp Tài khử Tài đều gọi là có công.

2. Phế thần: không có tác dụng tốt, hoặc có công dụng mà không đầy đủ đều gọi là phế thần. Những nhân tài ưu tú, bát tự mỗi chữ đều là công thần. Bát tự xấu thì đa số là phế thần.

PHẦN 22: CHÍNH CỤC, PHẢN CỤC

1. Chính cục và phản cục của bát tự.

A. Chính cục: ý tứ của nhật chủ (chủ vị) nhất trí, hoà hợp với ý tứ của bát tự.

B. Phản cục: ý tứ của nhật chủ (chủ vị) tương phản với ý tứ của bát tự.

2. Chính cục, phản cục của đại vận:

Ý tứ của đại vận tương phản với ý tứ của bản thân thì gọi là phản cục. Vận như vậy là hung.

3. Phương thức biểu thị ý tứ của nhật chủ:

A. Nhật can phát sinh mối quan hệ hợp với đối tượng nào thì cho thấy nhật chủ muốn đạt được đối tượng đó. Tương tự, phát sinh mối quan hệ tương xung với đối tượng nào thì nhật chủ bài xích đối tượng đó. Tức là nhật chủ hợp là muốn có được nó, nhật chủ xung là không cần nó.

B. Mối quan hệ giữa nhật can và nhật chi.

C. Khí thế của nhật chủ.

D. Nhật chủ có chủ vị là Ấn, Tỷ, là bản thân ta thì cần có khả năng khử được Tài Quan, bởi vì Ấn Tỷ tối kị bị Tài Quan phá, phá là có tai nạn.

Bạc Nhất Ba: Mậu Thân – Giáp Dần – Tân Mão – Quý Tỵ

Vận: Ất Mão – Bính Thìn

Nhật chủ toạ có Tài, sinh Quan chế kim thuỷ Kiếp Tài, Thương Quan, nên là chính cục. Trong bát tự có mộc xung khắc Kiếp Tài, khắc Mậu Ấn; Tỵ hoả hợp khắc Thân Kiếp, hợp khắc Quý Thương, mỗi chữ đều hữu dụng, nên người này thông minh, mẫn cán. Vận Bính Thìn, Thìn hại đảo Mão mộc, tiết khử Tân hoả, nên là đại vận phản cục. Phản Quan thì sẽ tạo thành quan tai, đồng thời, thiên can Quan thấu, cho nên ngồi tù.

Càn: Mậu Tuất – Nhâm Tuất – Quý Hợi – Giáp Ngọ

Vận: Quý Hợi – Giáp Tí – Ất Sửu – Bính Dần – Đinh Mão – Mậu Thìn – Kỷ Tỵ

Mệnh cục có hoả thổ vượng ý tại khử kim thuỷ. Vận Thìn, Nhâm thuỷ bị thâu, khắc khử không hết thành ra phản cục. Vận Đinh Mão, Đinh Nhâm hợp, phá mối quan hệ Mậu khắc Nhâm, cũng có nghĩa là Đinh hoả bảo vệ cho Nhâm Thuỷ, nên là phản cục, phản cục thì tất nhiên có tai hoạ. Vận Thìn trong vận Mậu Thìn, đáng lẽ Tuất Ngọ khắc thuỷ, nhưng có Thìn thổ phá Tuất tiết Ngọ, bảo hộ cho thuỷ. Cả hai bên đều cường thế mà đối chọi nhau nên chắc chắn có tai hoạ.

Càn: Tân Hợi – Bính Thân – Kỷ Sửu – Giáp Tuất

Nhìn sơ thì là kim thuỷ thành thế, khử mất Bính hoả nên là chính cục, nhưng thực thế lại là phản cục, bởi vì Giáp Kỷ hợp, nhật chủ có ý theo Giáp Quan. Giáp Tuất lại cùng một trụ, nên cũng có thể nói nhật chủ có ý theo Giáp Tuất. Tuất là Ấn Tỷ của bản thân, càng rõ ràng đối tượng mà nhật chủ có ý theo. Để khử kim thuỷ thì tốt nhất là dùng hoả, mộc và Mậu thổ. Kim thuỷ ở khách vị thành thế, tượng là người ngoài của người ngoài (ý là người xa lạ -TK), cho nên có thể khẳng định ý của nhật chủ là muốn đạt được những gì ngoài xã hội. Tuất là Kiếp Tài, cũng là tự thân, là bàn tay (Kiếp là tay chân), nên có thể nói nhật chủ tự mình mắc tai vạ, Quan là kị thần (thân nhược mà không có Tỷ Kiếp Ấn là cát; có là phản cục là hung). Sửu Tuất hình, Tuất nhật chủ bị khử hết, nhật chủ là phường trộm cướp vặt, cuối cùng bị bắt.

Càn: Ất Dậu – Kỷ Mão – Canh Tí – Kỷ Mão

Mệnh cục có Ất Canh hợp, nhật chủ có ý muốn đạt được Tài. Đó là bản ý của nhật chủ. Nhưng các phương thức đắc tài gồm có Thực Thần sinh Tài, tòng Tài, mà không phải trực tiếp đắc Tài. Ất toạ Dậu, Ất Canh lại hợp, Canh chuyển toạ sang Dậu, thành là Kiếp Kiếp Tài, làm bị thương Kiếp Tài. Hơn nữa Dậu xung Mão cũng là Kiếp Tài (Ất Canh hợp, Dậu biến thành bản thân ta), đồng thời Tí Mão hình, nhật chủ có cừu hận với tài, nên bất hoà, cũng là tượng vì Tài mà phạm hình, dẫn đến tai hoạ. Đây rõ ràng là phản cục; mệnh cục có ý tòng tài, mà bản thân lại khử Kiếp Tài, cho nên nhật chủ có cách thức kiếm tiền không phù hợp. Dậu là chân, cũng có nghĩa là xe đạp, xe gắn máy, nên phương thức kiếm tiền của nhật chủ là phải di động, trộm, cướp. Nhật chủ chuyên trộm xe đạp và xe máy.

Càn: Quý Mùi – Bính Thìn – Mậu Tuất – Bính Thìn

Mậu Quý hợp thì ý tứ chính là bản thân muốn dụng Tuất xung Thìn mà đắc tài, đây cũng là ý tứ của nhật chủ. Nhưng ý tứ của mệnh cục lại là Thìn vượng thâu thuỷ khí xung Tuất, thương khắc Ấn tinh, cho nên người này không còn chỗ dựa. Ý tứ của mệnh cục và ý tứ của bản thân tương phản nhau, cho nên lí tưởng khó thành. Cho nên cả đời không làm được gì, Mậu Quý hợp nên chỉ có thể sống dựa vào người khác.

Khôn: Kỷ Dậu – Giáp Tuất – Giáp Thân – Ất Sửu

Mệnh cục có kim vượng thành thế, đây là ý tứ của mệnh cục. Dậu lại hại Tuất, nên ý của Quan là không cần Tài. Ý tứ của nhật chủ là đến hợp với Kỷ, Giáp lại toạ Tuất, cho nên ý tứ của nhật chủ là muốn cầu tài. Mệnh cục có Quan Sát vượng thành thế, lại khử hại Tuất, Quan và Tài bất hoà, mà nhật chủ Giáp Kỷ hợp, Giáp toạ Tuất nên muốn khử đắc tài, thành ra phản cục. Mệnh cục kim không muốn đi cùng với bản thân tức là phải khử, cũng tức là nói ý tứ của bản thân cùng với ý tứ của Quan mâu thuẫn. Thân nhược hợp Tài, Kỷ thổ Tài tinh lại hư thấu, cho nên là người có tiền. Vận Đinh Sửu, Đinh thực tế là đại diện cho chữ Tuất trong mệnh cục, chứng tỏ đối kháng với Quan tinh, mà Quan lại vượng, nên đối kháng với Quan thì phải ngồi tù, thành ra vận Đinh ngồi tù.

Càn: Giáp Dần – Mậu Thìn – Mậu Tí – Quý Sửu

Vận: Kỷ Tỵ – Canh Ngọ – Tân Mùi – Nhâm Thân

Mậu Quý hợp, nhật chủ ý tại Tài. Quý thuỷ Tài tinh thực thấu, nhật chủ nhược nên không cát lợi, càng nghiêm trọng là Mậu thổ đối kháng Thất Sát, tất hung, cả đời bần cùng. Tài sinh Sát, Sát không có chế (Sát không có chế thì khó mà có việc làm ổn định). Vận Kỷ Tỵ, Tuất thổ thông căn, Tỵ kị thần hại Dần nên hung, là tín hiệu ngồi tù. Năm 88 Mậu Thìn phạm pháp. Năm Canh Ngọ bị phán tù 20 năm. Sau đó vì cải tạo tốt nên 13 năm được đặc xá.

PHẦN 23: ĐẠI VẬN, LƯU NIÊN, VÀ ỨNG KỲ

Xem quý tiện tại bát tự, xem ứng kỳ tại đại vận, xem cát hung tại lưu niên. Lưu niên, đại vận đại biểu ứng kỳ, cũng có bao hàm ý nghĩa là hoàn cảnh bên ngoài.

Khôn: Canh Dần – Tân Tỵ – Tân Dậu – Quý Tỵ

Vận: Canh Thìn – Kỷ Mão – Mậu Dần – Đinh Sửu – Bính Tí

Mệnh cục kim thuỷ không nhược, nhưng mộc hoả cũng không vượng, thành ra là lưỡng vượng tương tranh. Quý thuỷ có thể chế Tỵ hoả một chút. Canh kim cũng có thể khắc chế mộc. Nhưng tại địa chi hoả có nguồn mà khử chế kim. Loại mệnh cục mà 2 phe khắc chiến lẫn nhau, lại không phân được thắng bại thì là tổ hợp không tốt, đừng nói chi đến phú quý. Vận Bính Tí, Quý thuỷ nhập địa, nhập địa cần được sinh. Thực là thọ tinh, năm Nhâm Ngọ, tháng 12 bị người giết (Quý là thần đối kháng, Tí là trận địa nơi xảy ra đối kháng, nên chắc chắn tại trận địa bị phá thời điểm mà ứng tai kiếp).

Càn: Quý Sửu – Ất Sửu – Giáp Tí – Ất Hợi

Vận: Giáp Tí – Quý Hợi – Nhâm Tuất

Tí Sửu hợp, toạ lại có Ấn tinh kéo Tài tinh về chủ vị, là mệnh làm công. Năm Quý Mùi, Ấn tinh hư thấu, Mùi lại hại Tí, xung Sửu, nên Ấn bị thương. Sửu Tài bị xung khai, không tìm được việc làm, nhưng vào tháng Thân tự nhiên có được một vạn tệ. Mùi hại Tí, không tìm được việc; Mùi xung Sửu là xung động Kiếp Tài, xung khai khố, đồng thời xung động quan hệ hợp (Tí Sửu – TK), nên thu vào một vạn. Tháng Thân là lúc thuỷ vượng khử hợp.

Càn: Quý Mão – Đinh Tỵ – Đinh Tỵ – Bính Ngọ

Vận: Bính Thìn – Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu

Từ thạc sĩ học lên tiến sĩ, giáo viên hướng dẫn khi trước đối xử rất tốt với đương số, nhưng giáo viên hướng dẫn hiện tại lại không tốt. Giáp Dần giáo viên hướng dẫn đối xử tốt, là do Dần Ngọ hợp sinh. Vận Quý Sửu, giáo viên hướng dẫn đối xử không tốt, còn nói năm Quý Mùi không cho tốt nghiệp. Sửu Ngọ hại, thiên can lại là Thất Sát, chứng tỏ giáo viên đả kích bản thân, làm khó dễ bản thân. Tuy nhiên, năm Quý Mùi khẳng định là tốt nghiệp, vì Mùi xung Sửu lại hợp Ngọ; còn năm Nhâm Ngọ thì chắc chắn không tốt nghiệp vì Ngọ đến chủ vị. Thực tế cho thấy hai lần bảo vệ luận án đều không thông qua, sau này phải dụng mưu mới được thông qua.

Càn: Nhâm Dần – Mậu Thân – Bính Thân – Nhâm Thìn

Vận: Kỷ Dậu – Canh Tuất – Tân Hợi – Nhâm Tí – Quý Sửu

Mệnh cục này phản dụng. Chủ vị Dụng Tài tinh xung khử Thể Ấn ở khách vị. Thân chế triệt để Dần, trong Dần lại có mộc hoả là Ấn Tỷ, đồng thời Dần tại niên trụ, cho nên là mệnh phú quý, cách cục cao, là người nắm trong tay ức vạn tệ. Nhâm là từ Thân mà thấu xuất ra, là ngưu nhĩ (điển cố: khi xưa chư hầu cắt tai trâu lấy máu ăn thề – TK), là cát lợi. Năm Đinh Sửu, Đinh Nhâm hợp nên không tốt. Năm Mậu Dần, Kỷ Mão đáo vị nên rất tốt. Năm Canh Thìn, Tài tinh dụng thần thấu mà lại có nguồn, nên là năm tốt đẹp nhất. Năm Tân Tỵ thiên địa hợp cùng nhật chủ, cũng giống như Thân Tỵ hợp, không cát lợi. Năm Nhâm Ngọ, Ngọ xung khử Tí không cát. Năm Quý Mùi, hại đảo dụng thần nên cũng không tốt. Năm Giáp Thân, Thân đến thì tốt; năm này thị trường cổ phiếu tăng điểm; nhưng cũng có chỗ không tốt là Thân xung Dần, nhưng Giáp từ lâu đã hư phù nên khử không hết. Thực tế tình huống: nhật chủ là chuyên gia môi giới chứng khoán ở Bắc Kinh. Năm Đinh Sửu, phát tài 200 vạn. Năm 1998-2000 phát tài lớn đến 48 ức, nhưng nhật chủ cho biết thật ra kiếm được đến 50 ức. Từ năm Tân Tỵ trở đi, thị trường cổ phiếu hạ nhiệt. Năm Nhâm Ngọ chỉ có khoảng 30 ức. Năm Quý Mùi chỉ có khoảng 20 ức. Người này vận mệnh lên xuống gắn liền với thị trường chứng khoán. Năm nay là năm cuối cùng của vận Tí. Vận Quý Sửu, năm Ất Dậu, Thìn Dậu hợp trói, Thìn không sinh Thân nên không tốt. Năm Bính Tuất, thị trường cổ phiếu lên trở lại, Tuất xung khai thuỷ khố, Nhâm là Tài (Nhâm từ chi Thân thấu xuất), nên phát tài lớn. Quý không bằng Nhâm, Nhâm là tinh hoa của Tài, nên Nhâm thấu mà đáo vì thì cát. Quý hợp Mậu bị trói nên không cát, bởi vì Bính cũng như Mậu, mà Mậu là nhật chủ.

Càn: Nhâm Dần – Tân Hợi – Bính Thìn – Đinh Dậu

Vận: Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão

Tạo này là cấp dưới của tạo phía trên, là mệnh giàu có, có đến hơn 5.000 vạn. Mệnh này phản dụng. Hợi hợp Dần, khử hoả trong Dần. Hợi Tí nhập khố tại nhật chi, còn Thìn khố là khố của bản thân. Đinh Nhâm hợp khử thiên can Kiếp Tài. Nhật chủ tòng Sát, Sát nhập Thìn khố, cho nên bản thân đắc Sát. Thìn Dậu hợp, có ý bế khố một chút. Vận Ất Mão, Mão xung Dậu, Thìn Mão không hợp, nên khai khố. Dậu là Tài, Thìn thu Dậu kim, nên mệnh này vô tay mấy chục vạn. Đây chủ yếu là do nguyệt lệnh Hợi thuỷ nhập Thìn khố, cho nên tài sản mệnh này mới đến vài ngàn vạn. Tân Hợi, Tài tinh thấu sinh Quan khử Kiếp, cho nên xem Quan là Tài. Chú ý Tài này là đến từ thời chi, có nghĩa là Tài bị thu mà hữu dụng. Dụng Sát chế Kiếp mà đắc Tài, cho nên có tín hiệu là được ông chủ cho tiền mà phát tài, thực tế cũng chính là như vậy.

Khôn: Tân Hợi – Giáp Ngọ – Nhâm Ngọ – Ất Tỵ

Vận: Ất Mùi – Bính Thân – Đinh Dậu – Mậu Tuất

Mệnh này phản dụng. Tài tại chủ vị hợp chế Tỷ tại khách vị. Hợi thuỷ có nguồn, Tỵ Ngọ hoả khử không hết thuỷ. Vận Đinh Dậu, Ấn tinh Tân kim, thiên can địa chi đều bị chế nên phát tài, bởi vì Hợi thuỷ bị hợp chế triệt để.

Khôn: Giáp Tí – Quý Dậu – Giáp Tí – Quý Dậu

Vận: Nhâm Thân – Tân Mùi – Canh Ngọ – Kỷ Tỵ – Mậu Thìn

Đứa bé này khá thông minh, học tập xuất sắc, đạt giải Ba tại Thế Vận Hội, được tuyển thẳng vào trường Đại học Bắc Kinh. Hoá Quan triệt để, Ấn là học vấn, Thuỷ đa thì mộc trôi, nhưng hiện tại nhất thiết không có điều gì hại cả.

Càn: Ất Mùi – Kỷ Sửu – Đinh Dậu – Canh Tí

Vận: Mậu Tí – Đinh Hợi – Bính Tuất – Ất Dậu – Giáp Thân – Quý Mùi

Tài khố xung khử Tỷ Kiên khố, là mệnh làm quan quản lí tiền tài. Dậu bị Sửu hợp đến khách vị, nên quản lí tài vật cho đất nước. Người này là giám đốc ngân hàng cấp thành phố. Tài khố xung khử Tỷ Kiên khố, Dậu nhập khố tức là quản Tài. Tí Sửu hợp, Tí là Quan, Quan bị hợp về Tài khố, tất nhiên là làm quan mà là quan quản lí tài vụ, nên là giám đốc ngân hàng. Vận Ất Dậu có thăng chức. Năm Tân Tỵ đề bạt, năm Nhâm Ngọ chính thức thăng chức.

Càn: Canh Tí – Bính Tuất – Nhâm Thân – Đinh Mùi

Vận: Đinh Hợi – Mậu Tí – Kỷ Sửu – Canh Dần – Tân Mão

Tài mang khố không xung trọc, khử Ấn cách. Thân vượng Tài vượng, Tài hợp thân nên là mệnh giàu. Vận Canh Dần, Ấn đáo vị bị khử nên cát. Mua một miếng đất 50 vạn, bán ra giá 500 vạn, lại mua vào bán ra liên tục, cuối cùng tự mở công ty xây dựng cơ sở hạ tầng. Năm Quý Mùi, trong cát có hung, kiếp Tài thấu tiết Ất khắc Tài hộ Ấn, nhưng địa chi Mùi là cát, nên năm này khó xoay vòng vốn.

Càn: Nhâm Dần – Canh Tuất – Nhâm Ngọ – Mậu Thân

Vận: Tân Hợi – Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão

Phản dụng, khử Ấn. Canh Ấn thấu tại nguyệt trụ, hư phù nên có thể khử triệt để. Tài và Sát khử Ấn, khử cái gì thì dựa vào cái đó. Tài khố là Tuất, nên dựa vào nuôi chó kiểng kiếm tiền. Năm Quý Mùi, Ngọ Mùi hợp không quá tốt, năm này trong lúc cho chó giống giao phối, con đực và con cái đều bị bệnh, nên chỉ kiếm được 40 vạn. Từ năm Tân Tỵ bắt đầu phát tài. Năm Giáp Thân, Giáp hư thấu nên bình thường.

Càn: Canh Dần – Giáp Thân – Nhâm Dần – Bính Tuất

Vận: Ất Dậu – Bính Tuất – Đinh Hợi – Mậu Tí – Kỷ Sửu – Canh Dần

Thực khử Ấn cách. Vận Sửu phản cục nên bị tai nạn liên quan đến pháp luật. Vận Kỷ Sửu 10 năm không tốt. Năm Nhâm Thân bị buộc bãi nhiệm, bị mấy lần tai nạn xe cộ. Năm Ất Hợi bị lừa 100 vạn. Hợi hợp Dần diệt hoả. Vận Canh Dần lại làm quan. Năm Quý Mùi, Dần mộc nhập mộ, Mùi Tuất hình nên là việc tốt, nhìn thấy tài, nhưng tiền lại không đến tay, bởi vì năm này có một dự án rất tốt, hầu như là chỉ cần ngồi không là thu được tiền, nhưng vì không đủ vốn nên không làm được.

Càn: Đinh Dậu – Canh Tuất – Tân Dậu – Ất Mùi

Vận: Kỷ Dậu – Mậu Thân – Đinh Mùi – Bính Ngọ – Ất Tỵ – Giáp Thìn

Càn: Nhâm Tí – Canh Tuất – Tân Sửu – Ất Mùi

Vận: Tân Hợi – Nhâm Tí – Quý Sửu – Giáp Dần – Ất Mão

Hai người này làm nghề giống nhau, đều là chủ công ty trang trí nội thất. Tạo sau tốt hơn tạo trước rất nhiều.

Tạo trước Tuất Dậu hình, mà Đinh lại thấu chế thân, nên có tượng hình ngục. Vận Bính trong vận Bính Ngọ, năm Bính Tí, hành hung ba kí giả Tân Hoa Xã tại Sơn Tây, đã bị đánh còn bị người ta kiện, không bị kết tội (?), ngồi tù 1 năm. Trong thổ có Tài, nên làm nghề trang trí. Vận Mùi trong vận Đinh Mùi tài vận tốt. Vận Bính xấu. Vận Bính Ngọ, Bính Tân hợp, ngọ Mùi hợp không tốt, hợp khử mất dụng thần. Vận Bính, năm Giáp Tuất, Tuất Dậu hại, mấy trăm vạn từ trước kiếm được đều bị thua hết. Tuất hại Dậu, Tuất hình Mùi, xung khố đều không tốt. Thân vượng Tài nhược, xung khố thì Tài bị hư hại. Năm nay vừa sang vận Ngọ. Năm Tân Tỵ tốt, thầu được công trình. Năm Nhâm Ngọ, Quý Mùi kiếm được bao nhiêu tiêu xài bấy nhiêu. Tuất là bệnh nặng của bát tự, nhưng cũng nhờ có Tuất mà phát tài, bởi vì nếu không có Tuất đến hình thì Tài khố không mở, không phát tài được. Nhật chủ là người có gan lớn. Tuất hình Dậu, ông bà có người đã qua đời. Đinh Dậu, Đinh hoả toạ tử địa, cho thấy Đinh hoả là đối tượng đã qua đời. Đinh hoả là Thất Sát, chính là chỉ ông nội. Thực tế là ông mất, bà cải giá, Dậu phục ngâm là cải giá, từ Sơn Đông cải giá gả về Đông Bắc. Người này không được hưởng phúc cha. Cha là người có chức vụ, hơn 50 tuổi đã mất, bản thân không được trợ giúp gì. Tuất hại cung hôn nhân là Dậu, hai lần kết hôn. Vận nào sẽ nảy sinh vấn đề? Đinh hoả xuất hiện là lúc có vấn đề, bởi vì Đinh cũng xem như là Tuất. Năm Ất Sửu ly hôn. Phu thê cung bị hại, nên không giữ được vợ đầu. Người vợ hiện tại không tổ chức lễ cưới, đã có con chung. Chừng nào mới kết hôn? Phải qua 44 tuổi mới có tín hiệu hôn nhân. Quan vị phục ngâm, vợ đầu đem con sang Nhật. Phục ngâm nghĩa là đi mất, không có nghĩa là chết.

Tạo thứ hai toạ khố xung Tài khố, lại hợp khắc Tí thuỷ là nguyên thần của Tài, cho nên là mệnh đại phú. Vận Sửu là ứng kì đến, phát tài vài ngàn vạn.

Càn: Canh Thân – Đinh Hợi – Quý Sửu – Bính Thìn

Vận: Mậu Tí – Kỷ Sửu – Canh Dần – Tân Mão – Nhâm Thìn

Đinh Hợi, Nhâm thuỷ hợp chế khử Đinh Tài, Hợi Sửu đều nhập Thìn khố, Thìn là Quan, phía trên lại có Bính Tài, nên nhật chủ là lãnh đạo xí nghiệp, bởi vì Thìn tại chủ vị, lại hợp nhật can Quý, cho nên là tự thân tại có vị trí quản lí tại xí nghiệp. Đinh Hợi tại nguyệt trụ, bị chế tận nên là đại Tài, cho nên đây là mệnh phát đại tài. Nhật chủ làm việc tại công ty của dì, cùng dì hợp tác làm ăn, tiền hùn vốn là do gia đình giúp đỡ, tức là dựa vào sự giúp đỡ của cha mẹ. Nguyên do là Hợi dụng thần tại nguyệt trụ. Vận Canh Dần, năm Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ thu nhập tốt. Thìn là ứng kì, còn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ thì Tài đáo. Canh hư thấu thì tốt, bởi vì chế vô dụng, nên Tài bị chế, hỷ Tài đắc căn mà biến vượng. Năm Quý Mùi, Sửu Mùi xung cũng không tệ. Sửu nhập Thìn khố, nhất định hùn hạp làm ăn với người khác, bị người khác quản lí, vì Thìn là Quan mà lại hợp nhập nhật chủ. Tốt nhất là vận Nhâm Thìn. Thìn dụng thần đến, lại có Đinh Nhâm hợp, tức là hợp trụ kị thần, cũng tức là ứng kì đến. Năm Giáp Thân, xí nghiệp mở rộng qui mô, Thân xung Dần, dẫn động nguyên thần Tài là Thực Thần nên mở rộng qui mô, nhưng cũng có chỗ xấu là Dần Hợi hợp, hợp trói, nên xoay vòng vốn khó khăn. Năm Ất Dậu không tốt, Dậu hợp Thìn, dụng thần bị hợp không cát lợi. Năm Bính Tuất, Thìn Tuất xung nên tài vận tốt. Năm Đinh Hợi, Hợi hợp Dần, diệt hoả không lợi, hung. Năm Mậu Tí Thiên địa hợp không tốt. Hôn nhân thì xem cung thê Sửu nhập Thìn mộ, phải xung khai Thìn mới có khả năng kết hôn, cho nên năm Bính Tuất kết hôn. Năm Quý Mùi, Mùi xung Sửu là xung đi mất nên lại không kết hôn.

Càn: Quý Sửu – Kỷ Mùi – Quý Sửu – Nhâm Tuất

Vận: Mậu Ngọ – Đinh Tỵ- Bính Thìn – Ất Mão – Giáp Dần – Quý Sửu

Thất Sát vượng mà không có chế, cả đời không làm quan, đường làm quan không thành công. Tuất là Tài khố bị xung khai, Sửu hình Tuất diệt Tài, Mùi bị sửu xung thành ra vô lực. Cha là Sát, cha đối với nhật chủ rất nghiêm khắc. Thất Sát vượng không có chế, nên đường học vấn cũng bất lợi. Thời niên thiếu, Tài cần chế, nhưng Tài lại vượng, học tập không tốt, ham chơi trốn học. Thê cung gặp xung lại gặp hình, hôn nhân muộn. Sửu hữu dụng nên hôn nhân không tệ. Năm 23 tuổi vận Bính Thìn tốt. Tài là kị thần hư thấu nên cát. Bính toạ Quan địa, nên có công việc thu nhập tốt. Thìn Tuất xung, Tài trong Tuất bị chế, nhưng vì Thìn thổ đại vận nên là ngoại lai, nên Thìn đại biểu người ta, người ngoài, chứ không phải là bản thân mình, cho nên không phải mình phát tài mà là xí nghiệp nơi mình công tác phát tài. Vận Thìn, Sửu nhập Thìn khố, cung phối ngẫu bị thu mất, hôn nhân không thành. Năm 33 tuổi khởi vận Ất Mão không tệ, vì Thực Thần chế Sát. Ất từ trong Mùi mà thấu ra, là vận trung bình, công việc ổn định, nhưng lại không phát tài. Vận Giáp Dận, Thương Quan chế Sát, củng Tài không tệ, được làm quản lí xí nghiệp. Vận này tốt hơn so với vận Ất Mão. Năm 53 tuổi vào vận Quý Sửu tốt nhất. Sửu đáo vị, Sửu hình Tuất, chế Tài khố, là mệnh có trong tay vài trăm vạn. Năm Nhâm Thân, Quý Dậu tham gia công tác. Năm Bính Tí, Đinh Sửu công việc có chuyển biến tốt, được điều động lên vị trí cao hơn. Năm Canh Thìn, Thìn Tuất xung, xung Kiếp Tài khố, thu nhập tăng nhiều. Năm Tân Tỵ, có tiền từ bên ngoài đến. Bính Tân hợp, Tân từ mệnh cục thấu, nên là tự thân. Năm Nhâm Ngọ, Sửu Ngọ hình, không thuận, phạm tiểu nhân. Năm Quý Mùi, Thất Sát xung địa, cùng bản thân bất hoà, đối với bản thân có ý kiến phê bình, làm nhiều mà không được bao nhiêu. Tình huống hôn nhân: năm Quý Dậu, Nhâm Thân, có ý dạm hỏi, nhưng không thành vì Tài bị hợp; Năm giáp Tuất khẳng định chia tay, sau đó sẽ gặp đối tượng. Năm Tân Tỵ cũng có đối tượng nhưng không thành. Năm Giáp Thân, Giáp Kỷ hợp, Thân Thìn củng, Ấn tinh củng Quan tinh, được lãnh đạo tin dùng. Thân Thìn củng lộc, là chỉ tự thân mình được lợi, công việc tốt, lãnh đạo đối với mình tốt. Vận Ất Mão, năm Ất Dậu có dạm hỏi, cung phu thê hợp. Năm Bính Tuất kết hôn, nhưng cũng là một năm khá cực khổ, vì Tuất Sửu Hình. Năm Đinh Hợp tốt, có thể có tiền tài từ bên ngoài đến, ngoài ra vợ cũng có khả năng có thai. Đinh hoả là cung con cái, nên là có thai. Năm Mậu Tí, hợp trói, công tác không thuận. Năm Tân Mão, Mão Tuất hợp, bế Tài khố, công tác bị điều chỉnh, không tốt. Năm Giáp Ngọ, Ngọ Sửu hại, Mão phá Ngọ, Đinh Tài dẫn xuất ra, thụ chế nên không tốt. Năm Bính Thân đổi vận, tốt. Vận Quý Sửu bắt đầu làm mua bán trên biển, tài vận tốt. Tổ tiên vốn di chuyển từ vùng Tứ Xuyên đến Bắc Kinh là nơi ở hiện tại.

HÌNH MINH PHÂN THỤ KHOÁ:

1. Cách sử dụng đặc thù của chi Tuất

A. Tuất là Thương súng, đại biểu kho sung, tức là người có mang súng, dễ bị xử bắn.

Càn: Mậu Tuất – Nhâm Tuất – Tân Hợi – Giáp Ngọ

Vận: Mậu Thìn

Nhật chủ là hán gian. Vận Mậu Thìn, năm 57 Đinh Dậu bị xử bắn.

Càn: Bính Tuất – Mậu Tuất – Tân Dậu – Nhâm Thìn

Tuất hình Dậu, nhưng Thìn Dậu hợp, là cục trưởng cục công an, tức là mệnh mang súng bên người.

Càn: Canh Tuất – Ất Dậu – Tân Hợi – Kỷ Hợi

Vận: Bính Tuất – Đinh Hợi – Mậu Tí – Kỷ Sửu

Tuất là súng, Dậu là bản thân, Dậu hình Tuất, Tuất tại niên chi là làm bị thương người ta. Người này dùng súng bắn chết người. Ngày 20 tháng 9 năm Quý Dậu 93, theo toan tính của cha mẹ, nhật chủ bắn chết người. Ngày 8/10 bị bắt, ngồi tù 8 năm. Người này từ lúc rất nhỏ đã ngồi tù, nguyên nhân là thuỷ vượng kim trầm. Năm Quý Dậu ngồi tù vì thuỷ đa kim trầm. Dậu là bản thân mình.

Càn: Canh Tuất – Kỷ Mão – Canh Tí – Canh Thìn

Vận: Canh Thìn – Tân Tỵ – Nhâm Ngọ – Quý Mùi

Năm Ất Hợi, Ất Canh hợp, Ất mộc xuất hiện tưởng kết hôn, có quan hệ với một người phụ nữ đã có chồng. Mệnh cục có Mão Tuất hợp, Ất có địa chi là Mão, cho nên Ất, Mão đều cùng hợp với Tuất. Năm Mậu Dần, hai người này giết chết chồng của nhân tình, cùng năm bị bắt. Năm Ất Mão 99 bị xử bắn. Ất và Mão đều cùng hợp với Canh, lại hợp với Tuất, cho nên Mậu và Canh cũng có phát sinh quan hệ, Tí Mão hình đào hoa, là vì chuyện trai gái mà phạm hình.

B. Tuất cũng là vũ trường, quán Internet

Khôn: Mậu Thân – Nhâm Tuất- Canh Thìn – Bính Tuất

Tuất tại thời trụ là nơi ăn chơi buông thả, là nơi người ra người kẻ vào (thời trụ là môn hộ), vô cùng náo nhiệt. Hoả tượng trưng cho kích tình, náo nhiệt. Mệnh này là chủ hộp đêm.

Khôn: Quý Mão – Nhâm Tuất – Đinh Dậu – Quý Mão

Là chủ quán Internet, rất có tiền. Tuất là Thương Quan, Đinh là Tỷ kiếp, là nơi đồng loại cùng thi triển tài hoa và tư duy, nên là quán Internet.

Khôn: Canh Tuất – Kỷ Mão – Canh Dần – Ất Dậu

Tuất hại Dậu, Dậu tại thời trụ là người nhỏ tuổi hoặc vai vế nhỏ hơn mình. Năm Canh Thìn em trai bị xử bắn.

Khôn: Canh Thân – Tân Tỵ – Canh Tí – Bính Tuất

Vận: Nhâm Ngọ

Tạo này không có Tuất Dậu tương hình, nên không bị xử bắn. Thương Quan là thọ mệnh tinh, bị Tuất khắc, Tỵ khắc, cho nên có tín hiệu đoản thọ. Năm Tân Mùi, tháng Giáp ngọ, thấy chó cắn dê, đuổi chó đi thì bị chó cắn chết.

2. Xem con cái

Khôn: Tân Sửu – Bính Thân – Tân Mão – Nhâm Thìn

Quan tinh bị hợp thành ra không có, nên xem con cái thì nhìn Tài Quan. Mão Thìn tương hại, Tài hại cung con cái, nên không có con cái.

Càn: Bính Ngọ – Tân Sửu – Canh Ngọ – Quý Mùi

Sửu Ngọ hình, Mùi hợp Ngọ, Quan tinh bị hại, lại bị hợp. Tinh cung đều bị thương nên không có con.

Khôn: Nhâm Thìn – Quý Mão – Bính Thìn – Mậu Tí

không có con, chỉ cần nhận nuôi một đứa bé thì sẽ sinh được con. Niên nguyệt trụ tương hình nên không sinh được con. Thìn Thìn phục ngâm, nhận nuôi một đứa thì sẽ sinh được một đứa.

Khôn: Bính Tuất – Nhâm Thìn – Giáp Tí – Bính Dần

Thương Quan trong Tuất lạc không vong, lại bị xung, nên không có con trai. Người này có hai con gái.

Càn: Quý Mão – Quý Hợi – Đinh Tỵ – Bính Ngọ

Khắc con. Có hai con trai, con trai lớn 11 tuổi chết.

3. Xem giờ sinh

A. Xem số lượng anh chị em

Tí Ngọ có một người, nhiều thì hai người. Dần Thân Tỵ Hợi, hai, ba người, nhiều thì năm người (nguyệt lệnh vượng). Thìn Tuất Sửu Mùi chỉ một người, nhiều thì phải hơn nhau ít nhất ba tuổi. Mão Dậu hai người, nguyệt lệnh vượng bốn người.

B. Nguyệt trụ thấu Thương Quan, Thất Sát thì anh em có người mất sớm

Càn: Ất Mùi – Bính Tuất – Ất Tỵ – Nhâm Ngọ

Càn: Quý Mão – Quý Hợi – Đinh Tỵ – Bính Ngọ

Đều có anh em mất sớm. Bốn, năm tuổi khắc anh em.

C. Tí Ngọ Mão Dậu là bốn phương, đầu tròn trịa, nghiêm túc đơn giản, ngủ nằm ngửa. Dần Thân Tỵ Hợi, thiên về bên trái, người thanh tú tầm thước, ngủ nằm nghiêng. Thìn Tuất Sửu Mùi, mặt tròn tròn, người to bè, nhưng không ngu ngốc, ngủ nằm sấp.

4. Xem cha mẹ

Tài Ấn gặp nguyệt lệnh là đất tử tuyệt mộ địa thì khắc cha mẹ (Tài Ấn xem tại nguyệt lệnh, Tài khắc Ấn)

Càn: Canh Tí – Mậu Dần – Bính Tí – Quý Tỵ

Tài tại niên trụ lại nhược nên cha mất sớm.

Càn: Quý Mão – Quý Hợi – Đinh Tỵ

Ấn Mão tại Hợi là tử địa. Năm 1970 Canh Tuất mẹ mất.

Càn: Mậu Thân – Kỷ Mùi – Đinh Dậu – Nhâm Dần

Tài nhược, Ấn nhập mộ, từ lúc mới sinh đã khắc cha mẹ.

5. Xem hôn nhân

A. Xem tuổi vợ chồng: mãn bàn đều là Thương Quan thì lấy chồng già. Mãn bàn là Thực Thần lấy chồng nhỏ tuổi hơn.

Khôn: Giáp Dần – Mậu Thìn – Nhâm Dần – Đinh Mùi

Thìn Quan nhập không vong, chồng sinh năm Kỷ Mùi, nhỏ hơn bản thân năm tuổi.

Khôn: Nhâm Dần – Quý Sửu – Tân Hợi – Kỷ Hợi

Thực Thương vượng, đến 32 tuổi vẫn chưa kết hôn. Xem Tài như là Quan, chồng lớn tuổi hơn nhiều mà còn ở xa, Hợi là sáu. Thực tế chồng già, ở xa 6.000 cây số.

Khôn: Canh Thân – Kỷ Mão – Đinh Mão – Mậu Thân

Ba lần kết hôn. Lần thứ nhất: Thân Thân phục ngâm, Thân đến nơi xa, đến nhà chồng ở Đài Loan. Lần thứ hai: Mão Mão phục ngâm, chồng chết. Lần thứ ba: Mão Thân ám hợp tại thời trụ là lúc về già, 80 tuổi kết hôn.

B. Xem hôn nhân chủ yếu xem phối ngẫu cung, và phối ngẫu tinh. Phối ngẫu cung và phối ngẫu tinh chạy đến đâu. Đó là yếu quyết đoán mệnh.

Khôn: Đinh Dậu – Mậu Thân – Quý Sửu – Quý Sửu

Vận: Canh Tuất

Năm Canh Tuất chồng qua đời. Người này tiện mệnh, làm buôn bán nhỏ và kỉnữ. Quan tinh nhược toạ bệnh địa, mà Ấn tinh vượng, cung phối ngẫu lại hiện hai lần nên khắc chồng. Chồng có mà cũng như không. Đinh hoả là nguyên thần của Mậu Thổ. Vận Canh Tuất, Mậu, Đinh đều nhập mộ, nên chồng chết. Tuất Dậu hại là bị xử bắn.

Càn: Bính Tuất – Mậu Tuất – Giáp Thân – Giáp Tuất

Vận: Kỷ Hợi – Canh Tí – Tân Sửu – Nhâm Dần – Quý Mão – Giáp Thìn – Ất Tỵ

Người này mệnh rất khổ. Trung niên gặp Tài Quan đều hưng vượng. Hoả thổ vượng, ý tại khử kim Sát, nhưng Tuất Thân lại không có quan hệ thân mật gì với nhau, nên khử không hết. Mệnh tiểu quan, tiểu phú. Năm Ất Mão, không được đề bạt, Tuất thổ làm khô Thân kim. Năm này Mão Tuất hợp, hợp đến nguyệt trụ Tuất, nằm viện mười tháng. Tuất là phần ngực. Vận Nhâm Dần, Dần xung khử Thân, Dần Tuất lại củng hoả khắc kim, nên được mười năm tốt. Vận Quý Mão, Mão Tuất hợp, Thân kim Thất Sát không có chế, hung; Thân kim suy, lực chế quá yếu, 2 Tuất chế không hết Thân kim. Vận Nhâm Dần xung triệt để, làm quan được mười năm. Vận Giáp Thìn, năm Kỷ Mão, vì con mà phải vào tù. Giáp Kỷ hợp, Mão Tuất hợp, đều hợp đến cung con cái, nên vì con cái mà vào tù.

Khôn: Bính Tí – Mậu Tuất – Đinh Sửu – Đinh Mùi

Mệnh này bần tiện, khắc chồng, khắc con. Tuất hình Sửu, có thể hình khai Tài k hố, nhưng Tài càng hình thì càng vượng, cho nên khử không hết, thành ra là tiện mệnh. Hình động Thực Thương khắc khử Quan Sát, nên khắc chồng.

Khôn: Ất Mùi – Ất Dậu – Bính Tuất – Kỷ Sửu

Mùi không xung khai được Sửu, vì ở quá xa. Dậu Sửu hợp, kim vượng hợp Sửu, phá Tuất, phản cục. Nhật chủ muốn khử táo kim, phản lại bị kim thương, là cùng mệnh. Hôn nhân cũng không tốt.

Càn: Canh Tuất – Canh Thìn – Mậu Thìn – Nhâm Tuất

Thìn thổ vượng tại nguyệt lệnh. Thìn Tuất xung, diệt hoả, khử khử được thuỷ, cũng không mở được Tài khố. Tài là kị thần, nhập khố nên khử không hết. Mệnh bần cùng. Hai Thìn hai Tuất lực lượng tương đương nên không thể khử hoàn toàn, địa chi bốn chi đều vô dụng. Phản cục tất nhiên là mệnh xấu.

Càn: Ất Sửu – Mậu Tí – Nhâm Ngọ – Nhâm Dần

Tuất thổ suy, Ất mộc cũng suy. Ất mộc không chế được Tuất thổ, cho nên tuy có tài hoa, nhưng một đời bất đắc chí. Mùa đông năm Canh Thì qua đời. Nếu như Ất mộc mà vượng hơn một chút, hoặc dụng Giáp mộc chế khử, thì là mệnh làm quan. Tí Ngọ xung, hơn 30 tuổi sống một mình, li thân với vợ chứ không li hôn, vì Tí Ngọ xung nhưng Dần Ngọ hợp. Năm Canh Thìn, Canh chế Ất mộc, Tuất thổ khắc bản thân nên qua đời.

C. Dần Sửu xuyên, Ngọ Dần hợp, là có tượng tranh hôn. Tuất Tỵ xuyên, Tuất tại Tỵ khó ở chung.

6. Xem Tài Quan

A. Có bệnh rõ rang, mà lại có chế, thì phúc thọ phú quý (nguyên cục có bệnh lại tự có chế, cả đời đều tốt). Cục có bệnh mà được vận chế, thì mười năm trong vận đó được phú quý. Vượng thịnh mà chế, thì dù có đến vận suy cũng không bại.

B. Tài Quan Ấn tại nguyệt lệnh bị chế, là mệnh giàu có ức vạn, viên chức trung ương. Tài Quan Ấn tại nhật trụ bị chế, là mệnh giàu có ngàn vạn, hoặc viên chức tỉnh bộ. Tài Quan Ất tại thời trụ mà bị chế, mệnh giàu có chục, trăm vạn, hoặc viên chức địa phương.

Càn: Nhâm Dần – Bính Ngọ – Ất Dậu – Ất Dậu

Dụng Ngọ chế Dậu, chế không triệt để, là cán bộ địa phương.

Càn: Bính Thân – Canh Dần – Bính Thìn – Kỷ Hợi

Kỷ thổ chế Hợi, lại có Thìn thâu thuỷ, chế không triệt để, là cán bộ địa phương.

Càn: Bính Ngọ – Đinh Dậu – Đinh Hợi – Canh Tuất

Đinh Hợi, ám hợp có chế, Tuất Hợi chế, nhưng chế không triệt để, là cán bộ địa phương.

(Nguồn: sưu tầm)

CÁCH LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

0

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

Để lập lá số TỨ TRỤ nhanh và chuẩn xác nhất các bạn vào tuvivietnam.vn. Đây là trang cung cấp công cụ và thư viện miễn phí lớn nhất Việt Nam.

1 – Các Yếu tố bắt buộc để thành lập 01 lá số
  • Ngày tháng năm giờ sinh phải là chính xác theo giờ sinh của mình. Nhiều bạn không nhớ ngày giờ sinh tự cho mình một giờ sinh là không đúng
  • Ngày sinh trên giấy tờ không liên quan đến việc lập lá số TỨ TRỤ
2- Cách lập lá số TỨ TRỤ
  • https://tuvivietnam.vn/la-so-tu-tru/ Vào mục Lập Lá Số TỨ TRỤ sau đó điền thông tin : Họ Tên – Năm – Tháng  – Ngày – Giờ Sinh
  • Click vào An Lá Số sẽ thấy được lá số.
  • Lá số được hiển thị dưới dạng ảnh nên có thể download về máy tính hay điện thoại của mình
3- Xem tứ trụ miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/diendantuvivietnam/ . Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

CÁCH LẬP LÁ SỐ TỬ VI

0

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

Để lập lá số tử vi nhanh và chuẩn xác nhất các bạn vào tuvivietnam.vn. Đây là trang cung cấp công cụ và thư viện miễn phí lớn nhất Việt Nam.

1 – Các Yếu tố bắt buộc để thành lập 01 lá số
  • Ngày tháng năm giờ sinh phải là chính xác theo giờ sinh của mình. Nhiều bạn không nhớ ngày giờ sinh tự cho mình một giờ sinh là không đúng
  • Ngày sinh trên giấy tờ không liên quan đến việc lập lá số Tử Vi
2- Cách lập lá số tử vi
  • https://tuvivietnam.vn/lasotuvi/ Vào mục Lập Lá Số Tử Vi sau đó điền thông tin : Họ Tên – Năm – Tháng  – Ngày – Giờ Sinh
  • Click vào An Lá Số sẽ thấy được lá số.
  • Lá số được hiển thị dưới dạng ảnh nên có thể download về máy tính hay điện thoại của mình
3- Xem tử vi miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/diendantuvivietnam/ . Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

THỂ VÀ DỤNG

0

Tử Vi Việt Nam – Sưu Tầm

Trong luận đoán tử vi nói chung, đặc biệt là trong vấn đề luận đoán vận hạn bằng các kỹ thuật phi tinh bắc phái nói riêng thì việc phân định thể dụng là cực kỳ quan trọng, quan niệm không rõ ràng sẽ làm cho góc độ định “tượng” để luận “sự việc” dễ sai lầm. Trong tử vi, có rất nhiều cặp thể – dụng, ví dụ như tinh diệu là thể, cung chức là dụng; cung chức là thể, cung vị là dụng; khi xem quan hệ đối đãi giữa cung A với cung B thì cung B là thể, cung A là dụng… Nhưng ở đây, tôi xin phép chỉ bàn đến vấn đề thể – dụng khi xem vận mà thôi.

Trước tiên, chúng ta nên hiểu thế nào là “Thể” và “Dụng”? “Thể” là bản thể, là tính chất, tính cách sẵn có của đối tượng. “Dụng” là sử dụng, dùng vào việc gì, dùng trong hoàn cảnh nào. Lấy ví dụ cho dễ hiểu: cái kéo – Thể của nó là sắc, nhọn, có 2 cái lỗ ở chuôi – cái đó là bản thể, là tính cách sẵn có của cái kéo. Nếu chúng ta dụng cái kéo vào việc cắt tờ giấy, cắt quần áo,… thì ta nói là thể dụng tương hợp. Nếu chúng ta dụng cái kéo vào việc cắt thịt lợn, cắt thịt bò …tuy khó hơn 1 chút, nhưng vẫn làm được thì ta nói thể khắc dụng. Nhưng nếu sử dụng kéo để cắt những vật liệu bằng gỗ hay bằng kim loại (dùng để chặt cây chẳng hạn) thì chắc chắn là không thể, khi đó ta gọi là dụng khắc thể.

Lấy con người làm ví dụ: một người tính tình sôi nổi, bốc đồng, táo bạo, nghĩa khí, liều lĩnh…. – đó là “thể” của người đó, là tính cách sẵn có của người đó. Nếu để người này làm việc trong những lĩnh vực như giáo viên, nhà nghiên cứu…thì đó là dụng khắc thể, đối với người đó sẽ tuyệt đối không hợp. Nhưng vẫn với thể tính đó, được hoạt động trong lĩnh vực như vận động viên thể dục thể thao hay công an, quân đội…thì sẽ rất hợp cách.
Ở đây, chúng ta cần hiểu rõ: có những người làm giang hồ bảo kê, ra tù vào tội nhưng họ lại làm trùm xã hội đen, làm đại ca, dưới trướng có nhiều đàn em, nhất hô bách nặc, đối với thể của họ thì dụng vào việc đó là hợp, không đem quan điểm tốt xấu của xã hội gán vào cặp thể – dụng đó một cách phiến diện, không được phân tốt xấu cát hung, chỉ hiểu rằng thể dụng tương hợp là tốt cho thể, thể dụng tương khắc là không tốt cho thể (nhất là dụng khắc thể). Ví như: làm trùm buôn ma túy mà không bị bắt đi tù thì cát hay hung? Bị bắt đi tù rồi, nhưng có khoảng 5, 6 tỷ chạy án, vào tù ở như khách sạn, cơm bưng nước rót, vậy đi tù đó là cát hay hung? Câu trả lời là tùy vào sự tương hợp, tương khắc của dụng đối với thể mà phân định cát hay hung đối với thể.

Theo vòng quay của thời gian, mười hai cung chức (mệnh, phụ, phúc, điền…) của đại vận sẽ được phân bố lại trên lá số, đại vận mệnh đầu tiên sẽ được khởi từ cung mệnh nguyên thủy, tùy theo nam nữ thuận hay nghịch lý âm dương mà chúng ta sẽ an thuận hay nghịch vòng cung chức đại vận. Lúc này, mệnh bàn nguyên thủy và mệnh bàn đại vận sẽ trở thành một cặp thể – dụng, trong đó cung chức tầng nguyên thủy sẽ là thể và cung chức đại vận sẽ là dụng.

Lấy ví dụ để phân tích: khi hóa kị đại vận xung cung đv tật ách trùng điệp với tử tức nguyên cục, chúng ta có thể hiểu: thể là tử tức, dụng vào tật ách, bị hóa kị xung nên có động biến –> ý tượng: bước vào đại vận này nữ mệnh có khả năng sinh con hoặc sức khỏe đường sinh sản có vấn đề. Ngoài ra, với tình huống trên, khi hóa kị đại vận nhập cung đại vận phụ mẫu trùng điệp với điền trạch nguyên cục, ta có thể hiểu: thể là điền trạch, dụng vào phụ mẫu, bị hóa kị nhập nên gặp dính mắc, khó khăn –> có thể luận: trong đại vận này mệnh tạo có khả năng thay đổi chỗ ở nhiều lần hoặc gặp trục trặc giấy tờ, pháp lý về vấn đề nhà cửa, đất cát.

Một ví dụ khác: khi hóa lộc đại vận nhập cung đại vận tài bạch trùng điệp với cung huynh đệ nguyên cục, ta có thể hiểu: thể là huynh đệ, dụng vào tài bạch, hóa lộc nhập là sự tăng trưởng, khởi phát –> ý tượng: trong đại vận này, đương số có khả năng hợp tác nương nhờ với anh em, bạn bè để làm ăn, có những ý tưởng kiếm tiền mới hoặc nhận được sự giúp đỡ về tài chính từ anh em. Ý tượng này sẽ rất khác nếu như hóa lộc đại vận nhập vào cung đại vận bào trùng điệp với tài bạch nguyên cục. Khi đó thể là tài, dụng vào bào, chúng ta có thể luận: trong đại vận này đương số mở rộng làm ăn, tiền bạc có sự giao dịch, luân chuyển lớn, có thể thuê thêm nhân lực…

Cùng lúc phân tích cặp thể dụng cung chức nguyên thủy – cung chức đại vận, chúng ta còn có tương tác giữa tứ hóa các tầng vận, điều đó sẽ khơi động, xâu chuỗi nhau làm ý tượng tăng lên nhiều hơn, nên càng đi sâu vào chi tiết sự việc, tính toán càng phức tạp, sai số càng lớn. Tôi đọc thấy có câu “tại sao bắt con bạn phải giải toán giỏi khi nó chạy nhanh nhất thế giới”, đôi dòng chia sẻ cùng các bạn đồng đạo, chúc các bạn học tốt!

——

Trong tử vi đẩu số, tam tài được thể hiện dưới dạng Tinh, Cung, Hóa.

Tinh là tinh đẩu.

Cung là thập nhị cung vị.

Hóa là thập can hóa diệu.

1-Tinh đẩu, chính là nghiên cứu biến động của tinh hệ, rồi kết hợp với lục cát lục sát và các thần sát.

Đỉnh cao của nó là thập nhị huyền đồ, 144 cách cục Nam Phái và tính lý của tinh đẩu.

2-Cung, tức là phi cung, được nghiên cứu dựa trên quan điểm thể và dụng.

Ví dụ, cung phu thê phi kị nhập mệnh, thì tùy vào thế mà ta xét đâu là thể, đâu là dụng để dùng phi hóa.

3-Hóa, là tự hóa, nói về biến động hậu thiên của các cung chức.

Từ đây, Tử vi đẩu số sinh ra ba môn phái chính:

Tinh Diệu kết hợp với Phi cung, tạo ra hệ thống phi tinh.

Phi cung kết hợp với Tự Hóa, tạo thành hệ thống phi hóa.

Tinh diệu kết hợp với Tự Hóa, tạo thành hệ thống Tinh Hóa.

Đây chính là nguồn gốc của lục đại hệ thống – Tử vi đẩu số.

——

Vì sao người ta thường nói, tử vi bắc phái là đệ nhất công phu về xem vận?

Tương truyền, bộ tử vi vốn có bảy cuốn ở trong cung và được dạy riêng cho quan chức để dùng người, cử hiền diệt ác. Tuy nhiên, đến một ngày, kẻ trộm vào trong cung và lấy mất 4 cuốn sách đầu tiên, thuộc về tử vi Nam Phái, và truyền ra ngoài.

Nhà vua lúc đấy mới quyết định chế tạo ra hàng trăm dị bản của bộ tử vi Nam Phái để phát tán trong nhân gian để không ai biết đâu là giả là chân. Cuối cùng, một trong những dị bản được truyền về Việt Nam và hình thành nên tử vi Việt Nam hiện nay.

Tử vi Bắc Phái thuộc ba quyển nâng cao, thì vẫn còn nguyên trong cung vua cho tới khí triều đình Mãn Thanh sụp đổ, và rơi vào tay của Tưởng Giới Thạch, sau đó lan truyền sang Đài Loan.Vì lý do lịch sử như vậy, nên không khó có thể phân định được đâu là sách vở còn nguyên gốc, đâu là ngụy thư.

Về cơ chế, Tử Vi Nam Phái với hàng trăm sao chuyên được sử dụng để xem tính cách, thành tựu chung chung của cuộc đời, nên rất dễ dàng đi lạc vào mê cung không lối thoát các tinh đẩu. Tử Vi Bắc Phái, ngược lại, chỉ sử dụng duy nhất tứ hóa để làm đường chính, kết luận chính xác thời điểm xảy ra hung cát của sự việc sau đó mới sử dụng phép hội sao trên nền cung khí để tăng thêm phần chi tiết.

Nói một cách nôm na, bạn Nam Phái sẽ làm quen tất cả các anh có thể, đi chơi, tìm hiểu rồi chọn đối tượng trong đó.

Ngược lại, bạn Bắc Phái sẽ ngồi im, lựa chọn trong tất cả các anh có thể, xem anh nào thực sự tốt nhất, giàu nhất thông qua tín hiệu là dụng thần rồi mới bắt đầu hội sao, tìm hiểu, đi chơi, rồi chốt sale để tối ưu hóa chi phí.

Chính vì vậy, việc xem đúng hạn tháng, đối với người học Nam Phái, là một cảnh giới huyền thoại, phải những người nghiên cứu 4-50 năm mới may ra có thành tựu. Nhưng điều đó lại có thể dễ dàng đạt được bởi các bạn trẻ học bắc phái dù chỉ vài tháng.

Đâu có gì lạ, anh phải đàu tư dàn trải công sức xem tất cả lá số, còn người ta chỉ cần khoan sâu vào đúng vị trí trọng điểm nơi thần tụ lại trong 12 cung, không cách biệt mới là chuyện lạ.

Vậy lập tức, sẽ có người hỏi, tôi chỉ cần xem vận, biết chuyện gì xảy ra trong tương lai, còn tôi tự biết tôi tính cách thế nào, xem làm gì cho mệt. Cần gì phải học tử vi Nam Phái?

Câu hỏi đó rất đúng, vì xét cho cùng mục đích bạn tìm hiểu tử vi là để biết chính xác cái gì xảy ra với mình để từ đó ứng xử cho phù hợp. Tuy nhiên, ngay sau khi bạn tìm hiểu và biết trước thời điểm tháng nào ngày nào xảy xa chuyện gì, bao giờ bạn cũng sẽ phải thực hiện thủ pháp hội sao Nam Phái trên nền của cục số để phân tích rõ các chi tiết của sự việc. Do đó, người học Bắc Phái, trước hết phải là một cao thủ Nam Phái.

Mặc dù vậy, nếu bạn là người học, hiển nhiên bạn không thể bỏ 50 năm cuộc đời ra để học Nam Phái, vì học một lãnh vực không bao giờ kết thúc, bạn dễ dàng lọt vào đại dương không bao giờ ra. Người học tốt nhất, nên học những kiến thức căn bản, không bị pha tạp man thư, không xuất hiện sự mâu thuẫn giữa nam và bắc phái, rồi từ đó nghiên cứu xem vận trong lúc bổ sung kiến thức nền cần thiết.

Lẽ tất nhiên, kiến thức nào sai, dùng khi khán vận quá khứ rõ nét thì lập tức hiện rõ, chúng ta biết ngay chân giả.

Nói đến đây, chúng ta lại có thể hỏi, nói như anh, thì Nam Phái không có cao thủ sao? Câu trả lời là sai, bất cứ phái nào cũng có cao thủ, và đều có t hể xem vận chính xác, tuy nhiên, giống như cầm dao kiếm để chiến đấu với người cầm súng AK, luôn có cao thủ kiếm đạo có thể chiến thắng súng đạn, tuy nhiên con số đó thực sự hiếm. Và hơn nữa, khi chúng ta sử dụng hai tay hai súng hiển nhiên sẽ mạnh hơn là chỉ dùng một súng.

Cũng chính vì vậy, trong thời gian tới, trang chúng tôi sẽ đăng tải dần các kiến thức bắc phái vốn ít được thảo luận để giúp cho cộng đồng có thêm cái nhìn toàn cục.

Mong các bạn đón đọc.

——–

LỘC TÙY KỊ LAI

Đi qua màn đêm ta lại thấy ánh Mặt Trời

每个人的一生都注定要在沟沟坎坎中跋涉,品尝苦涩与无奈,经历挫折与失意。痛苦,是人生必须经历的一课。在漫长的人生旅途中,苦难并不可怕,受挫折也无须忧伤。只要心中的信念没有枯萎,你的人生旅途就不会中断。在这段异常艰难的时光中挺过来的人,人生就会豁然开朗;挺不过来的,时间也会教会你怎么与它们握手言和,所以你不必害怕。

Cuộc đời mỗi người đều đã định phải trải qua rất nhiều kiếp nạn, nếm trải vị đắng và cảm giác vô vọng cũng như vượt qua những khó khăn cùng thất bại. Đau khổ chính là bài học mà bất kì ai cũng phải trải qua. Trên hành trình dài của cuộc đời khó khăn chẳng có gì đáng sợ. Có trở ngại cũng không cần phải lo lắng, chỉ cần ngọn lửa niềm tin trong bạn vẫn cháy, hành trình cuộc đời bạn sẽ không bao giờ bị gián đoạn.

Trong những năm tháng vô cùng gian nan ấy, nếu ai vượt qua được, cuộc đời sẽ như được mở sang trang mới; những ai không vượt qua được, rồi thời gian cũng sẽ dạy cho bạn phải làm như thế nào để chấp nhận nó.

Vậy nên, bạn đừng sợ hãi nhé. Bạn của tôi.

–Trích: Lộc tùy Kị lai—-

(Chép từ Fanpage Tử Vi Bắc Phái)

(Chép lại từ Fanpage Tử Vi Cổ Học)

Sự khác nhau giữa hóa nhập và hóa xuất trong tứ hóa bắc phái

0
Sự khác nhau giữa hóa nhập và hóa xuất trong tứ hóa bắc phái

Chương này muốn cùng mọi người bàn luận về cái gì gọi là [Xuất]? cái gì gọi là [Nhập]? Đây là quan niệm nhập môn Phi tinh Tử Vi Đẩu Số, không biết rõ phương pháp sử dụng của [Nhập] và [Xuất] thì không còn cách nào tiến vào phần cốt lõi của Phi tinh Tử Vi Đẩu Số. Bởi vì những thứ ấy là quy tắc vận chuyển của Tứ Hóa, nếu như quy tắc cơ bản cũng không hiểu thì sao có thể vận dụng Phi tinh Tử Vi Đẩu Số để suy đoán vận mệnh.

Tử Vi Việt Nam – Sưu Tầm

Trong các sách bày bán trên phố thì có khả năng các vị từng xem qua suy đoán: “Năm gặp Kị xung hoặc tọa Kị thì coi chừng phát sinh các chuyện như tổn thất tiền tài, sự nghiệp thất bại, thân thể tổn thương”. Thế nhưng sau khi trải qua năm đó vẫn tung tăng vui vẻ, suôn sẻ cực kỳ. Vì sao suy luận và thực tế lại sinh ra sự khác biệt lớn như vậy? Ắt là bỏ quên sự khác biệt giữa [Nhập] và [Xuất].

Cho nên, đối với người học Tử Vi Đẩu Số thì Hóa Nhập và Hóa Xuất là quan niệm rất quan trọng. Nhưng, cái gì gọi là [Xuất]? cái gì gọi là [Nhập]?

Giả như đem 12 cung vị trên lá số, căn cứ theo mối quan hệ giữa chúng với ta có tính gắn bó hay không để mà chia làm Tha cung (cung của nó) và Ngã cung (cung của ta). Như thế thì, một cung nào đó (lấy cung X để gọi) có Hóa nhập vào cung vị của ta, thì gọi là [Hóa Nhập]. Hóa Nhập vào cung vị của ta thì đương nhiên những sự việc được chủ bởi cái cung X đó [là cái ta nhận

được, là cái ta dụng được], là ý nghĩa cát lợi. Nếu mà cung X hóa nhập cung vị của nó, tức là [Hóa Xuất], ý nghĩa như tên gọi, đó là những sự việc được chủ bởi cái cung X đó lại bị người khác đoạt được, hay được sử dụng vì người khác, thế thì đối với ta chính là cái hàm ý [tổn thất, không chiếm được]. Vì vậy phân chia rõ ràng sự khác biệt của [Xuất] và [Nhập], mới biết được Tứ Hóa của cái cung X đó phi ra thì đối với ta mà nói là ý nghĩa cát hoặc hung.

Phi tinh Tử Vi Đẩu Số dùng các cung vị gồm cung Mệnh – Tài – Quan – Điền – Phúc – Tật, vì có sự gắn bó chặt chẽ với ta nên các cung vị của [Ta] được gọi là [Ngã Cung] (nghĩa là cung của ta).

Còn các cung như Nô – Bào – Phối – Tử – Phụ – Thiên Di đều không thuộc về ta nên các cung vị của [nó] được gọi là [Tha Cung] (nghĩa là cung của nó).

Những cung vị này phi xuất Tứ Hoá rơi vào các cung mệnh cục khác nhau, bởi vì cung vị phi nhập có sự phân biệt giữa Tha Cung với Ngã Cung, mà cái cung khởi phi lại cũng có sự phân biệt giữa Tha Cung với Ngã Cung. Do đó, có thể phân biệt được sự khác nhau của mối quan hệ

[Xuất] và [Nhập] từ cung khởi phi của Tứ Hóa với cung mà chúng nhập vào, và cũng phân được ý nghĩa cát hung của chúng.

1. Tứ Hóa phi xuất từ Ngã Cung:

Nếu bàn về vận tiền tài của ta, thì lấy cung Tài Bạch làm bản cung, vì nó có liên quan với ta, mà Lộc với Kị đều từ bản cung phi xuất, căn cứ theo Lộc phi xuất hoặc Kị nhập Ngã Cung hay Tha Cung mà phán định cát hung, các loại hình cơ bản gồm có:

1.1 Lộc nhập Ngã Cung, Kị nhập Ngã Cung:

Cái này tức là nói đến cát với hung của sự kiện đều do chính mình gánh chịu, không thông qua sự trung gian của người khác, như: [Tài Bạch hóa Lộc nhập cung Mệnh, hóa Kị nhập Quan Lộc] tức là biểu thị cát hung của tiền tài đều là yếu tố cá nhân chứ hoàn toàn không liên quan gì đến những người khác, chính mình có nỗ lực hay không, hưng suy của tài vận do chính mình quyết định, cũng có thể nói chính là cách cục tự lực cánh sinh.
1.2 Lộc nhập Tha Cung, Kị nhập Ngã Cung:

Tuy là Hóa Lộc đến cho người khác, chính mình dường như không chiếm được, thế nhưng Hóa Kị phi nhập Ngã Cung, căn cứ hiện tượng của [Lộc theo Kị đi ] thì cái [Hóa Lộc] này sẽ bị [Hóa Kị] mang về Ngã Cung, nhưng là ta sở hữu, đối với ta thì tinh thần hoặc vật chất trước khi đầu tư trở về sau, đều có thể có sự quay trở lại, thuộc về loại hình [Đắng trước Ngọt sau], thí dụ như phương thức phi hóa của [cung Mệnh hóa Lộc vào Nô, hóa Kị vào Tài bạch ] chính là loại hình này.

1.3 Lộc nhập Ngã Cung, Kị nhập Tha Cung:

Theo hiện tượng của [Lộc theo Kị đi ] để giải thích, Hóa Lộc tuy nhập Ngã Cung, nhưng sẽ bị Hóa Kị mang đi ra ngoài đến Tha Cung. Thí dụ như: [Tài Bạch hóa Lộc nhập vào cung Mệnh, hóa Kị nhập vào cung Nô], loại hình thái phi hóa này nếu như có mối quan hệ qua lại về tiền tài với bạn bè thì ắt sẽ có tổn thất tiền bạc, tránh việc qua lại về tiền tài với bạn bè thì giảm thiểu được tổn thất, cũng có thể giữ được tình bạn.

1.4 Lộc nhập Tha Cung, Kị nhập Tha Cung:

Bất kể là tốt hay xấu đều giao cho người khác hết, đây là hiện tượng hung nhất. Thí như: [cung Tài Bạch hóa Lộc nhập vào Phụ Mẫu, hóa Kị nhập vào Nô] là đem tiền của mình giao cho bạn bè, tự mình thành ông thần tài qua cửa nhà bạn mà thôi. Thậm chí cả cuộc đời đều đi làm kiếm tiền cho người khác, mà chính mình chẳng được gì cả, loại người có hình thái này rất phù hợp với dân đi làm công trong ngành tài chính, không nên ham muốn những quyền lợi không thỏa đáng, biết đủ thì mới được hạnh phúc, sẽ có thể bình an qua ngày.

2. Tứ Hóa phi xuất từ Tha Cung:

Đó là hiện tượng phi Tứ Hóa từ Tha Cung, xem chúng nhập vào Ngã Cung hay Tha Cung để mà luận về cát hung.

2.1 Lộc nhập Ngã Cung, Kị nhập Ngã Cung:

Là tượng may mắn, thí dụ như: [Phụ Mẫu hóa Kị nhập vào Quan Lộc, hóa Lộc nhập vào Tài Bạch], khi Hóa Kị nhập vào Quan Lộc của ta thì dường như có sự bất lợi về sự nghiệp, thế nhưng có Hóa Lộc nhập vào Tài Bạch của ta, căn cứ vào nguyên lý [Lộc theo Kị đi ] thì chính là Tài Bạch của bạn bè (Nô) nhập vào Quan Lộc của ta, là có ý nghĩa rằng bạn bè mang tiền tới giúp đỡ, đầu tư cho ta.

2.2 Lộc nhập Ngã Cung, Kị xung Ngã Cung:

Hung tượng, chủ về tổn thất; đây cũng là hiện tượng của [Lộc theo Kị đi], tuy rằng Lộc nhập vào Ngã Cung, nhưng Kị tới xung Ngã Cung, cái Hóa Lộc ấy là Lộc ảo, sau khi có được thì còn trả lại hết, thậm chí còn phải trả cả vốn lẫn lãi. Cho nên gặp phải loại hình này thì không nên vì lúc đầu thu được Lộc mà ngộ nhận cho rằng đang ở tình thế tốt, mở rộng đầu tư, thường thường lúc này mới chính là thời khắc mấu chốt của việc thịnh đến cực sẽ sinh ra suy.

2.3 Lộc xung Ngã cung, Kị nhập Ngã cung:

Theo giải thích về tượng [Lộc theo kị đi], đây chính là cát tượng, thí dụ như: [Nô hóa Lộc xung cung Mệnh, hóa Kị nhập Tài Bạch] là hiện tượng bạn bè sẽ không đầu tư hoặc giúp đỡ ta, thế nhưng Hóa Kị nhập Ngã Cung thì vẫn sẽ dành cho sự ủng hộ về tinh thần hay đạo nghĩa, lúc này Ngã Cung không thể lại Tự Hóa, sẽ có sự khác biệt là điềm báo hiệu tổn thất, loại hiện tượng này sẽ không thể lại vay tiền bạn bè.

2.4 Lộc và Kị cùng nhập Ngã Cung:

Tốt xấu cát hung của Tha Cung, hoàn toàn từ Ngã Cung tiếp nhận, gặp Ngã Cung cát thì theo đó được cát, còn Ngã Cung hung thì theo đó xảy ra hung, thí dụ như: [cung Nô hóa Lộc nhập vào cung Tài Bạch, hóa Kị nhập vào cung Mệnh] là ý nghĩa bạn bè đem tiền giúp đỡ ta, thế nhưng Hóa Kị cũng nhập cung Mệnh của ta (Ngã), nếu như cung Mệnh là cát thì hiện ra cát tượng, còn cung Mệnh không cát thì sẽ sản sinh nguy hại, thật giống như cái ý [bạn bè lấy tiền giúp đỡ ta với mục đích là dụ ta cắn câu, sau đó sẽ tùy cơ để nuốt trọn sự nghiệp của ta].

2.5 , Lộc và Kị cùng xung Ngã Cung:

Hung tượng, chủ về tổn thất to lớn, có lợi ở Tha Cung mà Ngã Cung không được hưởng, còn phải đề phòng Tha Cung tới xung vào Tài Bạch, Quan Lộc của ta. Chúng ta kiếm tiền, làm việc, cùng đối tượng qua lại với nhau, nhất định sẽ cùng Tha Cung sản sinh quan hệ, như tượng này chủ không được hưởng chỗ tốt, lại còn phải đề phòng bị nguy hiểm xung phá.

2.6 Lộc nhập Tha Cung, Kị xung Ngã Cung:

Cũng hiện ra hung tượng, nếu Lộc đã nhập vào Tha Cung, đối với ta cũng đã là bất lợi rồi, mà Kị lại tới xung phá Ngã Cung, cái tổn thất ấy càng lớn hơn nữa. Cái tượng (hình ảnh) này có ý nghĩa là chỗ tốt của nó dành cho người khác, lúc có chuyện hoặc gặp phải cửa ải khó khăn, thì mới tìm đến ta, đối với ta mà nói, ta nỗ lực trả giá mà không được hưởng chỗ tốt của nó, bởi vì nó đã bị người khác hớt tay trên hết rồi, chỉ có tới tìm ta cứu trợ.

Nhưng mà trục Tài Bạch – Phúc Đức, thì không có cái loại hình Kị xung kiểu đó, bởi vì khi Kị nhập vào Tài Bạch hay Phúc Đức thì đều thuộc về Ngã Cung, cho nên không chủ về sự tổn thất, mất mát.

Những quy tắc bên trên có thể đem áp dụng vào Đại Hạn để mà luận cát hung của Đại Hạn, nếu luận về cát hung của chuyện vợ chồng, có thể lấy cung Phu Thê làm cung Mệnh, rồi tìm ra Ngã Cung và Tha Cung của Phu Thê, [thí dụ như: cung Phúc Đức của Ta chính là cung Quan Lộc của cung Phu Thê, là thuộc về Ngã Cung của cung Phu Thê], cân nhắc tổ hợp các sao tọa ở trong cung, cũng như phi Tứ Hóa, sẽ biết ngay tốt xấu, lúc này, phi Tứ Hóa ứng với quy về lá số của ta để mà luận cát hung [thí dụ như: lấy Can của cung Phúc Đức phi Tứ Hóa, nhập vào cung Quan Lộc của ta, đại biểu cho sự nghiệp của vợ chồng cùng vận trình cũng không tệ ], nguyên tắc của những cung khác cũng như trên, cứ phỏng theo đó.

Còn như, hành vận lại sẽ sản sinh ra mối quan hệ của [Hóa Nhập] và [Hóa Xuất], xin mời tham khảo ở các chương có liên quan trong sách này.

(Chép lại từ cuốn Tử vi mệnh vận phân tích)

Phi tinh tử vi đẩu số Lương Nhược Du

0

Phi tinh tử vi đẩu số Lương Nhược Du

Lương Nhược Du Bổ sung thêm những tính chất sao:

1, “Tử Vi”, “Thiên Tướng”, “Thiên Đồng”, “Thiên Lương”, “Tham Lang” đều là “Thọ tinh”, chủ trường thọ. Nhưng nhập Mệnh thì không phát cho “người còn tuổi thiếu niên”. Trừ sao Tham Lang thuộc sao “Thiên Tài” ra thì các sao còn lại đều là sao Chính Tài là sao “bổng lộc”.

2, Phàm là những người được một chút sao Thiên Tài, thì nhóm kể trên mà an định là tốt.

3, Các sao Dịch Mã: “Thiên Cơ”, “Thái Dương”, “Thái Âm”, “Văn Xương”, “Văn Khúc”.

Phàm là người có các sao Dịch Mã nhập Mệnh, đa phần có thói quen thích ngủ muộn. Về nhà khuya, đi ngủ trễ.

4, Các sao “Thiên Đồng”, “Thiên Tướng”, “Thiên Lương” đều là những “ông hòa thuận”. Lại có thể chia tỉ mỉ hơn:

Thiên Đồng – bác trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, lý trưởng, già làng,…

Thiên Tướng – ông hòa thuận, hòa giải,…

Thiên Lương – bác chủ trì công đạo, phân xử, đúng mực.

5, Tổ hợp sao Vũ Khúc Thất Sát đại biểu nhà ga, hành lang đường sắt.

6, Thái Âm đại biểu khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, quán ăn, cái giường.

7, Thiên Hình đại biểu con cún, chó con. Phá Quân đại biểu chó lớn hoặc ngựa, trâu, bò.

8, Cự Môn hội Thiên Hình dễ tập luyện tà thuật. Tham Lang hội Thiên Hình dễ tập luyện chính thuật.

9, Phàm là cung Phu Thê được tọa thủ bởi Thiên Lương hoặc Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ, Cự Môn, mà các tinh diệu này hóa Kị, thì sẽ dễ gặp cảnh “già trẻ cưới nhau” trong hôn nhân.

Nhận thức về tượng nghĩa của cung vị

Giáp (A), Bốn nhóm “Tam Phương” của 12 cung:

Định nghĩa của Tam phương: Tam phương là một khối “Tổ hợp tổng thể” cùng tồn tại, thiếu 1 cái cũng không được. Chính là cái mà trong môn Cơ Học gọi là modul bội ba (triple) của “vật thể rắn hình tam giác”, vĩnh viễn kết hợp cùng nhau, tách biệt chúng ra thì “Vật bất thành khí” (Vật không có hồn), “Vô dĩ vi dụng” (không dùng được vào việc gì cả).

A1, Tam phương Mệnh: bao gồm 3 cung vị là Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc. Là biểu lộ hình ảnh “phương thức sinh tồn” của một cá nhân mưu cầu trong cõi hồng trần. Cũng chính là các cung “triển vọng, thành tựu” của 1 cá nhân.

A2, Tam phương Điền Trạch: bao gồm 3 cung vị là Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách. Là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về tình huống của “Thân thế”, “Bối cảnh”, “Tông tộc”, “Gia đình”, “Thân tình”, “Kinh tế”, “Tài sản”, “Sức khỏe” và “Đời sống vật chất”. Hoặc cũng có thể coi là những chỗ “kết quả” của đời sống. Chính là các cung “thu gom”, “gìn giữ”.

A3, Tam phương Phúc Đức: bao gồm 3 cung “Phúc Đức”, “Thiên Di”, “Tật Ách”. Chính là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về các sự tình “Nhân duyên Quả báo” như “Bản tính”, “Tinh thần”, “Đam mê”, “Thiên phú”, “Nhân duyên”, “Gặp gỡ”, “Hôn nhân”, “Căn khí” (khí chất gốc rễ, bản năng).

A4, Tam phương Nô Bộc: bao gồm 3 cung “Nô Bộc”, “Phụ mẫu”, “Tử Tức”. Chính là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về các tình huống “Ăn ở” và “đối nhân xử thế” như là “Tính tình”, “Tâm trí”, “Học vấn”, “Trình độ”, “Đức hạnh”, “Trung hiếu”, cũng như “Nhân”, “Nghĩa”, “Lễ”, “Trí”, “Tín”.

Ất (B), Mở rộng hàm nghĩa cung vị 12 cung:

B1, Mệnh cung:

B1.1, điểm Thái Cực, “Trung khu” của lá số. Dẫu vạn biến cũng không thể xa rời cái “tông chỉ” của nó.

B1.2, Khuynh hướng của “Ta” về những mặt “Tinh thần”, “Ý chí”, biểu hiệu về “Vui, buồn, mừng, giận”, nói đơn giản là “Ta”.

B1.3, Hiển lộ hình ảnh “Cá tính”, “Năng khiếu”, “Tính tình”, và “Tư duy”.

B1.4, Nơi bày tỏ biểu lộ những cảm xúc “Vui, buồn, mừng, giận”.

B1.5, Chỗ của Ông ngoại, Bà nội, Ông Bác cả, Ông chú.

B2, Huynh Đệ cung:

B2.1, Xem về tình anh em.

B2.2, Cung “cất giữ” của tiền mặt, chính là “sự tích góp”, mục “tiết kiệm” của “tài khoản gửi tiết kiệm ngân hàng”. Cũng chính là “kho bảo hiểm” trong nhà, “két bảo hiểm” của ngân hàng. Gọi đơn giản là “Khố vị”.

B2.3, Vị trí “Nhất lục cộng tông” của Quan Lộc, chính là chỗ xem về “quy mô” lớn nhỏ của sự nghiệp.

B2.4, Phối hợp 2 dạng ở trên, còn gọi cung Huynh Đệ là chỗ “Thành tựu”.

B2.5, “Lãnh đạo chỉ huy” (được “Quyền” xung Nô Bộc).

B2.6, Chính là chỗ “vận Cơ thể” – cửu vị “Khí Số” cung của cung Tật Ách (QNB chú: cung vị “Khí Số” được tính bằng cách đếm nghịch chiều từ bản cung tới vị trí thứ 9), cho nên còn gọi là cung vị “Thể chất”.

B2.7, Cũng chính là chỗ hiển lộ hình ảnh “Đời sống vật chất”.

B2.8, Vị trí mượn cung để xem Cha mẹ vợ/chồng – mẹ đẻ. Cũng chính là Bác hai, chú hai.

B2.9, Chính là [cung Điền Trạch của “cung ăn ở với người hôn phối”] – Tài Bạch, vì “Tài Bạch” là [cung Phu Thê của cung Phu Thê], cũng chính là chỗ cái giường, chủ “phòng ngủ”.

B2.10, Là do kết hôn mà thành vị trí “ông Nhạc” (bố vợ/chồng), chỗ của chị vợ/chồng.

B2.11, Là chỗ xem “Phúc phận” của tiểu hài nhi (vì nó là [cung Phúc Đức của cung Tử Tức]).

B2.12, Chỗ của anh trai cả (em trai), chị cả.

B3, Phu Thê cung:

B3.1, Xem tình cảm, hôn nhân.

B3.2, Vị trí mượn cung của “hạn lúc nhỏ” (chủ niên hạn sở hữu trước Đại Hạn thứ 2).

B3.3, Xem “phúc phận hưởng tiền tài” trong “phước báo”, vì nó chính là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch].

B3.4, Nhà bếp (nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách] – tức là cung cất giữ của sức khỏe).

B3.5, Chỗ vận khí xuất ngoại, bởi vì nó là cung vị “Khí Số” của cung Thiên Di.

B3.6, Xem vóc dáng, thể hình – vì nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách].

B3.7, Vị trí của Cậu, anh (em) trai thứ hai.

B3.8, “Tình trạng kinh tế” của Huynh Đệ (cung Huynh Đệ của Huynh Đệ).

B4, Tử Tức cung:

B4.1, Xem duyên phận con cái, nhiều hay ít, hiền hay ngu.

B4.2, Tình dục (chính là [cung Phúc Đức của cung Tật Ách]).

B4.3, Cung “đào hoa”, vị trí “ngoại tình” (gặp sao Đào Hoa).

B4.4, Vị trí đối tượng tái hôn, chỗ vợ bé (thiếp).

B4.5, Vị trí “thân thích” (chính là cung tiếp theo của cung Phu Thê – vì hôn nhân mà dẫn tới vị trí liên quan).

B4.6, Vị trí của Chị em dâu (vì là [cung Phu Thê của cung Huynh Đệ]), người cậu thứ hai, anh vợ, người con trưởng.

B4.7, Vị trí của Dịch Mã (vì là [cung Thiên Di của cung Điền Trạch] – vị trí khi dời nhà đi ra ngoài).

B4.8, Bất trắc ngoài ý muốn, bệnh nghề nghiệp (có Song Kị trở lên).

B4.9, Xem mối quan hệ của ta với thuộc hạ, những người có vai vế bên dưới.

B4.10, Vị trí của người hùn vốn (vì là [cung Quan Lộc của cung Nô Bộc]).

B4.11, Vị trí biểu hiện Từ tâm, lòng nhân ái.

B4.12, Vị trí vận tuổi già, cảnh xế chiều.

(Tác giả chú: Việc tái hôn là lấy cung Tử Tức để làm “Dụng”, nhưng vẫn không thể xa rời cái “Thể” là cung Phu Thê; Nếu như cung Phu Thê xấu quá mức, thì e rằng dù có tái hôn thì cung chẳng được hạnh phúc như lần kết hôn đầu trước).

B5, Tài Bạch cung:

B5.1, Vị trí duyên phận với tiền tài.

B5.2, Các tình huống kiếm tiền, ngành nghề.

B5.3, Quan điểm giá trị và về tiền bạc của 1 cá nhân.

B5.4, Quan hệ đối đãi của hôn nhân (vì là [cung Phu Thê của cung Phu Thê]).

B5.5, Vị trí biểu hiện tâm tư cảm xúc, tình trạng sức khỏe của cha mẹ, (vì là [cung Tật Ách của cung Phụ Mẫu]).

B5.6, Vị trí của con thứ, người cậu thứ hai, đứa cháu.

B5.7, Phòng trọ, Nhà trọ, phòng khách (vì là [cung Điền Trạch của cung Nô Bộc]).

B6, Tật Ách cung:

B6.1, Thân thể xác thịt – vị trí “nhất lục cộng tông” của cung Mệnh.

B6.2, Xem tình trạng của sức khỏe.

B6.3, Xem việc béo hay gầy.

B6.4, Xem thói quen phản ứng và mức độ hoạt động của 1 cá nhân.

B6.5, Vị trí biểu lộ phản ứng tâm tư cảm xúc vui buồn mừng giận.

B6.6, Vị trí của vận nhà.

B6.7, Vị trí biểu lộ đời sống vật chất.

B6.8, Vị trí của Cửa hàng, Phòng làm việc, hoàn cảnh công tác, địa phương công tác (vì là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc]).

B6.9, Vị trí của năng lực của địa vị và các mối quan hệ xã hội của cha mẹ (vì Tật Ách là [cung Thiên Di của cung Phụ Mẫu]).

B6.10, Biểu lộ tình trạng tiền mặt của anh em (vì là [cung Tài Bạch của cung Huynh Đệ]).

B6.11, Vị trí của người vợ cả.

B7, Thiên Di cung:

B7.1, Dáng vẻ biểu lộ ra bên ngoài, bộ dạng, hình ảnh.

B7.2, Vị trí của Xã giao, Hoạt động, sân khấu cuộc đời, bày tỏ năng lực, lãnh đạo thống trị.

B7.3, Biểu lộ hình ảnh của Thân phận, Địa vị.

B7.4, Vị trí của Dịch Mã.

B7.5, Vị trí của gặp gỡ, nhân duyên cuộc đời của đầu mối Nhân-Quả ở bên trong.

B7.6, Vị trí Thiên phú của A Nại Gia Thức, tài hoa, trí tuệ, căn khí, thiện duyên của người tu hành.

B7.7, Có liên quan tới những bệnh Nhân-Quả, tai nạn, bất trắc ngoài ý muốn.

B7.8, Trạng thái sức khỏe và tâm tình của anh em (vì là [cung Tật Ách của cung Huynh Đệ]).

B7.9, Vị trí trạng thái tiền tài của người phối ngẫu (vì là [cung Tài Bạch của cung Phu Thê]).

B7.10, Vị trí của trưởng họ, đích tôn.

B7.11, Vị trí của “mức độ tuổi thọ”, “vận của tuổi già”.

B7.12, Cái sân, bên ngoài cửa.

B7.13, Vị trí “kinh nghiệm từng trải” của đời người do trải qua rèn luyện mà trưởng thành.

B8, Nô Bộc cung:

B8.1, Vị trí của “chỉ tiêu” của tình trạng hôn nhân (vì là vị trí nhất lục cộng tông với cung Phu Thê).

B8.2, Vị trí của tình trạng sức khỏe và tâm tình của người phối ngẫu (vì là [cung Tật Ách của cung Phu Thê]).

B8.3, Vị trí biểu hiện của hình ảnh, của năng lực và của địa vị của anh em.

B8.4, Vị trí của tình trạng gặp gỡ tiếp xúc người khác mà có duyên giao thiệp.

B8.5, Vị trí của việc thi cử, cạnh tranh.

B8.6, Vị trí biểu hiện “tình và nghĩa” của tính người.

B8.7, Nghề nghiệp công tác của cha mẹ.

B8.8, Cung vị biểu lộ tình trạng tiền tài của con cái.

B8.9, Vị trí tích đức, bố thí hành thiện.

B8.10, Vị trí miếu thờ, bàn thờ, phật đường ở trong gia đình (vì là [cung Điền Trạch của cung Phúc Đức])

B9, Quan Lộc cung:

B9.1, Cung vị của “Vận khí” (số 9 là cực của Dương, “Hóa khí” lưu hành).

B9.2, Nghề nghiệp công tác, phương thức kiếm tiền.

B9.3, Vị trí biểu hiện địa vị, năng lực và hình ảnh của người phối ngẫu (vì là [cung Thiên Di của cung Phu Thê]).

B9.4, Tình cảm ngoài hôn nhân (đào hoa tinh), (vị trí của tinh cảm bên ngoài hôn nhân – [cung Thiên Di của cung Phu Thê]).

B9.5, Cung vị biểu lộ tâm tình và tình trạng sức khỏe của con cái (vì là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).

B9.6, Mộ phần của tổ tiên (vị trí [cung Phúc Đức của cung Phúc Đức], mà cung Phúc Đức đại biểu cho “nhân quả tiên thiên” và nơi quy tụ sau này của bản thân mình – “mộ phần”).

B9.7, Phòng đọc sách, bàn học, bàn đọc sách (vì là [cung Điền Trạch của cung Phụ Mẫu]).

B10, Điền Trạch cung:

B10.1, Gia thế, gia tộc, họ hàng thân thuộc.

B10.2, Gia đình, quan hệ cha con anh em.

B10.3, Cung cất giữ của tài sản – vì là cung vị nhất lục cộng tông với cung Tài Bạch (chứa các loại động sản, bất động sản, chứng khoán có giá trị, kim cương châu báu, vật phẩm trân quý, sổ tiết kiệm ngân hàng,… hết thảy những vật có giá trị). Gọi đơn giản là vị trí của “Tài khố”.

B10.4, Hoàn cảnh cư trú (bao gồm cả cách đối đãi hàng xóm láng giềng).

B10.5, Phòng tiếp khách.

B10.6, Cung vui vẻ (gia đình vui vẻ, vợ chồng ân ái).

B10.7, Vị trí biểu hiện hình ảnh, năng lực, địa vị của con cái.

B10.8, Vị trí của Tổ tiên, cha ông.

B11, Phúc Đức cung:

B11.1, Vị trí tiền duyên nghiệp quả, nhân quả truyền đời.

B11.2, Vị trí hưởng thụ, hứng thú, sở thích, bản tính.

B11.3, Vị trí vận tuổi giả, xem hạn tuổi thọ.

B11.4, Phản ứng “Tinh Thần”, “Cảm Thụ” (vị trí biểu hiện của vui, mừng, buồn, giận).

B11.5, Phẩm vị, Nội hàm, và cũng là thiện duyên của người tu hành, cũng là vị trí của Trí Tuệ, Tự Tại, Buông Bỏ, Căn khí (sự thăng tiến về mặt tinh thần).

B11.6, Mức độ cảnh tượng đám tang long trọng, cuộc truy điệu sau khi chết, cũng là Quan Tài và Mộ Phần sau khi chết.

B11.7, Cung biểu hiện về dục vọng và tiền bạc (vì là [cung Thiên Di của cung Tài Bạch]).

B11.8, Vị trí của Ông cha.

B11.9, Phòng ăn (vị trí hưởng thụ).

B11.10, Nghề nghiệp của người phối ngẫu (vì là [cung Quan Lộc của cung Phu Thê]).

B11.11, Vị trí biểu đạt tình cảm.

B11.12, Vị trí của bác gái.

B12, Phụ Mẫu cung:

B12.1, Cha mẹ, duyên với người trưởng bối.

B12.2, Vị trí hình ảnh của hình và sắc của “Khí Chất”, “Nội Hàm”, “Tu Dưỡng” (cung tướng mạo)

B12.3, Vị trí học tập thông thường, tri thức, bằng cấp, đọc sách thành hiền, cách làm người.

B12.4, Vị trí tình trạng gia đình của nhà ngoại (của ông chồng).

B12.5, Nghề nghiệp của con cái.

B12.6, Vị trí nhất lục cộng tông của Thiên Di – tức là quy tắc “tiêu chuẩn đạo đức” của xã hội.

B12.7, Vị trí tích đức của “bách thiện Hiếu vi tiên” (trong trăm cái điều thiện, thì Hiếu kính là cái đứng đầu).

B12.8. Người cha mẹ che chở cho ta, nghĩa bóng chính là “Cơ quan chính phủ”.

B12.19, Cung Phụ Mẫu là [cung Tài Bạch của cung Nô Bộc], cho nên nghĩa bóng là cung vị “tiền bạc qua lại của “ngân hàng”, “hội hỗ trợ” (chơi hụi), cho vay tư nhân.

III, Nhận thức về Tứ Hóa

IIIA, Nhận thức về Lộc, Quyền, Khoa, Kị

Thái Cực sinh “lưỡng Nghi” (âm, dương), lưỡng Nghi sinh “tứ Tượng” (thiếu dương, lão dương, thiếu âm, lão âm). Cái tứ Tượng, lấy ví dụ đơn giản nhất thì chính là “Xuân, Hạ, Thu, Đông” được chứng kiến ở trong đời sống sinh hoạt của chúng ta.

Theo mùa Xuân đến mà trăm hoa đua nở, hạt giống nảy mầm, cây cối đâm chồi nảy lộc, thiên nhiên tràn đầy sự “sinh sôi”, “hy vọng”, con người cũng liền bắt đầu cấy cày vụ xuân của một năm bận rộn. Đến mùa Hạ, vạn vật đã “khỏe mạnh”, “tươi tốt”, con người cũng vui mừng khi thấy thành quả. Bước vào mùa Thu, lá vàng theo gió Thu rớt xuống, cái khí sát phạt đầy trời, đó chính là quy luật “thấy thịnh quá thì phải hạn chế” của thế giới tự nhiên, con người cũng bận rộn dùng những công cụ (thuộc Kim khí) để thu hoạch thóc lúa về kho. Đến mùa Đông, ngàn núi vắng bóng chim bay, vạn đường chẳng người qua lại, muôn vật “ẩn náu trú đông”, con người cũng “thâu tàng” cho qua mùa đông, nghỉ ngơi là để đi tiếp con đường còn dài.

Xuân Hạ Thu Đông tuần hoàn quay lại mối ban sơ, năm này qua năm khác. Do đó:

* Mùa Xuân hoa nở lá xanh, là thuộc về thời kỳ Mộc vượng.

* Mùa Hè trời nắng chang chang, là thuộc về thời kỳ Hỏa vượng.

* Mùa Thu xơ xác đầy trời, lá khô rớt rụng, là thuộc về thời kỳ Kim vượng.

* Mùa Đông đất đầy sương tuyết, vạn vật ẩn phục, là thuộc về thời kỳ Thủy vượng.

Khí vận hành mà “tại Thiên thành tượng”. Xưa nay có rất nhiều bậc trí tuệ đều noi theo “Đạo pháp Tự Nhiên”. Do đó, Tứ Hóa của Đẩu Số chính là cái “Pháp” (quy luật, phép tắc) từ Tứ Tượng ở trong thế giới Tự Nhiên mà ra. Cũng có thể nói rằng, Tứ Hóa của Đẩu Số chính là tứ tượng Xuân Hạ Thu Đông của thế giới Tự Nhiên.

Nay, đem Tứ Hóa phân loại, để hồi tưởng lại cho dễ hiểu:

IIIA1, “Lộc” – chính là Thiếu Dương, cũng chính là Mùa Xuân, là thuộc tượng Mộc vượng, vạn vật “sinh sôi”, “hy vọng”

Tổng hợp tượng nghĩa là:

IIIA1.1, Vui sướng, may mắn, tốt đẹp, nhẹ nhõm, thông thuận, lạc quan, tùy duyên, tự tại, thân thiện, hòa hợp.

IIIA1.2, Phúc khí, hy vọng, cơ hội, tươi sáng, khỏe mạnh.

IIIA1.3, Tuổi trẻ, ban đầu, nguyên nhân.

IIIA1.4, Lãng mạn, tình cảm, ý hay, mộng đẹp, tưởng tượng.

IIIA1.5, Hưởng thụ, thỏa mãn, phân tán, làm biếng, mập mạp.

IIIA1.6, Lớn, Mới, Nhiều, Tốt.

IIIA2, “Quyền” – chính là Lão Dương, cũng chính là mùa Hạ, là thuộc tượng Hỏa vượng, vạn vật “khỏe mạnh”, “tươi tốt”.

Tổng hợp tượng nghĩa là:

IIIA2.1, Tự tin, chủ kiến, mưu đồ, hoài bão, tích cực, dục vọng.

IIIA2.2, Lãnh đạo, khai sáng, mở rộng, đột phá, rắn chắc, cường tráng, quyền lực, địa vị.

IIIA2.3, Chủ quan, năng lực, quyết đoán, kiên cường, ứng biến.

IIIA2.4, Can đảm, hành động, vận động, kịch liệt, khí phách, sắc bén, tranh đấu.

IIIA2.5, Lớn, Mới, Nhiều, Tốt.

IIIA3, “Khoa” – chính là Thiếu Âm, cũng chính là mùa Thu, là thuộc tượng Kim vượng, vạn vật xơ xác tiêu điều. Thánh nhân noi theo mà chế ra Lễ giáo, Văn minh.

Tổng hợp tượng nghĩa là:

IIIA3.1, Danh tiếng, Khoa giáp.

IIIA3.2, Quý nhân, xoay vần, hòa hoãn.

IIIA3.3, Khiêm tốn, lịch sự, học thức, văn hóa, thanh tú, khéo léo, tinh tế, đẹp đẽ.

IIIA3.4, Khoan thai, do dự, làm ra vẻ, mượn cớ che đậy.

IIIA3.5, Lớn nhỏ vừa đúng chừng mực.

IIIA4, “Kị” – chính là Lão Âm, cũng chính là mùa Đông, là thuộc về tượng Thủy vượng, vạn vật “ẩn náu”, “thâu tàng”, chờ đợi hy vọng mới.

Tổng hợp tượng nghĩa là:

IIIA4.1, Thật thà, mộc mạc, thẳng thắn, cương trực, trung thành, nghĩa khí.

IIIA4.2, Thu tàng, cố thủ, gìn giữ, an định, kết quả.

IIIA4.3, Cứng nhắc, cố chấp, phiền muộn, đau thương, nợ nần, vất vả.

IIIA4.4, Tiểu nhân, thị phi, thù hận, phẫn nộ, đau khổ.

IIIA4.5, Tham dục, si mê, vọng tưởng, tà niệm, ích kỷ.

IIIA4.6, Trắc trở, nhỏ mọn, tối tăm, bẩn thỉu, xấu xí, đổ nát.

Tác giả chú: đừng có thấy “Lộc” mà đã nói là hay, nhiều Lộc lại phản chuyển thành “tiêu diêu tự tại” (QNB chú: ám chỉ sự buông bỏ, tiêu dao, phóng túng, không thích ràng buộc); đừng có thấy “Kị” mà đã nói là hung, cố chấp chọn cái thiện chính là được cái Kị mà có thể thành tựu. Có nhiều Quyền thì đề phòng ngang ngược, có nhiều Khoa thì phản chuyển thành do dự nhu nhược.

Tứ Hóa là tượng (hình ảnh mô phỏng), cho nên “Lộc, Quyền, Khoa, Kị” là hóa “Tượng”, chứ không phải thuộc về các tinh diệu.

Các sách trên phố nói “nhiều Kị thì phản chuyển thành không Kị, không cần e ngại”, ấy là sự hoang đường.

Bởi vì “một Kị” tọa thủ, là “giữ gìn” hoặc “nợ nần”, “trả giá” (là những việc đương nhiên trên cõi đời mà thôi).

“Song Kị” đồng cung hoặc cặp Kị đó đối cung, là khởi đầu của “phá bại”.

“Tam Kị” đồng cung hoặc cặp Kị trong số đó đối cung, thì là “xu thế chung đã xấu”.

“Tứ Kị” đồng cung hoặc có cặp Kị đối cung, thì thường phải đối mặt với “Đi hay Ở”, “Sống hoặc chết”.

Tác giả chú: Thí dụ như cung Nô Bộc tọa Kị của năm sinh, mà cung Tài Bạch của ta lại phi Lộc nhập vào, thì “Lộc, Kị” hiện ra “Song Kị”. Ngược lại, nếu như cung Nô Bộc tọa Lộc năm sinh, mà cung Tài Bạch phi Kị nhập vào, thì “Lộc, Kị” hiện ra “Song Lộc”. Được mất toàn là lấy “Cung Vị” mà định.

Cát hung của “đơn Kị” hoàn toàn là lấy cung vị nó tọa thủ mà định đoạt. Còn đơn Kị lạc nhập “tam phương Mệnh” và “tam phương Điền Trạch” thì không thể luận là “mất”. Đơn Kị lạc nhập “tam phương Nô Bộc” hoặc “tam phương Phúc Đức” mới bắt đầu ước định có thể luận là “mất”.

IIIB, Tứ Hóa của 10 Thiên Can

Can là Thiên, còn Chi là Địa, có cái gọi là Khí lưu hành (do thời gian lưu chuyển nên có biến hóa), mà tại Thiên thành tượng, tại Địa hóa hình. Tứ Hóa là tượng, ắt dựa vào Thiên Can để mà hóa; thiên Can mà khác nhau, sinh ra những hóa tượng khác nhau.

IV, Cung vị tất yếu khi vận dụng thủ pháp luận sự việc

* Nhớ kỹ! cung Mệnh là “Thái Cực tuyệt đối”. Bất kể là luận đoán sự việc nào, đều không được quên [Tứ Hóa của cung Mệnh].

IV.1 Luận tình cảm:

IV.1.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực.

IV.1.2, Cung Nô Bộc: đối tượng.

IV.1.3, Cung Phúc Đức: biểu hiện tình cảm.

IV.1.5, Có thể tham khảo các cung Điền Trạch, Phụ Mẫu, Thiên Di, Tật Ách.

Tác giả chú: có thể trực tiếp tìm 2 sao Liêm Tham, bất luận là chúng nhập vào cung nào thì đều ước định chủ chuyện tình cảm.

IV.2, Luận kết hôn:

IV.2.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực

IV.2.2, Cung Điền Trạch: thành gia thất, cưới hỏi

IV.2.3, Cung Phụ Mẫu: cung văn thư

IV.2.4, Có thể tham khảo thêm các cung Phúc Đức, Thiên Di

IV.3, Luận ly hôn:

IV.3.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực

IV.3.2, Cung Điền Trạch: gia đình chia rẽ

IV.3.3, Cung Phụ Mẫu: cung văn thư

IV.3.4, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.4, Phân chia nhà, giường

IV.4.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực

IV.4.2, Cung Nô Bộc: cơ thể của người phối ngẫu.

IV.4.3, Cung Tật Ách: cơ thể của ta.

IV.4.4, Cung Huynh Đệ: Căn nhà, cái giường.

IV.4.5, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.5, Sống riêng (ly thân)

IV.5.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực

IV.5.2, Cung Nô Bộc: cơ thể của người phối ngẫu.

IV.5.3, Cung Tật Ách: cơ thể của ta.

IV.5.4, Cung Điền Trạch: nhà cửa khác nhau.

IV.5.5, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.6, Luận ốm đau

IV.6.1, Lấy cung Tật Ách lập Thái Cực.

IV.6.2, Cung Phúc Đức: phúc phận.

IV.6.3, Cung Huynh Đệ: vận cơ thể.

IV.6.4, Có thể tham khảo cung Thiên Di (vận phúc), cung Tử Tức (vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức)

Tác giả chú: nhọt, Nham (ung thư, cancer) cần tìm ngay 2 sao Cự Môn (ám diệu), Liêm Trinh (độc tố).

IV.7, Luận tử vong

IV.7.1, Lấy cung Phúc Đức lập Thái Cực.

IV.7.2, Cung Tật Ách: tình trạng sức khỏe.

IV.7.3, Cung Thiên Di: vận phúc.

IV.7.4, Có thể tham khảo cung Huynh Đệ (vận cơ thể), cung Tử Tức (vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).

IV.8, Luận bất trắc, bệnh nhân quả

IV.8.1, Lấy cung Thiên Di hoặc cung Phúc Đức để lập Thái Cực.

IV.8.2, Cung Tật Ách: tình trạng sức khỏe.

IV.8.3, Cung Tử Tức: vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức.

IV.8.4, Có thể tham khảo cung Huynh Đệ (vận cơ thể).

IV.9, Luận mệnh cách (Mạt / Hanh thông)

IV.9.1, Lấy tam phương Điền Trạch là chủ: cung Thâu tàng.

IV.9.2, Lấy tam phương Phúc Đức làm chủ: phúc phận.

IV.9.3, Lấy tam phương Mệnh làm phụ trợ: làm hết sức mình.

IV.10, Luận sự gặp gỡ

IV.10.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.

IV.10.2, Cung Phúc Đức: Phúc phận.

IV.10.3, Tam phương Mệnh: làm hết sức mình.

IV.11, Luận giữ gìn thành tựu và ổn định

IV.11.1 Lấy tam phương Điền Trạch làm chủ: cung Thâu tàng.

IV.11.2, Lấy tam phương Mệnh cung làm phụ: làm hết sức mình.

IV.12, Luận Dịch Mã

IV.12.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.

IV.12.2, Cung Tật Ách: thân thể.

IV.12.3, Cung Điền Trạch: trụ sở, nơi dừng chân.

IV.12.4, Có thể tham khảo cung Phụ Mẫu (vị trí nhất lục cộng tông với Thiên Di), cung Tử Tức (vị trí Dịch Mã)

IV.13, Chuyển nhà

IV.13.1, Lấy cung Điền Trạch lập Thái Cực.

IV.13.2, Cung Thiên Di: vị trí Dịch Mã.

IV.13.3, Cung Tử Tức: vị trí Dịch Mã.

IV.13.4, Cung Tật Ách: vận nhà.

IV.14, Thiết lập sản nghiệp

IV.14.1, Lấy cung Điền Trạch lập Thái Cực.

IV.14.2, Cung Tài Bạch, cung Phụ Mẫu: Tiền tài và tài khoản.

IV.14.3, Cung Huynh Đệ: vị trí kinh tế.

IV.14.4, Cung Tật Ách: vận tài sản.

IV.14.5, Có thể tham khảo các cung Phúc Đức, Thiên Di (phúc phận – được trợ giúp tài sản)

IV.15, Địa vị xã hội

IV.15.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.

IV.15.2, Cung Nô Bộc: vị trí giao tiếp với người khác.

IV.15.3, Tam phương Điền Trạch: vị trí thực lực.

IV.15.4, Tam phương Mệnh cung.

Tác giả chú: cần Quyền của Thiên Di nhập vào Tam phương Mệnh của ta, hoặc Tam phương Điền Trạch, được Lộc của Nô Bộc nhập vào cùng nhau bọc đỡ.

IV.16, Tranh cử

IV.16.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.

IV.16.2, Cung Nô Bộc: vị trí cạnh tranh.

IV.16.3, Cung Huynh Đệ: vị trí thực lực.

IV.17, Thi cử

IV.17.1, Lấy cung Phụ Mẫu lập Thái Cực.

IV.17.2, Cung Nô Bộc: vị trí cạnh tranh.

IV.17.3, Thích được Lộc Quyền tới giao củng ở các cung Phúc Đức, Thiên Di, Phụ Mẫu.

IV.18, Giới biểu diễn nghệ thuật

IV.18.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.

IV.18.2, Cung Giao Hữu: quần chúng.

IV.18.3, Cung Phúc Đức: tài hoa.

IV.19, Luận con cái nhiều hay ít

IV.19.1, Lấy cung Tử Tức lập Thái Cực.

IV.19.2, Cung Điền Trạch: xem sự vượng suy về gia đình.

IV.19.3, Cung Phúc Đức: xem phúc phận.

IV.20, Căn khí, năng khiếu trời phú, xu hướng tình dục

IV.20.1, Cung Phúc Đức làm chủ.

IV.20.2, Cung Thiên Di làm chủ.

IV.20.3, Cung Mệnh.

IV.20.4, Cung tật Ách.

IV.21, Tính khí tốt đẹp vui vẻ

IV.21.1, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách hóa Lộc nhập Thiên Di, Phụ Mẫu (dáng vẻ bên ngoài).

IV.22, Tính khí cáu gắt, dễ tức giận

IV.22.1, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách tọa hóa Kị.

IV.22.2, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách lại hóa Kị nhập Thiên Di, Phụ Mẫu (dáng vẻ bên ngoài).

IV.23, Gân cốt kém, bụng dạ nông cạn, ý chí không kiên định, tinh thần hao nhược, hành vi bừa bãi, đều do 2 cung Phụ Mẫu, Thiên Di (vẻ bên ngoài) toàn là thấy nhiều Kị.

V, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số – “bí quyết luận đoán căn bản” – 12 cung 720 tượng.

Luận giải lá số của Phi tinh Tử Vi Đẩu Số, trước khi chưa đề cập tới ý nghĩa tính chất các sao, bất kể là sự “Tự Hóa” của “đơn Cung” cho đến sự “Hỗ Hóa” của “cặp 2 cung vị”, đều có tồn tại tượng nghĩa đặc thù của chúng. Nói cách khác, Cung vị và Tứ Hóa xác định yếu tố tien quyết dẫn đến “mục tiêu gieo tượng”; sự khác nhau giữa các Cung vị, và tượng nghĩa của Tứ Hóa của chúng tất nhiên sẽ có những luận giải ra kết quả không giống nhau.

Trước khi luận giải lá số thì cần định vị “mục tiêu gieo tượng” cái đã, sau đó mới thêm tinh diệu để trình bày và phân tích tổng hợp các tính chất, ngõ hầu đạt được sự trọn vẹn. Nhưng mà, trên mệnh bàn có 12 cung vị còn trong thế gian “những vấn đề nhân sự” lại tồn tại phức tạp không tưởng tượng hết được. Cho nên sự gieo tượng của Tứ Hóa và Cung Vị, nhất định là phải “trải rộng” và “linh hoạt”, do đó cần phải:

V.1, Mỗi một định nghĩa “Bình Diện” của cung vị cho đến những ý nghĩa “Hoạt Bàn” của các tầng sâu hơn ở cung đó, nhất định phải nắm trong lòng cho rạch rõi, sau đó mới có thể hóa tượng đan xen của dạng “Lập Thể hóa”.

QNB chú: Thuật ngữ “Bình Diện” là chỉ các chức năng cung nhân sự ở lá số gốc. Thuật ngữ “Hoạt Bàn” là chỉ sự biến cung sau khi dịch chuyển linh hoạt. Thuật ngữ “Lập Thể hóa” là dạng biến hóa trong không gian 3 chiều, hình học lập thể. Ví dụ, cung Phu Thê ở trên lá số gốc góc độ “bình diện” thì nó đảm nhiệm những vấn đề liên quan tới tình cảm, vợ chồng; ở góc độ “hoạt bàn” thì nó là cái nhà bếp, cái bệnh viện vì nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách], lại nếu như ở hoạt bàn Đại Hạn (giả sử Mộc 3 Cục, Đại Hạn đi nghịch, hiện đang ở Đại Hạn 13-22 trên cung Huynh Đệ) thì cung Phu Thê gốc lại chính là [cung Huynh Đệ của Đại Hạn] và cũng là cái két sắt cất tiền của Đại Hạn 13-22 này vì lúc này nó chính là [cung Điền Trạch của cung Tài Bạch của Đại Hạn này],…

V.2, Suy xét về “nghĩa rộng”, giải thích về “đời sống hóa” những tượng nghĩa của Lộc-Quyền-Khoa-Kị ở giữa các cung vị, sẽ khiến cho những cung bậc cảm xúc hỉ nộ ái ố bừng bừng trên lá số.

Phàm tất cả những người tập luyện môn Phi tinh Tứ Hóa nhiều năm mà vẫn khó có thể tiến sâu hơn, đa phần đều cảm thấy vướng mắc khó khăn ở phân đoạn cơ bản của sự gieo tượng Tứ Hóa và Cung Vị, khiến cho chẳng có cách này đi sâu vào xương tủy của nó. Ở khái niệm cơ bản mà nhận thức chưa đủ như những kiểu chắp vá nghĩa gốc của chúng thì thường đưa ra các đáp án sai, thậm chí nói ngược lại, kết quả của những chuyện đó khiến cho người đến xem số chẳng thể hài lòng hoặc dở khóc dở cười.

Thí dụ như, Mệnh cung phi Lộc nhập vào Quan Lộc cung, chúng ta gọi cung Mệnh là cung “Hóa xuất”, còn cung Quan Lộc là cung “Hóa nhập”. Cái tượng này chúng ta gọi tắt là “Mệnh Lộc nhập Quan”.

Hóa của 2 cung mà sản sinh mối quan hệ đối đãi, dùng cái lập trường của sự đối đãi mà nói, cung của Hóa xuất thì chúng ta ước định có thể gọi là “Nhân cung” (QNB chú: cung nguyên nhân), còn cung Hóa nhập thì ước định gọi là “Quả vị” (QNB chú: vị trí kết quả). Mọi hiện tượng nhân sự và cát hung tốt xấu, đều sẽ không rời xa phạm trù của “Nhân – Quả”.

Những tượng tồn tại ở “Tĩnh bàn” (lá số gốc, hoặc gọi là Thiên bàn, Thái Cực bàn) thì chưa thể nói ngay lên cát hung, do có năm tháng lưu chuyển mà có “Động bàn” (các dạng lá số của Đại Hạn, Lưu Niên,…), có sự ăn khớp của Động bàn thì mới sinh ra sự tăng giảm về cát hung.

Cát hung tốt xấu sinh ra ư động, vậy là “Động” mà sinh (tứ) “Hóa”, hóa mà sau đó sinh “Tượng”, tiếp đó dùng tượng đển phán đoán cát hung. Giống như trong một năm, do thời gian lưu chuyển (động) mà có tứ tượng Xuân Hạ Thu Đông, do sự biến hóa của tượng mà sinh ra các hiện tượng nhân sự khác nhau như: hy vọng (Lộc), tráng thịnh (Quyền), thu hoạch (Khoa), ẩn chứa (Kị).

Đem hiện tượng sinh ra khi phi Hóa của cung nào đó trên lá số đối chiếu với sự thuận lợi theo quy luật của thế giới Tự Nhiên hoặc sự trở ngại theo quy luật của giới Tự Nhiên, để mà phán đoán cát hung tốt xấu.

Khi cái Động bàn (Dụng) biến động ăn khớp với Tĩnh bàn (Thể), thì xuất hiện “Hóa tượng đối đãi” mà sinh ra cát hung. Nói cách khác, Tĩnh bàn vốn có một hóa tượng nào đó, ở thời điểm khác nhau (Đại Hạn, Lưu Niên,… khác nhau), tình huống nhân sự khác nhau, đương nhiên sản sinh ra kết quả khác nhau. Đưa ra thí dụ để nói:

Chúng ta đều biết, 3 cung gồm Phụ Mẫu – Mệnh – Huynh Đệ ở trên mối quan hệ là các cung vị rất thân thiết. Giả sử cung Phu Thê của lá số gốc mà hóa Lộc nhập Mệnh, thì:

Lúc đi đến Đại Hạn thứ hai, chúng ta gọi là “Phu Thê gốc Lộc nhập [cung Huynh Đệ của Đại Hạn]” (nếu Đại hạn đi thuận) hoặc gọi là “Phu Thê gốc Lộc nhập [cung Phụ Mẫu của Đại Hạn]” (nếu Đại Hạn đi nghịch). Bất luận đó là cung Phụ Mẫu hay cung Huynh Đệ thì đều thuộc những cung rất thân thiết. Do đó có thể mạnh dạn suy đoán cái cung Phu Thê này phi Lộc nhập Mệnh gốc lúc ở Đại Hạn thứ hai, thế nào cũng khởi đầu tình cảnh gió xuân hôn lên khuôn mặt (QNB chú: ám chỉ má ửng hồng, tình nồng,…).

Đổi lại là khi tới Đại Hạn thứ ba, thì cung “Phu Thê gốc phi Lộc nhập [cung Phu Thê của Đại Hạn]” (nếu Đại Hạn đi thuận) hoặc “Phu Thê gốc phi Lộc nhập [cung Mệnh của Đại Hạn]” (nếu Đại Hạn đi nghịch). Thời khắc này, về mặt quan hệ đối đãi chính là trực tiếp ăn khớp vào cung vị đương sự, đương nhiên là chuyện tình duyên ắt sẽ trở nên chín muồi rồi.

Nếu như Hóa tinh diễn hóa ở cung vị nào đó mà vẫn là lạc tại “Bản cung” (không có sự phi nhập Tha cung), cái tượng này chúng ta gọi là Bản cung “Tự Hóa”. Hiện tượng Bản cung Tự Hóa này cũng tồn tại những tượng nghĩa đặc thù của nó.

Tỉ như Lộc tinh của cung Mệnh hóa Lộc, tinh diệu này vẫn tọa ở cung Mệnh gốc, cái tượng này chúng ta gọi là [Mệnh cung Tự Hóa “Lộc xuất”], gọi tắt là “Mệnh cung tự hóa Lộc”.

Ngoài ra Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị ở Bản cung, đều kiêu ngạo như tên tượng của chúng. Phàm “Tự Hóa” được gọi là cái “Xuất”, ý nghĩa của nó:

1, “Ở tính ở tình”: dễ dàng dùng tình cảm ngay, sau khi sự việc xảy ra thì đa phần “không thèm đếm xỉa gì nữa”, mặc dù trông có vẻ như là tự tại nhưng mà “thiếu tính nguyên tắc”, thậm chí là mắc phải những thiếu sót “kiêu căng vô vị”, “do dự bất quyết”, “không có tính nhẫn nại”, “vô trách nhiệm”, “không biết rút ra bài học kinh nghiệm”. Phàm sở hữu những khuyết điểm ấy đều không biết kiên định ở sự lựa chọn tốt đẹp theo lý trí.

2, “Ở sự ở vật”: ăn không nói có (Tự hóa Lộc), phô trương thanh thế (Tự hóa Quyền); hờ hững nhân sự, khi có khi không (Tự hóa Khoa), thậm chí gàn dở tự hại mình, có cũng biến thành không (Tự hóa Kị). Không có cái nhìn đại cuộc, chung quy không chịu nổi xung kích, thử thách.

Chính là, Tứ Hóa vốn gửi cái nghĩa ở tại “tự mình tiêu tán” của bản cung. Đặc biệt là “Tự hóa Lộc xuất” và “Tự hóa Kị xuất” tồn tại nguy cơ khá lớn. Tự hóa Lộc xuất giống như có tiền mà để lộ liễu, dễ gặp trộm cướp; Tự hóa Kị xuất thì bản cung tự mình ngầm tiêu tán, cuối cùng thì chẳng còn gì cả.

Dễ lấy lập trường tu hành dẫn dụ, Tự hóa (xuất) đa phần thuộc “cảm giác vô danh” tào lao kiểu như Tùy duyên, Buông xả, Hư không,… xa rời sự thông minh và sáng suốt, chứ chẳng phải là đã đạt được cái diệu hữu chân không của minh tâm kiến tánh.

“Thể” với “Dụng” cần phân biệt rõ ràng, nếu không thì gieo tượng của chúng sẽ tán loạn hoang mang.

Thế nào là “Thể” và “Dụng”?

Cái “Thể”, chính là “12 cung” lá số gốc; cái “Dụng”, là chỉ “cung vị trợ thủ” không thể thiếu khi luận sự việc.

Thí dụ như hỏi về sự việc anh em, lấy cung Huynh Đệ làm Dụng, còn 12 cung trên lá số gốc là Thể vậy. Giả sử, cung Huynh Đệ hóa Kị nhập Thiên Di, thì cái này nói rõ hàm ý là anh em thật thà ngay thẳng. Đây chính là cung “điểm rơi” của Kị được phi hóa bởi cung Huynh Đệ, cung này vẫn cần quy hồi về cung Thiên Di bản thể của đương số để mà giải thích tượng nghĩa. Đây chính là phép tắc gieo tượng được gọi là “Hồi quy Thái Cực”.

Nói cách khác, lấy cung vị của “Hóa xuất” là “Dụng”, còn cung vị “Hóa nhập” cần quy hồi về cung vị bản “Thể” của lá số gốc để mà diễn giải ý nghĩa. Nếu như Dụng không quy về Thể, thì chiêu thức trên có thể lại diễn giải thành ra cung Huynh Đệ hóa Kị nhập [cung Tật Ách của cung Huynh Đệ], thế thì chẳng hóa ra là anh em có cá tính chịu khó vất vả à??? Lời đó hoang đường lạc điệu mất rồi.

Chỗ hóa của “Dụng” cần phải quy hồi về chỗ gieo tượng “Hồi quy Thái Cực” của “Thể”, chính là con đường duy nhất của thủ pháp luận đoán sự việc của Phi tinh Tứ Hóa.

Đẩu Số chính là môn học trí tuệ nghiên cứu cuộc sống, nguyên lý của nó ăn khớp với hiện tượng nhân sự, là thuộc về quan niệm logic suy xét giải tượng, chứ không thể lấy nhân chia cộng trừ của Toán học để tính toán ra kết quả. Chính là bản thân “Tứ Hóa” được gọi là “Ký hiệu” hàm chứa ý nghĩa rộng rãi, có thể đem chúng làm “các giá trị năng lượng” trong một phạm vi nào đó, nhưng nhất định không thể coi là “tham số” giá trị xác định trong Toán học được.
Học tập Tứ Hóa gieo tượng, cần phải để tâm mà cân đo đong đếm giữa Tứ Hóa và Cung Vị. Nếu cẩu thả không nắm rõ tượng nghĩa cơ bản, kết quả phi Hóa cuối cùng sẽ loạn xạ ngập lá số, rồi hãi tới già vì ngay lúc ban đầu đã chưa có sự hiểu cho nó cẩn thận mà.

Phi tinh Tứ Hóa thập nhị cung “624 quyết” sau đây, chỉ muốn lập thành công thức hóa, thuần túy trình bày và phân tích mục tiêu duy nhất. Sau đây nói về chỗ biến hóa tương tác với Tứ Hóa của tha cung phi đến hoặc Tứ Hóa năm sinh giao hội tương tác, tượng nghĩa của chúng sẽ có thể sinh ra sự biến dịch to lớn. Huống hồ, luận mệnh chính là đánh giá tổng quát toàn cục, chứ không được lấy bất kỳ 1 hóa tượng đơn lẻ nào thì mới có thể làm thành kết quả luận đoán chém đinh chặt sắt, để tránh khỏi sai lầm kiểu vơ đũa cả nắm.

Lương Nhược Du cẩn thức.

VI, Tượng nghĩa của Tứ Hóa năm sinh nhập 12 cung mệnh bàn

VI.1, Mệnh cung

VI.1.1, Hóa Lộc năm sinh nhập Mệnh:

* Chủ phúc. Cả đời ít lo, cơm áo không thiếu.

* Thấu tình đạt lý, tùy duyên chứ không cố chấp. Tấm lòng chân thật.

* Không hận thù, khéo ăn ở. Nhân duyên tốt (Mệnh cung và Nô Bộc cũng là cung vị nhất lục cộng tông).

* Hôn nhân, gia đình chung sống đều hòa hợp (Mệnh cung là [cung Phúc Đức của Phu Thê]).

VI.1.2, Hóa Quyền năm sinh nhập Mệnh:

* Chủ quan, chủ kiến, tự lực, tự tin.

* Dễ không khiêm tốn, tự cho mình là đúng.

* Tính cứng, tùy hứng.

* Cách cục tốt thì nắm quyền hành, có tài năng, tích cực, có thể “khai sáng, kiến lập”.

* Thêm Kị thì ngoan cố bảo thủ.

VI.1.3, Hóa Khoa năm sinh nhập Mệnh:

* Tướng mạo lịch sự, văn nhã.

* Các tính khá là tao nhã, văn vẻ.

VI.1.4, Hóa Kị năm sinh nhập Mệnh:

* Cố chấp, câu nệ, khó khai thông.

* Hận thù, phiền não, cáu giận.

* “Tham, sân, si”, đề phòng đi vào ngõ cụt mà không tự nhận ra.

(Tác giả chú: Kị nhập Mệnh là cá tính “thâu liễm” vào trong, không thể mở rộng tấm lòng. Đụng việc rất dễ tự mình “nhiều đắn đo”, tự mình phiền muộn; người có cách cục xấu thì thậm chí nôn nóng, tự bế tắc. Cung Phúc Đức tọa Kị cũng luận giống như vậy).

VI.2, Huynh Đệ cung

VI.2.1, Hóa Lộc năm sinh nhập Huynh Đệ:

* Anh em thuận lợi như ý, anh em chính là “phúc của ta”.

* Anh em ăn ở tốt, tình thâm như chân tay.

* Sự nghiệp một đời nhiều tiền ít trái nghịch (cung Huynh Đệ là vị trí thành tựu), có lợi cho việc thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.

* Không cô quạnh, quanh mình không bao giờ thiếu bạn bè.

* Thân thể ít bệnh (cung Huynh Đệ là vị trí của vận thân thể).

* Duyên phận với mẹ được tốt đẹp.

* Chủ phòng ngủ lớn, tiếng hót họa mi.

(Tác giả chú: cung Huynh Đệ cũng chính là vị trí “tình trạng kinh tế”, được Lộc ắt là kinh tế tốt đẹp, luân chuyển dễ dàng. Dù cho gặp cảnh sơn cùng thủy tận, cũng rất nhanh lóe lên tia hy vọng).

VI.2.2, Hóa Quyền năm sinh nhập Huynh Đệ:

* Anh em rất dễ có thành tựu.

* Dễ có người “anh cả” ở trên mình.

* Sự nghiệp của ta có thành tựu về tiền tài (cung Huynh Đệ là cung vị thành tựu).

* Thể chất khỏe mạnh (cung Huynh Đệ là cung vị của vận thân thể).

* Tài năng của người mẹ rất lớn.

* Chủ phòng ngủ lớn.

VI.2.3, Hóa Khoa năm sinh nhập Huynh Đệ:

* Anh em văn vẻ hào hoa.

* Thu nhập không nhiều, nhưng quản lý tài chính có kế hoạch, kinh tế ổn thỏa.

* Hợp đi làm công an ổn.

* Dưỡng sinh.

VI.2.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Huynh Đệ:

* Thu nhập không nhiều hoặc chi tiêu ra nhiều, đời sống nên “tiết kiệm”.

* Đa phần là người đi làm công ăn lương hoặc buôn bán nhỏ lẻ.

* Giữ gìn thành quả, an định, giữ phận an tĩnh, chăm lo việc nhà.

* Tự mình làm nhiều việc, vừa làm ông chủ vừa kiêm chân tiểu nhị.

* Không kết giao rộng rãi, ưa thích “nội tâm”, thanh tĩnh (xung cung Nô Bộc).

* Nữ mệnh thì rất dễ là theo chuyên ngành thuộc về phụ nữ.

* Mệnh cách mà tốt đẹp, góp cát thành gò, kiến tha lâu đầy tổ.

* Rất dễ là con cả.

* Có thể muốn sáng lập sự nghiệp.

* Tượng của công việc vất vả.

VI.3, Phu Thê cung

VI.3.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phu Thê:

* Có duyên với người khác giới, hôn nhân được hạnh phúc.

* Hoặc ta “đa tình”, đề phòng chuyện “đào hoa” (có Đào Hoa tinh), Tề nhân chi phúc (QNB chú: thành ngữ từ tích “có người nước Tề có cả vợ lẫn thiếp, lại có cả tình nhân bên ngoài”), nếu mà ngoại tình thì khó bị phát hiện.

* Sau khi kết hôn thì mọi việc đều thuận ý toại lòng.

* Công việc như ý (Lộc chiếu Quan Lộc).

* Vận lúc còn trẻ bình an không âu lo (trước Đại Hạn thứ hai)

* Cả đời khá thuận lợi về chuyện tiền bạc (cung Phu Thê là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch]).

* Người phối ngẫu ăn ở tốt “thấu tình đạt lý”.

* Gặp “sao Thiên Tài”: đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.

* Con cái thông minh.

VI.3.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phu Thê:

* Người phối ngẫu có tính chủ kiến mạnh mẽ, nhưng đề phòng dễ xảy ra tranh chấp.

* Vận công việc của ta mạnh mẽ (có Hóa Quyền chiếu Quan Lộc).

* Vận lúc còn trẻ bình an không âu lo (trước Đại Hạn thứ hai)

* Gặp “sao Thiên Tài”: đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.

* Cả đời khá thuận lợi về chuyện tiền bạc (cung Phu Thê là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch]).

VI.3.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phu Thê:

* Người phối ngẫu văn vẻ nho nhã, xinh đẹp.

* Người phối ngẫu có gia thế khá đơn giản.

* Dễ có tình cảm kiểu “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

VI.3.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phu Thê:

* Người phối ngẫu cố chấp, không dễ khai thông, hôn nhân cần phải nhẫn nhịn.

* Hoặc ta “cố chấp vào tình cảm”, gặp người không quen.

* Ít duyên nợ, nhiều trắc trở, chia ly.

* Không lợi ở đào hoa, hôn nhân không giá thú, cẩn thận đề phòng chuyện đào hoa ngang trái (thân bại danh liệt).

* Chớ có đánh bạc, đầu cơ.

* Công việc dễ thay đổi. Cũng có khả năng dễ thất nghiệp (Kị xung Quan Lộc).

VI.4, Tử Tức cung

VI.4.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Tử Tức:

* Dễ có con, sinh được nhiều con.

* Có phúc nhờ con, con cái sẽ không hư.

* Thân thích thường xuyên qua lại.

* Hùn vốn để kiếm tiền.

* Đề phòng đào hoa (nếu có Đào hoa tinh)

* Nhiều cơ hội rời nhà.

* Cảnh tuổi già tốt, có chỗ dựa (Tử Tức là vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).

* Trẻ con theo nhiều.

* Hợp với việc “ra ngoài kiếm tiền”.

VI.4.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tử Tức:

* Con cái có chủ kiến mạnh mẽ, dễ có thành tựu.

* Con cái khó bảo, việc dạy dỗ cần hao tâm tổn sức.

* Có nhiều con cái.

* Hùn hạp thì có thành tựu.

* Hợp với việc “ra ngoài kiếm tiền”

* Cảnh tuổi già tốt.

VI.4.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tử Tức:

* Con cái văn vẻ, nho nhã, xinh xắn.

* Con cái tinh khôn lanh lợi.

VI.4.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tử Tức:

* Con cái cố chấp, khó mà khai thông.

* Hiếm con, con cái không có tiền đồ hoặc chia ly, ít được yên ổn.

* Đối với việc giáo dục con cái “không nắm được điểm mấu chốt”.

* Dễ xảy ra việc hay rời bỏ nhà.

* Dịch mã, chuyển nhà, sa sút tài sản, thiếu năng lực quản lý tiền bạc, phải đề phòng cuộc đời nhiều thăng trần không an định (Kị xung vào cung “thủ thành”).

* Bất động sản ít khi ghi tên của chính bản thân mình.

* Về già đề phòng xui xẻo, hợp với việc tu tâm dưỡng tính (cung Tử Tức chính là vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).

VI.5, Tài Bạch cung

VI.5.1, Hóa Lộc năm sinh nhập vào cung Tài Bạch:

* Có duyên với tiền tài, con đường tiền tài tốt đẹp (không hẳn là do tự mình kiếm ra).

* Cuộc đời không phải lo lắng đến tiền chi tiêu.

* Dễ kiếm tiền.

* Cha mẹ ít đau bệnh.

* Hôn nhân ăn ở khá tốt (cung Tài Bạch chính là vị trí “đối đãi” của hôn nhân).

* Có duyên với tiền tài, thích hợp với các công việc “tiêu thụ hàng hóa” và “thuế vụ”, cũng có thể theo những việc “buôn bán lấy tiền mặt”.

* Lộc mừng có Quyền tới tụ hội, thì “gặp hoàn cảnh tốt” sẽ càng mạnh mẽ chân thực, không gian phát triển càng thêm to lớn. Hội với Khoa thì “nguồn tiền tài lâu dài”, hội với Kị thì phải trải nhiều vất vả.

VI.5.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tài Bạch:

* Kiến thức, tích cực, năng lực đều rất tốt.

* Giỏi về nguồn cung cấp (hàng hóa) trong kinh doanh, thu nhập tốt.

* Thích hợi với công việc lãnh đạo, phát triển, thanh toán thuế vụ. Lợi cho việc thăng tiến, cũng có thể sáng lập sự nghiệp.

* Hợp với kiểu tiền lương ăn chia theo hoa hồng. Không hợp với tiền lương cố định.

* Cha mẹ thân thể cường tráng.

* Quyền mừng có Lộc tới tụ hội, thì “gặp hoàn cảnh tốt” sẽ càng mạnh mẽ chân thực, không gian phát triển càng thêm to lớn.

* Hợp đi sâu vào chuyên môn, có thể được lương cao chức trọng.

VI.5.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tài Bạch:

* Thu nhập không cao, vừa khéo đủ dùng.

* Dễ quay vòng vốn tiểu ngạch.

* Kiến tha lâu đầy tổ, kiểu gì cũng có lợi.

* Thích hợp “đi làm công ăn lương”.

VI.5.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tài Bạch:

* Thích hợp với “tiền lương ổn định”, hoặc làm ăn lấy tiền mặt.

* Vất vả kiếm tiền, cực nhọc mới có lợi nhuận.

* Cách cục mà tốt thì vất vả, bày mưu tính kế, yêu thích kiếm tiền.

* Nữ mệnh rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.

* Cách cục mà tốt, buôn bán nhỏ nhưng kiếm tiền to, góp cát thành đồi.

VI.6, Tật Ách cung

VI.6.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Tật Ách:

* Vật vờ, không chảy mồ hôi, đề phòng bị béo phì.

* Rất dễ thích ứng trong mọi hoàn cảnh.

* Đời sống vật chất khá hậu đãi, hưởng thụ.

* Vận gia đình tốt, ít phải lo nghĩ. Tấm lòng vàng.

* Ít bị “đau đớn” bởi những bệnh mãn tính lâu năm.

* Môi trường công việc tốt (Tật Ách chính là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc]).

* Ăn ở tốt với vợ con (Tật Ách chính là vị trí của người chồng).

* Có duyên với người già bên ngoại, bản thân mình cũng ăn ở tốt (Tật Ách chính là [cung Thiên Di của cung Phụ Mẫu], cũng chính là [cung Phúc Đức của cung Nô Bộc]).

VI.6.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tật Ách:

* Thân thể khỏe mạnh, cường tráng.

* Sức đề kháng mạnh, ít bệnh vặt.

* Sức sống khá mạnh, vận động nhiều.

* Nhưng đề phòng bị tổn thương do va chạm hay té ngã, hoặc do sự vận động dẫn đến tổn thương.

* Năng lực của người cha mạnh mẽ, quyết đoán và dễ có thành tựu.

* Thêm Kị thì tần suất hoạt động càng nhiều.

VI.6.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tật Ách:

* Dễ gặp thầy gặp thuốc khi bị bệnh.

* Hiếm khi tàn bạo, cử chỉ luôn văn nhã.

* Đề phòng sự do dự.

VI.6.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tật Ách:

* Vất vả, không được nhàn.

* Tận lực cho bổn phận, giữ gìn thành quả, cất giấu vào trong.

* Thêm Quyền thì vất vả vô cùng.

* Làm tăng ca, kiêm nhiệm chức vụ. Nữ mệnh thì rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.

* Người cha chính trực, phúc hậu.

* Khó bị béo phì.

VI.7, Thiên Di cung

VI.7.1 Hóa Lộc năm sinh nhập cung Thiên Di:

* Hòa hợp không câu nệ, thân thiện, linh hoạt, hài hước, có duyên với người bên ngoài, hay nhận được sự hoan nghênh chào đón.

* Gặp hung hóa cát, gặp nạn lại được thấy lành.

* Duyên xuất ngoại tốt, có nhiều cơ hội xuất ngoại, hợp với việc “kiếm tiền ở bên ngoài”.

* Thích hợp với “quan hệ xã hội” (PR), công việc “thuế vụ”.

* Vận tuổi già tốt, tướng thọ.

* Hợp với “tiền lương ăn chia theo hoa hồng”.

* Đề phòng kẻ xu nịnh giả vờ thật thà vì sẽ khiến cho không phân rõ được thị phi trắng đen, cũng nên đề phòng quyết đoán thái quá trong trường hợp “ra tay vì việc nghĩa”.

* Gặp sao “Thiên Tài” thì thường đầu cơ, trúng thưởng.

(Tác giả chú: Thiên Di mà nhiều Lộc thì tiêu dao tự tại).

VI.7.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Thiên Di:

* Tích cực, có chí tiến thủ, có sinh lực.

* Quyết đoán, can đảm, ứng biến, thông tuệ, có năng lực, sự khai sáng, kiến lập.

* Thích hợp các công việc lãnh đạo, khai phá.

* Thích hợp công việc chuyên môn, kỹ năng chuyên sâu, lợi ở sự thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.

* Có thể hưởng lương cao hoặc lương theo ăn chia hoa hồng.

* Có thể giành được chức vị cao, địa vị xã hội cao.

* Cách cục xấu, sắc bén, tự phụ, không khiêm tốn, làm phách, kết oán.

* Gặp sao “Thiên Tài” thì thường đầu cơ, trúng thưởng.

(tác giả chú: Ở cung Thiên Di thì Quyền rất mừng được Lộc đến hội, sẽ đủ cả “năng lực” lẫn “hòa hợp”, bổ sung qua lại cho nhau, mọi sự đều thuận).

VI.7.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Thiên Di:

* Văn vẻ phong nhã, thanh tú, xinh xắn, hình tượng tốt đẹp.

* Đề phòng chuyện “mượn cớ che đậy”, “lý do lý trấu”.

VI.7.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Thiên Di:

* Ngay thẳng, thành thật, hướng nội, chất phác, vô tư, không biết lấy lòng. Có tật hay quên, nghiêm túc, cứng nhắc, thiếu tâm cơ tính toán, không giỏi việc “quan sát nét mặt” của người khác mà hành động.

* Không khéo che đậy, không coi trọng hình thức bên ngoài.

* Vụng về trong chuyện “dịch mã” (QNB chú: tức là về di chuyển, đi lại, thay đổi, ứng biến,…)

* Hợp những việc vặt ít phải sắp đặt quản trị, chỉ lo lấy thân mình, thiếu năng lực nắm giữ đại cuộc.

* Không được cá độ, cờ bạc, đầu cơ vì Người tính không bằng Trời tính.

* Đề phòng thiếu tính nhẫn nại, không đủ ý chí.

* Nữ mệnh thì nên an tĩnh giữ bổn phận (không có tài thì giữ lấy đức) (hầu hết đều là cá tính của phụ nữ truyền thống).

* Cách cục xấu, đề phòng bất trắc, bệnh nghề nghiệp.

* Tu hành: Nhất thân thanh tĩnh đạt “La Hán quả vị”.

VI.8, Nô Bộc cung:

VI.8.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Nô Bộc:

* Đối với người khác đều tốt bụng hòa nhã, vui vẻ, nhân duyên tốt.

* Giành được “phúc bạn bè”, dễ được bạn bè tương trợ.

* Đa tình (sao tình cảm).

* Ăn ở tốt với người phối ngẫu (Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê).

* Người phối ngẫu đẫy đà, dễ béo mập.

* Vận thi cử tốt đẹp.

* Kinh tế tốt, thuận lợi mà chi xuất nhiều (quản lý tài sản thiếu nghiêm cẩn).

* Anh em bên ngoại duyên tốt, sự nghiệp của cha mẹ suân sẻ thuận lợi.

VI.8.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Nô Bộc:

* Dễ kết giao được bạn bè có năng lực tốt.

* “Anh em” có địa vị và thành tựu.

* Người phối ngẫu thân thể to lớn.

* Sự nghiệp của trưởng bối trong nhà có thành tựu.

* Vận thi cử mạnh (nếu như Hóa Kị của cung Nô Bộc nhập vào Tam phương của Ta thì ắt là kỳ phùng địch thủ).

* Cách cục tốt, kết giao bạn bè thì ta có thành tựu. Cách cục xấu, dễ bị bạn bè xỏ mũi dắt đi.

VI.8.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Nô Bộc:

* Kết giao được những bàn bè mà đa phần đều khiêm tốn.

* Có tình bạn dài lâu, quân tử chi giao.

* Ít kết giao với những bạn bè bất lương.

VI.8.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Nô Bộc:

* Là người “luyến tiếc tình cảm”, nghĩa khí, trọng nghĩa khinh tài, coi trọng lời hứa.

* Tán tài, ít tích trữ, quản lý tài chính không nắm được mấu chốt, khó tiết kiệm (Kị xung Huynh Đệ cung – chính là Khố vị).

* Người phối ngẫu vất vả không được nhàn, đề phòng hôn nhân thiếu thú vị.

* Vận thi cử kém.

* Còn đề phòng cuộc sống nhiều thăng trầm, hợp với an định đi làm công ăn lương.

* Phòng thân thể không đủ mạnh khỏe.

* Bất lợi ở việc cạnh tranh, thăng tiến.

VI.9, Quan Lộc cung

VI.9.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Quan Lộc:

* Tiếp nhận cơ hội đơn lẻ một cách vững chắc.

* Chức vị khá như ý.

* Người phối ngẫu có duyên tốt với bên ngoài.

* Sức khỏe của con cái tốt (cung Quan Lộc chính là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).

* Đề phòng tình cảm ngoài hôn nhân, hoặc hôn nhân không giá thú (khi có đào hoa tinh).

VI.9.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Quan Lộc:

* Tích cực, ứng biến, sức sống, năng lực đều tốt.

* Giỏi trong việc quản lý nguồn cung cấp, thu nhập tốt.

* Thích hợp những việc khai thác, mở rộng, phát triển, lãnh đạo, có lợi cho thăng tiến. Cũng có khả năng sáng lập sự nghiệp.

* Giỏi về chuyên môn, kỹ năng chuyên sâu.

* Năng lực của người phối ngẫu tốt, một mình đảm đương công việc.

* Sức khỏe của con cái tốt.

VI.9.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Quan Lộc:

* Được quý nhân phò trợ (cung Quan Lộc chính là vị trí của vận khí).

* Ổn định có thừa, nhưng đề phòng không đủ sự dứt khoát kiên quyết.

* Hợp với làm công ăn lương, các công việc thiết kế hoặc làm quan văn, dân sự.

* Đề phòng làm việc “có nhiều do dự”.

VI.9.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Quan Lộc:

* Công việc bận rộn hoặc có nhiều áp lực nặng nề, thời gian công tác kéo dài.

* Chuyên chú, ôm việc vào 1 mình làm, vừa làm ông chủ vừa làm bồi bàn.

* Đi làm công ăn lương hưởng an ổn hoặc buôn bán nhỏ.

* Nữ mệnh thì rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.

* Người phối ngẫu thẳng thắn cương trực, phúc hậu, không khéo nói lời đường mật. Nhưng đề phòng hôn nhân kém lãng mạn, thậm chí là bằng mặt nhưng không bằng lòng (hôn nhân Kị xuất).

* Đề phòng tình cảm ngoài hôn nhân, hoặc hôn nhân không giá thú (khi có đào hoa tinh). (Cung Phu Thê Kị xuất mà mất tình nghĩa, e rằng hôn nhân bị tổn hại).

* Khi còn nhỏ thì hợp “nhận cha mẹ nuôi”, đem cho người nuôi dưỡng, nhận làm con nuôi (xung cung Phu Thê là hạn tuổi thơ).

* Cách cục xấu thì phiền lòng chẳng thuận. Cách cục tốt thì cũng nhiều mệt mỏi.

VI.10, Điền Trạch cung:

VI.10.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Điền Trạch:

* Gia đình phúc hậu, gia đình vui vẻ, đời sống vật chất “hậu đãi”.

* Được “tổ tiên che chở”, thừa hưởng tổ nghiệp, đất tổ tiên có thể phát tích giàu sang.

* Cha mẹ an nhàn, sống thọ.

* Gặp sao “Thiên Tài” thì giàu có. Đông thời có thể theo nghề kinh doanh bất động sản.

* Chỗ ở có điều kiện tốt hoặc phòng ốc rộng rãi, nhà cửa có giá trị.

* Vượng về con cái, sinh được nhiều con, con cái khá có triển vọng thành tựu.

* Họ hàng thường xuyên qua lại.

* Có thể tự mình mở tiệm kinh doanh kiếm lời.

* Có duyên tốt với bất động sản, dễ mua bán hoặc thiết lập hay được giúp đỡ về tài sản.

* Nữ mệnh thì vượng phu ích tử.

VI.10.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Điền Trạch:

* Bản thân dễ kiến lập khai sáng về tài sản.

* Cũng rất dễ sáng lập sự nghiệp.

* Gia đình có truyền thống nhiệt tâm hăng hái, sức sống dồi dào, hoặc gia giáo khá nghiêm.

* Nhà cửa to lớn, bất động sản có giá trị hoặc ở vị trí đoạn đường rất đẹp (vị trí đắc địa). Có thể tự mở tiệm kinh doanh hoặc cho thuê.

* Gặp sao Thiên Tài thì giàu có. Cũng có thể theo nghề bất động sản.

VI.10.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Điền Trạch:

* Nhà cửa phòng ốc không to lớn, nhưng thoải mái dễ chịu và giản dị.

* Trong nhà có “hơi thở của dòng dõi học vấn”, ít có sự tranh cãi ồn ào.

* Đời sống vật chất điềm đạm, không mưu cầu danh lợi.

VI.10.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Điền Trạch:

* Áp lực của sinh hoạt.

* Nhà cửa phòng ốc cũ kỹ hoặc nhỏ bé, hoặc điều kiện ăn ở không được tốt.

* Gìn giữ, tằn tiện, an thân giữ phận, chăm lo việc nhà, vất vả khởi nghiệp.

* Hợp với việc an định, đi làm công ăn lương, buôn bán nhỏ kiếm tiền.

* Cách cục tốt thì “tích cát thành gò”, kiến tha lâu đầy tổ, buôn thúng bán mẹt mà lãi quan viên.

* Ít người qua lại giao thiệp.

* Dễ là “con trưởng”.

* Cha mẹ vất vả không có thành tựu, hoặc là có sự thất vọng.

VI.11, Phúc Đức cung

VI.11.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phúc Đức:

* Vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo, sống vô tư, ít tính toán so đo.

* Thích đủ thứ vì hứng thú rất rộng nhưng mà lại thiếu kiên trì.

* Đề phòng lan man không tập trung, không tích cực, hững hờ vô tâm.

* Có phúc báo tốt, chẳng cầu mà được, lòng nghĩ thì việc sẽ thành, an nhàn có phúc. Gặp dữ hóa lành, hoặc họa chẳng sờ tới tấm thân.

* Thọ cao, tuổi già sung túc.

* Ít bị dày vò do bệnh kinh niên hay bệnh tật hiểm ác.

* Thích hợp với những công việc tinh thần hứng thú vui vẻ, tài hoa, tâm linh. Cũng có thể theo nghề nghiệp du lịch, nghỉ dưỡng, và những công việc mà bản thân yêu thích.

VI.11.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phúc Đức:

* Tích cực, hăng hái, tự tin, mưu đồ, dục vọng.

* Dám kiếm tiền dám tiêu xài, coi trọng đời sống vật chất.

* Phúc hậu, luôn có trách nhiệm.

* Đề phòng ham hố đao to búa lớn, lo giữ thể diện, xa xỉ phung phí.

* Nắm giữ kỹ năng, chuyên nghiệp, thường có thu nhập lớn.

* Làm ăn kinh doanh chất lượng cao (phong cách), vị trí đắt giá, cách làm rất táo bạo.

* Gặp sao Thiên Tài, đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.

VI.11.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phúc Đức:

* An nhàn không màng danh lợi, tu tâm dưỡng tính, không thích hư hoa.

* Cá tính bình hòa, ôn tồn điềm đạm.

* Nội hàm, thanh cao, tĩnh lặng.

* Rơi vào hoàn cảnh cấp bách thì lại được gặp quý nhân.

VI.11.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phúc Đức:

* Coi trọng hưởng thụ, dám tiêu xài (Tài Bạch Kị xuất)

* Đề phòng tính cố chấp quá nặng mà không thể lấy đại cục làm trọng, hoặc ham thú chơi bời hay là mê muội cái đẹp mà không thể tự kiềm chế.

* Thích hợp với các công việc sáng tạo theo hứng thú như thiết kế, nghiên cứu (gặp được Lộc, Quyền thì sẽ hiển đạt).

* Cũng rất thích hợp làm các nghề dịch vụ như trung gian môi giới, tư vấn, viết thuê, kế toán, kỹ thuật (Kị xung Tài Bạch, không thích hợp tính chất “gom hàng, trữ hàng” hay là “dồn vốn, đọng vốn”).

* Bớt có những đam mê xấu như lợi dụng, tửu, sắc,… để tránh khỏi “mê tình vọng dục”, cũng đề phòng chấp vào yêu hận, ưa thích mà tự làm hại cho tương lai.

* Mệnh cách xấu thì nghiệp lực nặng, dễ lo bò trắng răng, khéo lo trời sập. Nữ mệnh càng lộ rõ.

* Hoặc số phận có các kiểu khốn đốn như trái ngang, ly biệt, bị vùi dập.

VI.12, Phụ Mẫu cung

VI.12.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:

* Vẻ mặt ôn hòa, kính cẩn lễ độ.

* Có duyên tốt với người trưởng bối, cha mẹ thấu hiểu.

* Lợi cho việc đọc sách, học hành, thi cử, công chức.

* Giành được sự che chở tí ấm của cha mẹ, cũng dễ được cấp trên đề bạt.

* Nhà ngoại (chồng) có gia cảnh tốt.

* Con cái có sự nghiệp thuận lợi.

* Đề phòng a du gièm pha, tán tụng giả tạo.

VI.12.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:

* Đề phòng “được lý không tha cho người khác”, “ngạo mạn vô lý”, gay gắt, không khiêm tốn, cá tính rất xung động.

* Lợi cho việc đọc sách, học hành, thi cử, công chức.

* Đọc nhiều sách thánh hiền thì lời lẽ có sức mạnh. Học tập chuyên nghiệp, kỹ thuật thì có sức thuyết phục.

* Cha mẹ có tính chủ kiến rất mạnh.

* Sự nghiệp của con cái có thành tựu.

VI.12.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:

* Văn vẻ, khiêm hòa, có khí chất.

* Nói năng nhã nhặn, ôn hòa.

VI.12.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:

* Hỉ nộ đều lộ ra nét mặt, dễ đắc tội với người khác.

* Kém duyên với cha mẹ.

* Cha mẹ cố chấp, không dễ thông hiểu.

* Cá tính nghiêm túc, cứng nhắc, không khéo biểu đạt, không biết lấy lòng.

* Đọc sách, học hành, thi cử đều cần nghiêm túc chăm chỉ. Chăm chỉ thêm 1 chút thì sẽ thu được thành tựu nhiều hơn 1 chút.

* Các cục tốt, hiếu thuận, thích đọc sách. Cẩn thận đề phòng thành con mọt sách.

* Không giỏi “nhìn sắc mặt mà nói chuyện”.

* Cần cố gắng “trách nhiệm hiếu dưỡng”.

VII, Tượng nghĩa của Tam phương Mệnh tự Hóa và hỗ Hóa

VII.1, [Mệnh cung / Quan Lộc cung]

VII.1.1, Mệnh [Lộc nhập] Quan:

* Lạc quan, nhiều ý tưởng, cũng có vận khí tốt, may mắn, dễ tìm được công việc yêu tích của bản thân, chức vụ được như ý hoặc công việc vui vẻ.

* Nhưng “không có nhiều nhiệt tâm”, “chưa đủ chuyên nghiệp”, cũng dễ đứng núi này trông núi nọ. Làm việc nếu như không có hứng thú thì không có sự tích cực chuyên chú, dễ có tư tưởng đổi nghề chuyển việc hoặc có tư tưởng nghỉ hưu sớm.

* Thích hợp làm những công việc có hứng thú với bản thân (tốt nhất là thành thạo 1 nghề) hoặc nghề tự do.

* Người phối ngẫu cởi mở, có duyên với bên ngoại.

* Nhưng đề phòng ngoại tình, hôn nhân ngoài giá thú (gặp sao đào hoa). (bởi vì cung Quan Lộc là vị trí tình cảm không chính thức ngoài hôn nhân)

* Lộc ưa có Quyền đến hội, thì cơ hội sẽ càng dễ chuyển biến thành hiện thực, không gian phát triển sẽ càng to lớn. Hội với Khoa thì ổn định dài lâu. Hội với Kị thì có nhiều vất vả.

VII.1.2, Quan [Lộc nhập] Mệnh:

* Vận khí tốt, may mắn, lạc quan có phúc. Công việc dễ dàng tới tay, cũng dễ có được công việc vừa ý (hàm ý báo trước điềm về thu nhập, thăng tiến, phát triển), chức vụ như ý, gặp đúng thời cơ, tham gia đúng ngành nghề.

* Thích hợp với những nghề tự do hoặc buôn bán tự do, cũng có thể ổn định đi làm công ăn lương, nhưng hợp với nghề ăn chia hoa hồng (vận khí tốt, may mắn, có thể nhiều thu nhập).

* Ăn ở vui vẻ với con cái (cung Quan Lộc chính là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).

* Lộc ưa có Quyền đến hội, thì cơ hội sẽ càng dễ chuyển biến thành hiện thực, không gian phát triển sẽ càng to lớn. Hội với Khoa thì ổn định dài lâu. Hội với Kị thì có nhiều vất vả.

VII.1.3, Mệnh [Quyền nhập] Quan:

* Có trình độ, tích cực, khai sáng, tự tin, có sức sống, ứng biến, đa mưu.

(tác giả chú: Quyền ấy, chính là tùy cơ ứng biến hoặc quyền biến, chính là năng lực của Khai sáng và Ứng biến).

* Năng lực tốt, dễ thăng làm trưởng phòng, ông chủ.

* Thích hợp các công việc thực thi, lãnh đạo chuyên nghiệp, mở mang phát triển, thiết kế, kỹ năng chuyên môn.

* Quyền ưa có Lộc đến hội, thì càng thêm không gian để thuận tay mà phát huy. Hôi với Khoa thì kiêm cả quả cảm và tinh tế. Hội với Kị thì liều mạng.

* Đối với người phối ngẫu thì có thái độ hung hăng (Quyền xung Phu Thê).

VII.1.4, Quan [Quyền nhập] Mệnh:

* Vận khí mạnh mẽ, dễ được đề bạt, nước chảy thành sông có thể phát huy sáng tạo. Thường được chức vụ đắc ý, sự nghiệp càng làm càng lớn.

* Vốn có điềm báo trước về kiến thức và tự tin, tích cực và khai sáng.

* Dễ thăng tiến, sáng lập sự nghiệp. Nắm giữ nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn rất giỏi. Thích hợp để lãnh đạo, mở rộng, khai phá.

* Quyền ưa có Lộc đến hội, sẽ càng có thêm không gian phát huy. Hội với Khoa thì kiêm cả quả cảm và tinh tế. Hội với Kị thì làm việc căng thẳng, khiến người khác hết sức buồn rầu.

VII.1.5, Mệnh [Khoa nhập] Quan:

* Có thừa sự ổn định, nhưng đề phòng không đủ quyết đoán.

* Hợp với đi làm công ăn lương. Thích hợp công việc văn phòng, dân sự, thiết kế.

* Đề phòng gặp việc lại đắn đo cân nhắc.

VII.1.6, Quan [Khoa nhập] Mệnh:

* Bình ổn, bình an, vững vàng, ổn định.

* Được nhiều sự trợ giúp của quý nhân.

VII.1.7, Mệnh [Kị nhập] Quan:

* Chuyên nghiệp, chuyên chú, chịu khó, việc gì cũng đến tay để tự làm, dễ vừa làm hiệu trưởng vừa làm lao công.

* Các cục xấu thì phải đề phòng cá tính “chuyên chú quá thành ra hẹp hòi” mà không thể chu toàn cho đại cuộc.

* Thích hợp với những công việc mang tính kỹ thuật và chuyên nghiệp, chức vụ chuyên trách.

* Nữ mệnh đa phần là theo nghề mang tính chất của phụ nữ.

* Đề phòng dễ xảy ra ngoại tình, hôn nhân ngoài giá thú (có sao đào hoa). (Phu Thê Kị xuất mà mất tình nghĩa, e rằng hôn nhân bị tổn hại).

* Lúc còn bé thì thích hợp “nhận cha mẹ nuôi”, đem cho người khác nuôi dưỡng, bán khoán (Kị xung Phu Thê cung là cung hạn của tuổi thơ).

(Tác giả chú: Lấy tam phương Phúc Đức làm cung vị “Nhân Quả”, cuộc đời của một người thường có những sự việc chẳng phải là cứ làm hết sức thì có thể đạt được họa phúc, được mất,… những cái này đều có liên hệ tới chỗ lực quả báo điều khiển ở tam phương Phúc Đức. Quy nạp lại lấy:

a, “Tuổi trẻ trông vào Phu Thê”: Cung Mệnh bất kể Đại Hạn, những tuổi mà thuộc về thời gian trước Đại Hạn thứ hai đều là mượn cung Phu Thê để dùng. Lấy cung Phu Thê làm “Tuổi thơ Hạn”. Phàm là những người mà Quan Lộc, Phu Thê bị song Kị trở lên tới phá, phải đề phòng những chuyện đáng ngại về sức khỏe cũng như những sự vùi dập trong giai đoạn tuổi thơ.

b, “Lớn lên nhờ cậy ở Thiên Di”: Dù cho điều kiện và hoàn cảnh giống nhau, sự nỗ lực cũng như nhau, vậy mà về sau lại có thành tựu khác nhau, thế là vì như thế nào? Đó chính là có sự khác biệt về sự “gặp gỡ” vậy”. “Cung Thiên Di” chính là “vị trí quả báo” của Nhân-Quả.

c, “Về già dựa vào Phúc Đức”: tuổi già tới không còn lực, toàn là do sự “phước báo” gắn liền với vận mệnh. Khỏe mạnh ư? Con cháu hiếu thảo ư? Thường đều chẳng phải là những điều mà có thể dùng hết sức của mình để có thể nắm trong lòng bàn tay cả.

(Tác giả chú: Người có cung Phúc Đức tốt đẹp, dễ dàng có được cảnh vô ưu vô lo khi về già. Còn “cung Tử Tức” chính là “vị trí nhất lục cộng” của cung Phúc Đức, cho nên nó cũng chính là cung vị để xem vận tuổi già).

VII.1.7, Quan [Kị nhập] Mệnh:

* Cực nhọc (bao gồm áp lực lớn, bận rộn hoặc thời gian làm việc quá dài). Mắc nợ với công việc, sự nghiệp. Vất vả tới già.

* Cách cục xấu ắt sẽ “phiền lòng, chẳng thuận lợi”, cách cục tốt cũng nhiều mệt mỏi.

* Dễ làm những nghề nặng nhọc, bỏ nhiều công sức vất vả mà chẳng thu được mấy công lao.

* Nữ mệnh dễ làm những công việc mang tính chất thuộc về nữ giới.

* Thích hợp với đi làm công ăn lương, hoặc buôn bán nhỏ.

(Tác giả chú: cái “Kị” chính là “thu nhập cố định” hoặc là “vất vả mà thu được”)

(Tác giả chú: lấy “cung vị” mà nói, thông thường thì ở Tam phương Mệnh giao hỗ Kị thì đa phần thuộc về dạng “Lao tâm” – nhọc lòng, lấy điển hình như [Quan Kị nhập Mệnh]. Còn như [Quan Kị nhập Tật] thì lạ thuộc dạng “Lao lực” – nhọc sức; cung Huynh Đệ với cung Quan Lộc là vị trí nhất lục cộng tông, bởi thế nên Kị nhập Tật Ách thì càng thêm “lao lực”).

VII.2 [Mệnh cung / Tài Bạch cung]

VII.2.1, Mệnh [Lộc nhập] Tài:

* Có duyên với tiền tài (chưa chắc đã là giàu có), tiền tới dễ dàng (không nhất định là hoàn toàn do tự bản thân kiếm được tiền), xài tiền thuận lợi.

* Lạc quan, không tích cực, rất dễ thỏa mãn, không so đo tính toán (về tiền bạc), ít quan niệm về tiền bạc.

* Tiền tài thuận lợi mà khiến cho dễ xài nhiều dùng nhiều, nên tăng cường về quan niệm quản lý tiền tài.

* Có duyên tốt với tiền mặt, thích hợp với nghề thuế, các công việc tiêu thụ hoặc là kinh doanh tiền mặt.

* Lộc mừng được Quyền tới hội, thì cơ hội sẽ càng thêm chân thực, không gian mở rộng phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền kéo dài, còn hội với Kị thì vất vả nhiều rồi mới đạt được.

VII.2.2 Tài [Lộc nhập] Mệnh:

* Lạc quan hạnh phúc, thu nhập tốt (không nhất định là hoàn toàn do tự bản thân kiếm được tiền), tiền tới dễ dàng, tiền tài thuận lợi nhưng chưa chắc đã giàu có.

* Thu nhập dễ được khoản to tát, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.

* Có duyên tốt với tiền mặt, thích hợp những công việc thuế má, tiêu thụ và kinh doanh tiền mặt.

* Lộc mừng được Quyền tới hội, thì cơ hội sẽ càng thêm chân thực, không gian mở rộng phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền kéo dài, còn hội với Kị thì vất vả nhiều rồi mới đạt được.

(Tác giả chú: Lộc chính là “phúc”, ắt có không gian phát triển khá to lớn, không phù hợp với việc bị giới hạn về tiền lương hay thu nhập cố định).

VII.2.3 Mệnh [Quyền nhập] Tài:

* Tích cực, khai sáng, chủ kiến, ý đồ, đa mưu, ứng biến.

* Dám kiếm tiền dám tiêu, hoạt động mạnh mẽ. Thu nhập tốt, lợi nhuận cao.

* Dễ dàng thăng tiến, khai sáng sự nghiệp, dễ kiêm chức vụ, có nghề tay trái.

* Thích hợp với những việc khai phá thị trường, lãnh đạo và tiêu thụ.

* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì “cơ hội” sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng lớn.

* Hợp nhất là những chuyên ngành, chuyên môn cao, có thể hưởng lương cao chức lớn, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.

VII.2.4 Tài [Quyền nhập] Mệnh:

* Tích cực, tự tin, phát triển, năng lực tốt, thu nhập cao, lợi nhuận lớn.

* Thích hợp với những công việc khai phá thị trường, lãnh đạo và tiêu thụ. Lợi ở sự thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.

* Hợp nhất là những chuyên ngành, chuyên môn cao, có thể hưởng lương cao chức lớn, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.

* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì “cơ hội” sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng lớn.

VII.2.5 Mệnh [Khoa nhập] Tài:

* Tùy theo mức thu mà chi tiêu, ấm no bình ổn.

* Đối với tiền bạc thì lòng mưu đồ không lớn, hợp với đi làm công ăn lương.

VII.2.6 Tài [Khoa nhập] Mệnh:

* Tiền tài như nước cần chảy nhỏ thì mới được dài lâu, thích hợp buôn bán nhỏ, hoặc thu nhập theo tiền lương.

* Tùy theo mức thu mà chi tiêu.

VII.2.7 Mệnh [Kị nhập] Tài:

* Thích tiền, tính toán, bất kể gian khổ, kiếm tiền chăm chỉ (đối với thu nhập thì ít nhiều cũng không hề có quan niệm tương đối), món tiền lớn nhỏ đều kiếm hết.

* Vất vả, tự làm nhiều việc.

* Nữ mệnh dễ làm những nghề nghiệp mang tính chất phụ nữ.

* Cách cục tốt thì buôn bán nhỏ cũng kiếm được món tiền lớn, nhưng không tránh được vất vả. Cách cục xấu thì “vì tiền mà phiền não”, kiếm tiền vất vả.

* Có thể đi làm công ăn lương và kiêm cả nghề khác hoặc là “buôn bán thu tiền mặt”.

(Tác giả chú: Mệnh Kị nhập Tài là “chỉ vì cái trước mắt”, cho nên hợp với “buôn bán thu tiền mặt”).

VII.2.8 Tài [Kị nhập] Mệnh:

* Làm ăn buôn bán mà lợi nhuận nhỏ, hoặc đổ mồ hôi sôi nước mắt. Hợp nhất là đi làm công ăn lương.

* Cách cục tốt cũng nhất định gian khổ mới thu được tiền tài; Cách cục xấu thì thường vì tiền mà tất tưởi ngược xuôi.

* Hoặc có ý nghĩ chán ghét chuyện vì tiền mà hao tổn tâm trí cho nên không giỏi trong việc quản lý tài chính.

* Gặp các sao Thiên Tài hóa Kị thì phải đề phòng cờ bạc và đam mê tửu sắc mà tự gây ra tội lỗi.

VII.3 [Tài Bạch cung / Quan Lộc cung]

VII.3.1 Tài [Lộc nhập] Quan:

* Buôn bán tốt, quay vòng vốn rất nhanh, chuyện làm ăn thì “càng làm càng thuận lợi” (trong Tam phương của Mệnh thì đều thuộc các cung “Dương động”, cho nên có tượng là “quay vòng đầu tư” mang tính chất thường xuyên).

* Dễ có lương cao, chức lớn, hợp với công việc ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.

* Hợp với buôn bán thu tiền mặt mà có tính chất biến đổi nhanh.

* Lộc mừng có Quyền tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền tài lâu dài, còn hội với Kị thì vất vả gian khổ mới thu được.

VII.3.2 Quan [Lộc nhập] Tài:

* Buôn bán tốt, tiền bạc thu hồi về rất mau, lợi nhuận nhiều hoặc tiêu thụ được số lượng lớn.

* Dễ có lương cao, chức lớn, mức thu nhập cao.

* Hợp với những công việc làm ăn thu tiền mặt mà có tính chất biến đổi nhanh, hoặc những nghề ăn chia theo tỷ suất lợi nhuận.

* Lộc mừng có Quyền tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền tài lâu dài, còn hội với Kị thì vất vả gian khổ mới thu được.

VII.3.3 Tài [Quyền nhập] Quan:

* Tích cực, phát triển (trong Tam phương của Mệnh đều thuộc các cung “Dương động”, cho nên có tượng là “quay vòng đầu tư” mang tính chất thường xuyên). Việc làm ăn càng làm càng to lớn, tài chính càng trôi chảy càng nhiều thêm.

* Dễ dàng có lương cao, chức lớn, hợp với công việc ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng. Cũng dễ dàng khai sáng sự nghiệp.

* Tốt nhất là những công việc thuộc dạng chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá thị trường.

* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn.

VII.3.4 Quan [Quyền nhập] Tài:

* Có chủ kiến, tích cực, có không gian phát triển. Có thể có lợi nhuận cao, thu nhập lớn.

* Tốt nhất là những công việc thuộc dạng chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá thị trường.

* Dễ dàng có lương cao, chức lớn, cũng dễ dàng khai sáng sự nghiệp.

* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì cơ hội càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn.

(Tác giả chú: bất luận là [Tài Lộc nhập Quan] hay là [Quan Lộc nhập Tài] đều chỉ có duyên tốt với tiền tài ở trong sự nghiệp, cho nên hợp theo những công việc thuế vụ và tiêu thụ. Còn như [Tài Quyền nhập Quan] hoặc [Quan Quyền nhập Tài] thì đều thích hợp với các công tác chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá).

VII.3.5 Tài [Khoa nhập] Quan:

* Bình ổn hài hòa chính là phúc, chớ có tham to, đừng cầu lợi nhuận lớn.

* Hợp với các công việc văn phòng, kế toán, thiết kế.

* Hợp với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.6 Quan [Khoa nhập] Tài:

* Lợi nhuận không lớn, Bình ổn hài hòa chính là phúc.

* Hợp với quản lý tài chính, làm sổ sách kế toán.

* Hợp với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.7 Tài [Kị nhập] Quan:

* Không thích hợp với những công việc sản xuất thu hồi vốn chậm và đầu tư vốn lớn.

* Thích hợp với những việc làm ăn vốn nhỏ mà không phải tồn trữ hàng hóa hay đọng vốn, hoặc làm các nghề dịch vụ như cố vấn, kỹ thuật, đại lý thứ cấp.

* Hợp nhất với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.8 Quan [Kị nhập] Tài:

* Chỉ thích hợp với những việc buôn bán nhỏ mà lợi nhuận ít. Cách cục tốt cũng phải trải qua nhiều vất vả mới thu được tiền tài.

* Đề phòng những chuyện đầu tư khó thu hồi vốn, không thể ôm hàng đọng vốn.

* Hợp nhất với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.4 Mệnh cung Tự Hóa

VII.4.1 Mệnh cung Tự hóa Lộc:

* Cá tính tuy là cũng lạc quan thông suốt, khéo ăn ở, nhưng đề phòng tính cách tùy tiện thiếu nguyên tắc, thiếu dụng tâm mà ăn nói ba hoa khiến cho dễ bị mất lòng.

* Đề phòng chuyện đầu voi đuôi chuột, cả thèm chóng chán, cẩu thả cho xong.

* Nếu gặp Tha cung phi Kị nhập vào “ép” Lộc của Tự hóa này (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị thành ra Song Kị”), thì ta thành ra kiểu “mặt nóng dí vào cái mông lạnh của người khác”, “bị gài bẫy” hoặc bị “xỏ mũi dắt đi” đến nỗi kết oán sinh hận.

VII.4.2 Mệnh cung Tự hóa Quyền:

* Cá tính tuy cũng tự chịu trách nhiệm, đề phòng thiếu đi chủ kiến, không tự chủ được thói ưa chém gió.

* Xem như tích cực, nhưng đề phòng không kiên trì mà việc nhiều quay trở, đầu voi đuôi chuột.

* Đề phòng giống như kiểu bụi bậm gặp gió mà khí thế không được lâu dài, được xem trọng nhưng mà lại không được trọng dụng.

VII.4.3 Mệnh cung Tự hóa Khoa:

* Văn chất, thanh tú nho nhã, lanh lợi.

* Nhưng đề phòng do dự bất quyết, nhàn rỗi quá mức.

VII.4.4 Mệnh cung Tự hóa Kị:

* Không mang thù oán, chẳng được kiên trì, thiếu nguyên tắc.

* Việc đã qua thì coi như xong, chẳng thể ghi nhớ bài học kinh nghiệm.

* Nhưng đề phòng thiếu chủ kiến mà lại làm như tự tại chẳng có gì là quan trọng cả, chẳng có quan hệ, trong khi thực ra là thiếu Ý chí với Tính nhẫn nại của bản thân kém cho nên rốt cuộc là vô trách nhiệm.

* Gặp Tha cung phi Lộc vào (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị thành ra Song Lộc”), chính là “người ta đem tiền cấp cho mình”, đã được thuận tiện mà lại còn ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: phàm là sở hữu “Tự Hóa” đều thuộc tính chất “khinh mạn” và “tiêu tán”, đại biểu cho việc xử thế thiếu lý trí phấn đấu lựa chọn cái tốt đẹp và thiếu nguyên tắc, thiếu cái nhìn về đại cuộc).

VII.5 Tài Bạch tự Hóa

VII.5.1 Tài Bạch Tự hóa Lộc:

* Tiền tài dễ tới, đương nhiên cũng là do “tình hình kinh tế thuận tiện” lại không có “khái niệm quản lý tiền tài” mà tiện chi tiêu đi, ít có kế hoạch trù định về tiền tài.

* Rất thích hợp những việc buôn bán thu tiền mặt mà ngày nào cũng thấy tiền, nhưng cần nghiêm khắc tự thân quản lý tiền tài, có tiền khi có thể thì tích trữ.

* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị trở thành Song Kị”), thì là “tiền tài của ta gặp kiếp nạn”, “cấp lại cho người khác”, bị người ta bán đứng mà chẳng biết lại vẫn còn giúp người đếm tiền.

VII.5.2 Tài Bạch Tự hóa Quyền:

* Tiền tài dễ dàng đến gọn cả 1 khoản, nhưng cũng dễ dàng tiêu dùng cả khoản lớn.

* Hợp với buôn bán thu tiền mặt đối với các hàng hóa là nhu yếu phẩm, quay vòng mối sinh lời kiểu trao tay / lướt sóng, tốt nhất đi tiêu thụ những sản phẩm đầu tiên của trào lưu, mốt thời thượng. Cũng có thể đi làm công ăn lương.

* Xem như có vẻ tích cực nhưng không có kế hoạch quản lý lâu dài. Cũng cần tăng cường khả năng quản lý tài chính và bồi dưỡng thành thói quen tích lũy bất cứ lúc nào có thể.

VII.5.3 Tài Bạch Tự hóa Khoa:

* Hợp với đi làm công ăn lương hoặc buôn bán nhỏ kiểu nước chảy nhỏ thì dòng được kéo dài.

* Đề phòng kế hoạch quản lý tài chính thiếu chu toàn, tuy là quay vòng dễ dàng nhưng cũng tăng thêm không ít phiền toán (các khoản tiểu ngạch điều tiết dễ dàng).

VII.5.4 Tài Bạch Tự hóa Kị:

* Kém duyên với tiền bạc. Trong túi thường xuyên chẳng có được nhiều tiền, cứ có nhiều 1 chút là lại xảy ra chuyện để phải chi tiêu đi.

* Tượng này thì tốt nhất là đừng có buôn bán kinh doanh, bằng không thì việc làm ăn kém, lợi nhuận thấp, dù cho là kiếm được nhiều thì cũng phải tiêu tốn cho việc đối ngoại gần hết luôn.

* Thích hợp đi làm công nhận lương cố định, hoặc theo những nghề dịch vụ cố vấn, môi giới, kỹ thuật.

* Gặp Tha cung phi Lộc nhập vào (cung loại tinh diệu “Lộc Kị biến thành song Lộc”), được thuận lợi lại ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: Cung Tài Bạch “tự Hóa” đại biểu cho việc quản lý tiền tài có vấn đề hoặc không dễ để nắm giữ về nguồn tiền tài cũng như các tình trạng tài chính).

VII.6 Quan Lộc cung tự Hóa

VII.6.1 Quan Lộc Tự hóa Lộc:

* Không nên làm nghành nghề sản xuất mà có tính chất chậm thu hồi vốn, cũng không hợp làm với vốn lớn, tốn thời gian, kiểu đầu tư mà dòng mà dòng tiền chỉ có 1 hướng (thí dụ như nhận thầu công trình).

* Nên làm những sản phẩm tiêu thụ phù hợp với xu thế trào lưu, có tính chất đa nguyên (nhiều góc độ, thực thể) hoặc là những việc thu hồi ngắn hạn.

* Hợp nhất với những sản phẩm sáng tạo thời thượng, model, có nhiều phương hướng, cơ động hóa, tốc chiến tốc thắng.

* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị biến thành Song Kị), đề phòng đem tiền đưa cho người ta bị người ta lợi dụng.

VII.6.2 Quan Lộc Tự hóa Quyền:

* Nhìn có vẻ như tích cực, nhưng đề phòng kiểu đầu voi đuôi chuột hoặc không nắm được điểm mấu chốt.

* Làm ông chủ không được lâu dài vững chắc, hợp nhất làm chức vị ổn định kiểu nhân viên công chức.

* Làm kinh doanh thì sẽ tốt đẹp khi áp dụng những cách làm như “đi đầu trào lưu”, “theo đuổi mốt thời thượng”, “sản phẩm sáng tạo”, “vừa đánh vừa rút”. Thủ pháp buôn bán cũng ứng với tính chất cơ động, đa nguyên hóa thì tốt.

* Thích hợp với những công việc kỹ thuật chuyên sâu, chuyên môn hóa. Không thích hợp sự nghiệp sản xuất có đầu tư lớn và thu hồi vốn chậm.

VII.6.3 Quan Lộc Tự hóa Khoa:

* Có thể tăng cường chuyên sâu ở tuyên truyền văn hóa và đóng gói tinh xảo.

* Hợp với đi làm lĩnh lương.

VII.6.4 Quan Lộc Tự hóa Kị:

* Đi làm lĩnh lương là khá ổn thỏa.

* Làm kinh doanh hợp với những cách làm không đọng vốn, không tồn trữ hàng hóa, tốc chiến tốc thắng.

* Thích hợp với các nghề dịch vụ như kỹ thuật, cố vấn, môi giới. Hoặc làm các hàng hóa nhu yếu phẩm như đồ tiêu dùng hàng ngày, đồ tiêu hao, tạp hóa.

* Hết sức khô hợp với ngành nghề sản xuất.

* Gặp Tha cung phi Lộc nhập vào (cùng tinh diệu “Lộc Kị biến thành Song Lộc”), được thuận lợi lại ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: phàm là ở Tam phương của Mệnh Tài Quan gặp Lộc đa phần đều thiên về phía thuế vụ tiêu thụ kiếm lời. Gặp Quyền thì khá thích hợp với lãnh đạo khai phá chuyên nghiệp).

(Tác giả chú: Phàm là cùng 1 loại tinh diệu “Tự hóa Lộc” gặp Tha cung phi Kị nhập vào, hoặc “Tự hóa Kị” gặp Tha cung phi Lộc nhập vào, đều thuộc về sự không hợp với các trạng thái tính cách thông thường của người ta, Lộc Kị biến thành “Song Lộc” hoặc “Song Kị”. Trong cái được và cái mất rất dễ sinh ra các sự việc tranh chấp, kết oán đánh lộn).

VII.7 Tóm lại

Tứ Hóa tương hỗ ở Tam phương Mệnh, bất luận là phi xuất ở cung nào và phi nhập tới cung nào, đều vẫn thuộc về sự tình của một nhà ở trong Tam phương. Cho nên Hóa tượng tương hỗ ở Tam phương, có thể thống nhất những ý tứ của chúng:

VII.7.1 Nhiều Lộc: là “có phước”, cá tính cũng lạc quan tùy duyên mà đa phần đều được như ý. Dẫu không phải là dùng toàn lực để ứng phó, mưu cầu sốt sắng, nhưng vẫn dễ dàng “nước chảy thành sông”, “nguồn tài thuận lợi”. Nhưng cũng đề phòng “chưa đủ tích cực”, “dễ thấy thỏa mãn”. Sáng lập sự nghiệp dù tốt, vẫn cần tăng cường để ý chuyên nghiệp và tích cực. Nhiều Lộc thì dễ được lương cao chức trọng, thu nhập lớn, không phù hợp với tiền lương cố định.

VII.7.2 Nhiều Quyền: vốn có chủ kiến, tinh thần hăng hái, ứng biến phát triển, tích cực năng động, cũng dễ thành ra kiểu giỏi quá thì việc gì cũng đến tay. Dễ được lương cao chức trọng. Làm nhiều hưởng nhiều, đồng thời song hành. Vốn những việc chuyên nghiệp, kỹ năng chuyên sâu thì lại càng có không gian để phát huy. Dễ dàng thăng tiến và sáng lập sự nghiệp. Cách cục tốt, buôn bán thường càng làm càng lớn, tiền tài càng chảy càng nhiều. Cách cục xấu thì thường nặng sự ngang tàng, đề phòng chúng bạn xa lánh.

VII.7.3 Nhiều Khoa: Có thừa sự bình ổn, lại thiếu sự quyết đoán. Hợp với những việc thiết kế, tuyên truyền văn hóa và đóng gói tinh xảo. Bình ổn thì chính là được phúc. Chớ có tham lớn, chớ có hòng lợi nhuận nhiều. Còn đề phòng làm việc chậm chạp, do dự, thiếu sự quyết đoán. Thích hợp an ổn đi làm công ăn lượng hoặc buôn bán nhỏ kiếm tiền dạng dòng nước chảy nhỏ thì chảy được dài.

VII.7.4 Nhiều Kị: Nghiệp lực khá nặng, nhiều vất vả, nhiều công sức trả giá (chưa chắc thu nhập đã nhiều), hoặc lợi nhuận khá nhỏ, tiền kiếm được là dạng mồ hôi nước mắt. Hợp nhất những việc buôn bán thu tiền mặt vì những cái trước mắt, hoặc vừa làm ông chủ vừa làm cu li. Hợp với đi làm công ăn lương. Không thích hợp công việc sản xuất có vốn lớn và thu hồi vốn chậm. Thích hợp với những buôn bán vật tư tiêu hao, nghề dịch vụ, nghề môi giới trung gian, giới kỹ thuật, không tồn đọng vốn hoặc tích trữ hàng hóa. Không được mơ tưởng xa vời kiểu chẳng làm mà cũng có cái ăn (vì Kị xung vào Tam phương của Phúc Đức). Cách cục tốt thì cuộc sống mỏi mệt cũng đánh đổi. Cách cục xấu thì đề phòng làm nhiều mà chẳng được bao nhiêu, đụng 1 chút lại phạm lỗi lầm.

(Nhập môn tử vi đẩu số phi tinh – Lương Nhược Du) -Sưu Tầm

Ba trụ cột của Tứ hóa phi tinh

0

Ba trụ cột của Tứ hóa phi tinh

Ba trụ cột của Tứ hóa phi tinh đó là: Cung chức, tinh diệu và hóa tượng. Gọi tắt là Cung Tinh và Tượng. Cung có nghĩa là cung Tí sửu dần mão thìn Tỵ ngọ mùi thân dậu tuất hợi cố định trên lá số. Chức là chức năng của cung đó. Cung đó có chức năng phụ mẫu phu thê hay tử tức v.v… Giống như người đàn ông có thể vừa là cha đối với con mình, vừa là con đối với cha mình, vừa là chồng đối với vợ mình. Tinh diệu là 18 sao bao gồm 14 chính tinh và 4 sao Tả Phụ Hữu Bật Văn Xương Văn Khúc. Hóa Tượng có nghĩa là Lộc Quyền Khoa Kị. Tất cả các phái đều dựa trên ba trụ cột này để diễn hóa suy luận. Thiếu một trụ cột đều không thể luận chính xác. Cho dù bạn học Phi tinh từ thầy nào và theo đại phái nào thì cũng phải nắm vững Cung Tinh và Tượng. Nói như vậy để bạn hình dung ra trọng tâm học tập Tử vi đẩu số Phi tinh là gì. Nói như vậy cũng để bạn hiểu rằng trụ cột chỉ có ba trụ cột mà thôi, đừng quá hoảng sợ khi mới học và đừng hoang mang lo lắng không cần thiết cho các thông tin khác trong khi ba trụ cột này vẫn chưa vững.


Phi tinh Lương phái xây dựng trên hai Đường Chuyển Kị. Đường Chuyển Kị cho ta biết mối liên hệ giữa cung và cung. Nói cách khác, nó bao hàm Cung chức và Hóa tượng trong đó. Sau khi nắm vững đường Chuyển Kị bạn chỉ cần nắm vững tính lý tinh diệu là bạn hoàn toàn có thể luận đoán tự tin chính xác. Toàn bộ Độc Môn Tâm pháp của Lương phái chỉ nói về đường Chuyển Kị này thôi. Nếu bạn có đọc Tứ hóa Khâm Thiên Bí nghi. Cách xem của Khâm Thiên rất coi trọng tự hóa và tính lý tinh diệu. Một tinh diệu được phân tích cặn kẽ về âm dương về ngũ hành về hóa khí là tài (như Vũ Khúc) hóa khí là ám (như Cự Môn). Thiếu tính lý tinh diệu, Khâm Thiên Bí Nghi dù cao siêu đến đâu cũng không thể luận đoán được tử vi. Và chẳng những Khâm Thiên mà bất cứ phái nào cũng vậy.

Do mối quan hệ giữa cung chức với cung chức bằng hóa tượng (Lộc chuyển Kị và Kị chuyển Kị) là có hạn và có quy luật có thể công thức hóa được, cho nên chúng ta cần nắm vững trước. Sau khi đã xét đoán kỹ lưỡng Cung chức và Hóa tượng, chúng ta mới xét đến Tinh diệu. Tính lý của Tinh diệu đa dạng phong phú linh hoạt và không có công thức cố định. Sau khi thành thạo Chuyển Kị và Xuyến Liên thủ pháp, việc kết hợp tính lý tinh diệu để luận đoán hoàn toàn do tài năng kinh nghiệm và sự ứng biến của bạn.

(Phi tinh Lương Phái – Alex Alpha)

Đường Kị chuyển Kị trong Lương Phái

0

Đường Kị chuyển Kị trong Lương Phái

Đường Kị chuyển Kị cho biết sự kết nối các cung chức bằng mối quan hệ kiểu Kị. Thông thường mối quan hệ này thường được coi là xấu. Số lượng Kị xuyến liên (kết nối) các cung thể hiện mức độ xấu và bất ổn của mối quan hệ này. Trước hết chúng ta cần nắm vững nguyên tắc Kị chuyển Kị và nguyên tắc dừng Kị chuyển Kị. Kị chuyển Kị xảy ra khi năng lượng Kị tràn đầy. Năng lượng Kị đó của năm sinh, của mệnh cung, và của số đông (trường hợp Truy Kị).

Truy Kị là trường hợp có cung phi Hóa Kị đuổi theo và gặp nhóm cung ta đang xét. Ví dụ ta đang xét nhóm cung A B C trong đó cung A hóa Kị nhập cung B và cung B chuyển Kị nhập cung C, thì có một cung D nào đó hóa Kị nhập cung C. Khi đó là cung D Truy Kị tới cung C, và cung C có thể tiếp tục chuyển Kị sang một cung khác. Truy Kị chỉ cần đồng cung là cung C (cung vừa nhận chuyển Kị từ cung B). Nhưng Truy Lộc Truy Quyền từ cung D tới cung C cần cùng tinh diệu với tinh diệu vừa nhận chuyển Kị tại cung C thì mới có thể tiếp tục chuyển Kị.

Nguyên tắc Kị chuyển Kị như sau:

  • Hóa Kị năm sinh đương nhiên chuyển Kị
  • Hóa Kị cung mệnh đương nhiên chuyển Kị
  • Truy Kị (không cần cùng tinh diệu) đương nhiên chuyển Kị

Hóa Kị năm sinh là quyền của thái tuế đương nhiên tiếp tục chuyển Kị. Ví dụ Hóa Kị năm sinh tọa cung A can Bính, như vậy Hóa Kị năm sinh tiếp tục chuyển Kị đến cung có sao Liêm Trinh (Bính hóa Kị tại Liêm Trinh). Tương tự như vậy mệnh Kị (hóa Kị xuất từ cung an mệnh) là quyền của Chủ quyền của Cực (tức cung Mệnh là lập cực của toàn lá số, cung Mệnh là lí do 11 cung chức còn lại tồn tại), cho nên mệnh Kị đương nhiên chuyển Kị. Truy Kị là trường hợp hai cung cùng hóa Kị vào một cung, cung đó nhận năng lượng Hóa Kị từ hai cung nên tràn đầy và sẽ tiếp tục chuyển Kị tới cung khác. Giống như hai cốc nước cùng đổ vào một cốc khác có cùng dung tích thì đương nhiên sẽ tràn nước ra ngoài.

Nguyên tắc dừng Kị chuyển Kị như sau:

  • Cung vừa được chuyển Kị lại tự hóa Kị xuất
  • Chuyển Kị tạo thành vòng lặp luẩn quẩn
  • Không có cung Truy Kị

Chuyển Kị dừng lại khi không thể tiếp tục chuyển nữa. Cung tự Hóa Kị xuất là cung đó tự phi Kị vào chính nó đương nhiên đứng im tại chỗ. Chuyển Kị tạo thành vòng lặp luẩn quẩn ví dụ cung A chuyển Kị sang B, cung B lại chuyển Kị về A, có chuyển nữa cũng trong vòng lặp đó mãi mãi không ra khỏi. Không có cung Truy Kị là trường hợp dừng chuyển Kị khi hết năng lượng. Tại cung vừa được chuyển Kị tới không có năng lượng để đi tiếp thì đương nhiên dừng chuyển Kị.

(Phi tinh Lương Phái – Alex Alpha)

Đường Lộc chuyển Kị trong Lương Phái

0

Đường Lộc chuyển Kị trong Lương Phái

Đường Lộc chuyển Kị cho biết sự kết nối các cung chức bằng mối quan hệ kiểu Lộc. Thông thường mối quan hệ này thường được coi là tốt. Số lượng Lộc xuyến liên (kết nối) các cung thể hiện mức độ tốt của mối quan hệ này. Trước hết chúng ta cần nắm vững nguyên tắc Lộc chuyển Kị và nguyên tắc dừng Lộc chuyển Kị. Lộc chuyển Kị xảy ra khi năng lượng Lộc tràn đầy. Năng lượng Lộc đó của năm sinh, của mệnh cung, của Tự hóa Lộc và của số đông (trường hợp Truy Lộc cùng tinh diệu).

Tử Vi Việt Nam Sưu Tầm

Nguyên tắc Lộc chuyển Kị như sau:

  • Hóa Lộc năm sinh đương nhiên chuyển Kị
  • Hóa Lộc cung mệnh đương nhiên chuyển Kị
  • Tự hóa Lộc đương nhiên chuyển Kị
  • Truy Lộc (nhất thiết phải cùng tinh diệu) đương nhiên chuyển Kị

Hóa Lộc năm sinh là quyền của thái tuế đương nhiên tiếp tục chuyển Kị. Ví dụ Hóa Lộc năm sinh tọa cung A can Bính, như vậy Hóa Lộc năm sinh tiếp tục chuyển Kị đến cung có sao Liêm Trinh (Bính hóa Kị tại Liêm Trinh). Tương tự như vậy mệnh Lộc (hóa Lộc xuất từ cung an mệnh) là quyền của Chủ (tức cung Mệnh là lập cực (Chủ) của toàn lá số, cung Mệnh là lí do 11 cung chức còn lại tồn tại), cho nên mệnh Lộc đương nhiên chuyển Kị. Tự Hóa Lộc là cung đó tự phi Lộc về chính nó, Hóa Lộc này là phi.
Lộc đặc biệt và được coi như nguồn Lộc hiện hữu. Nếu niên Lộc là kho tiền quốc gia thì Tự hóa Lộc có thể coi là kho tiền địa phương. Truy Lộc là trường hợp hai cung cùng hóa Lộc vào một tinh diệu, tinh diệu đó nhận năng lượng Hóa Lộc từ hai cung nên tràn đầy và sẽ tiếp tục chuyển Kị tới cung khác. Giống như hai cốc nước cùng đổ vào một cốc khác có cùng dung tích thì đương nhiên sẽ tràn nước ra ngoài. Chuyển Kị ở đây là dòng chảy là hướng đi của Hóa Lộc.

Nguyên tắc dừng Lộc chuyển Kị như sau:

  • Cung vừa được chuyển Kị lại tự hóa Kị xuất
  • Lộc chuyển Kị tạo thành vòng lặp luẩn quẩn
  • Không có cung Truy Lộc cùng tinh diệu

Lộc chuyển Kị dừng lại khi không thể tiếp tục chuyển nữa. Cung tự Hóa Kị xuất là cung đó tự phi Kị vào chính nó đương nhiên đứng im tại chỗ. Chuyển Kị tạo thành vòng lặp luẩn quẩn ví dụ cung A chuyển Kị sang B, cung B lại chuyển Kị về A, có chuyển nữa thì Lộc cũng trong vòng lặp đó mãi mãi không ra khỏi. Không có cung Truy Lộc cùng tinh diệu là trường hợp dừng chuyển Kị khi hết năng lượng. Tại cung vừa được Lộc chuyển Kị tới không có năng lượng để đi tiếp thì đương nhiên dừng chuyển Kị. Khác với Truy Kị, Truy Lộc nhất định phải cùng tinh diệu mới có thể tiếp tục chuyển Kị.

(Phi tinh Lương Phái – Alex Alpha)

Xuyến liên thể dụng Lương Phái

0

Xuyến liên thể dụng Lương Phái

Bất cứ cung nào cũng có khả năng phát động phi hóa, nhưng không phải lúc nào cũng có quyền phát động phi hóa. Giống như cá nhân chúng ta trong biển người đều có thể phát ngôn, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng nắm được micro phát ngôn cho cả biển người nghe. Quyền phát ngôn đó thuộc về Thái Tuế, quyền phát ngôn đó thuộc về Mệnh cung, và quyền phát ngôn đó thuộc về những cung được lựa chọn làm Thể Dụng. Đại vận và lưu niên thái tuế nắm thời lệnh, cho nên cũng có quyền phát ngôn, và khi người nắm lệnh phát ngôn, không ai có thể ngó lơ. Bất cứ cung nào cũng có thể được lựa chọn làm Thể Dụng, giống như phép chọn dụng thần của bốc dịch, cho nên bạn cần hiểu Thể Dụng là linh hoạt. Những công thức Thể Dụng giới thiệu trong sách này là cơ bản, và bạn hoàn toàn có thể lựa chọn bộ Thể Dụng của riêng mình nếu thấy đúng và hợp lý.

Đầu tiên cần nắm vững cung Thể và cung Dụng là gì. Cung Thể là một cung hoặc nhiều cung trực tiếp cho biết vấn đề ta cần xét, ví dụ xét gia đạo thì cung Điền là cung Thể. Cung Dụng là những cung có liên quan trực tiếp tới vấn đề ta xét. Ví dụ cung mệnh cung phúc cung di là ba cung liên quan trực tiếp tới vấn đề gia đạo ta xét. Cho nên những cung có tính chất giống nhau được dùng là nhóm cung có cùng chức năng, chức năng Thể hoặc Dụng. Việc phân thể dụng cũng như phân ra âm dương, như phân ra tay trái và tay phải, hai tay vỗ vào nhau mới thành tiếng. Khi thể va chạm tương tác với dụng thì mới xảy ra sự kiện. Cảnh sát gặp tội phạm mới xảy ra sự kiện bắt bớ giam cầm nghiêm trọng. Cảnh sát gặp cảnh sát là cùng phe, không xảy ra sự kiện bắt bớ giam cầm. Sau này khi xem vận, bạn phải đặc biệt lưu ý điều này. Như xem tính cách, cần xuyến liên ba cung là mệnh phúc và tật. Ba cung này là một phe, cho dù coi đó là Thể hay Dụng. Bởi vì ba cung này có mối quan hệ nhất lục cộng tông. Mệnh là 1 thì tật là 6, tật là 1 thì phúc là 6. Cho nên ba cung này cùng tông, có thể xếp chung với nhau. Khi đó Tật và Phúc làm rõ nghĩa cho mệnh. Và xuyến liên ba cung để đoán định đương nhiên đầy đủ và chính xác hơn chỉ xem một cung bất kỳ trong ba cung đó. Giống như ta có ba góc nhìn về một vật thể, ta có ba thông tin về một sự kiện, đương nhiên sự xét đoán sẽ đầy đủ và chính xác hơn.

Ta hiểu ở đây có thể tìm mối liên hệ giữa các cung Thể, coi nó là nhóm cung Thể. Hoặc có thể tìm mối liên hệ giữa các cung Dụng, coi nó là nhóm cung Dụng. Nhưng các nhóm đó chưa tạo ra sự kiện. Sự kiện được xảy ra khi có sự va chạm tương tác giữa cung Thể và cung Dụng. Xuyến liên Thể Dụng là đi tìm mối liên hệ giữa cung Thể và cung Dụng bằng hai đường Lộc chuyển Kị và Kị chuyển Kị. Nếu có nhiều cung Thể, hoặc nhiều cung Dụng, ta vẫn cứ xét tương tác đôi một giữa hai cung Thể Dụng. Sau đó kết nối tất cả các tương tác đôi một nói trên thành bức tranh chung để đánh giá.

Số lượng Lộc hay Kị trong xuyến liên thể dụng cho ta biết cường độ tốt xấu của các liên kết đó.

Xuyến liên thể dụng cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Dụng quy về Thể
  • Dụng bất ly Thể
  • Dụng xung phá Thể

Nói tóm lại làm sao cho Dụng gặp được Thể. Trong nam phái ta có cung Tí xung cung ngọ, khi đó cung Tí gặp cung ngọ bằng mối quan hệ tương xung. Tương tự như vậy cung Tí gặp cung sửu bằng mối quan hệ nhị hợp. Cung Tí gặp cung thìn bằng mối quan hệ tam hợp. Nhưng trong tứ hóa phi tinh, các cung có thể gặp nhau bằng Lộc hoặc Kị. Ví dụ một cung A hóa Kị nhập cung B là cung A gặp cung B bằng mối quan hệ Kị. Cung A hóa Kị nhập cung B sau đó chuyển Kị sang cung C là cung A gặp cung C bằng mối quan hệ Kị. Cung A hóa Kị nhập cung B, cung C cũng hóa Kị nhập cung B, khi đó cung A gặp cung C tại cung B bằng mối quan hệ Kị. Cứ như vậy cung Dụng có các cách gặp cung Thể nhìn qua công cụ Kị sẽ có những trường hợp như sau (xem ví dụ cụ thể trên hình vẽ tương ứng):

  • Đồng cung tương bách (bách trong từ bức bách nghĩa là chèn ép nhau)
  • Lưỡng đầu kiến Kị (hai cung xung nhau đều có Kị)
  • Kị xung phá Thể (Kị của cung dụng tới đối cung với cung Thể)

Sau khi xuyến liên được cung Dụng và cung Thể bằng Kị hoặc Lộc, cần đếm số lượng Kị hoặc Lộc trong xuyến liên này. Có bao nhiêu Kị, có bao nhiêu Lộc đi xuyên qua các cung này. Số lượng Kị hay Lộc thể hiện cường độ xấu tốt của xuyến liên.
Cách đếm số lượng Kị trong xuyến liên (cách đếm số lượng Lộc là tương tự):

  • Số lượng Kị trong một trục được tính bằng cộng gộp hai đầu, ví dụ đầu Tí có 3 Kị, đầu ngọ có 2 Kị thì coi như trục Tí ngọ có 5 Kị, và coi như đầu Tí có 5 Kị và đầu Kị cũng có 5 Kị. Ta hiểu là Kị ở bất cứ đầu nào trong trục cũng có thể ảnh hưởng trong toàn trục.
  • Không tính Tự hóa Kị xuất vào số lượng Kị trong xuyến liên, nhưng khi luận thì lưu ý luận tượng Kị xuất. Tượng Kị xuất là gì thì xem cụ thể trong phần Kị xuất.
  • Lưu xuất Kị trong các trục được cộng vào số lượng Kị trong xuyến liên. Ví dụ cung Tí tọa 3 Kị và cung ngọ tọa 2 Kị. Trong khi đó cung Tí lưu xuất Kị tới cung ngọ, như cung giáp Tí mà cung ngọ có sao Thái Dương thì Tí lưu xuất Kị sang ngọ. Khi đó trục Tí ngọ có tổng cộng 2 + 3 + 1 = 6 Kị.
  • Không tính số Kị bị trùng lặp Hóa Kị và chuyển Kị. Ví dụ cung Điền hóa Kị nhập cung Phúc, cung Phúc hóa Kị nhập cung Di. Khi xem gia đạo hưng suy, cung Điền cung Phúc đều là những cung có quyền phát động Hóa Kị. Thế nhưng ở đây có sự trùng lặp Hóa Kị từ Phúc sang Di và Chuyển Kị từ Phúc sang Di, cho nên cả chuỗi Điền-Phúc-Di chỉ tính có 1 Kị chứ không phải 2 Kị.

Theo như cách tính số lượng Kị trong xuyến liên trên đây, thì nếu trong quá trình xuyến liên, càng có nhiều lưu xuất Kị thì số lượng Kị càng nhiều, có nghĩa là xấu. Lưu xuất Kị trong các trục hàm ý mâu thuẫn nội tại, tự mâu thuẫn bên trong vấn đề làm cho vấn đề càng xấu đi.

(Phi tinh Lương Phái – Alex Alpha)

- Advertisement -