31 C
Hanoi
Thứ Hai, 8 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 37

Cách cục của Tham lang trong Tử vi

0

PHIẾM THỦY ĐÀO HOA

Nếu đồng độ với Kình Dương, Đà La thì là người chủ về thích rượu chè, hút sách, cờ bạc, mê hoa luyến sắc, nếu ở cung Hợi, Tí thì gọi là cách Phiếm Thủy Đào Hoa.

Ở cung Hợi, Liêm Trinh Tham Lang đồng độ với Đà La. Ở cung Tí, có 2 trường hợp là Tham Lang độc tọa và Tham Lang đồng độ với Kình Dương (tuổi Nhâm có mệnh an tại Tí cung, Tham Lang giữ mệnh tất có Kình Dương đồng độ). Đối với tuổi Quý, mệnh an tại Hợi cung, có Liêm Trinh, Tham Lang giữ mệnh, tất có Đà La đồng độ, người tuổi Quý nếu có cách Phiếm Thủy Đào Hoa sẽ thê thảm hơn người tuổi Nhâm, do tuổi Quý sao Tham Lang hóa khí thành Kị. Như vậy, cách Phiếm thủy Đào Hoa là gì, đó là cách vì ham luyến sắc dục và uống rượu, cờ bạc mà chuốc lấy tai họa. Tình huống cụ thể thế nào cần phải phối chiếu với cung Phúc Đức, Tài Bạch và Tật Ách để xác quyết. Các tình huống này nếu có Tuần Không, Triệt Không đồng độ thì mức độ tai họa được chế giảm đi rất nhiều, nhưng tính phong lưu, hiếu sắc vẫn không thay đổi.
Ngoài Tỵ và Hợi cung ra, khi Tham Lang đồng độ với Kình Dương, Đà La ở các cung khác cũng được xem là Phiếm Thủy Đào Hoa, nhưng mức độ nhẹ hơn Tỵ Hợi rất nhiều.


PHONG LƯU THẢI TRƯỢNG

Khi Tham Lang độc tọa tại Dần cung có Đà La đồng độ (người tuổi Ất) hoặc Thiên Hình đồng cung (không có Thiên Không) thì cũng vì mê hoa luyến sắc mà mang họa. Cách này gọi là Phong Lưu Thái Trượng. Vậy sự khác nhau giữa Phiếm Thủy Đào Hoa và Phong Lưu Thái Trượng như thế nào. Điều này làm cho người nghiên cứu mệnh lý rất thường nhầm lẫn và khó phân biệt. Thật ra, 2 cách này xét về họa thì không khác nhau, nhưng trong tiến trình dẫn dắt đến tai họa có một chút khác nhau. Cách Phong Lưu Thái Trượng bao hàm do luyến sắc có tình cảm, tức là si mê ai đó mà có tình cảm của đương số ở trong đó, dẫn đến cơ nghiệp, sự nghiệp tan tành, giống như vua U Vương mê Bao Tự, Trụ Vương mê Đắc Kỷ vậy. Còn Phiếm Thủy Đào Hoa thì không, tai họa do ăn chơi, tửu sắc, trụy lạc mà ra nhưng trong đó không bao hàm tình cảm của đương số.

CỰC CƯ CHẤN ĐOÀI

Giới nghiên cứu tử vi và các vị hành nghề tử vi hầu như ai cũng cũng thuộc nằm lòng câu phú: “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng, thập nhân chi mạng cửu nhân tăng”. Như vậy, cách cục tử vi Tham Lang đồng cư Chấn Đoài có gì ghê gớm mà có tồn tại câu phú trên. Tiếp theo chuyên mục của sao Tham Lang, trong phạm vi bài phân tích này tôi muốn gửi đến các bạn đã và đang nghiên cứu mệnh lý tử vi có một cái nhìn chi tiết và sâu sắc hơn về cách cục Tử Tham
Mão Dậu (Cực Cư Chấn Đoài).
Sao tử vi khi nhập vào 2 cung Mão Dậu thủ mệnh là ở thế vượng địa, lúc bấy giờ Tham Lang tinh ở thế lợi địa đồng tọa thủ. Tài Bạch cung sẽ tọa ở Tỵ hoặc Hợi có Vũ Khúc, Phá Quân ở thế bình đồng tọa, Liêm Trinh và Thất Sát sẽ đồng nhập Quan Lộc cung tại Sửu hoặc Mùi. Tại Sửu hoặc Mùi Thất Sát điều miếu vượng, Liêm Trinh ở thế lợi. Do tử vi hội hợp với nhóm sao hành động Sát-Phá-Liêm-Tham nên tạo thành cục diện phân tranh giữa 2 thế lực chính và tà, phe nào thắng cần phải xem sự hội hợp của Tứ sát tinh, cát hóa và dâm tinh nhiều hay ít.
Kết cấu này nếu không có gặp tứ sát tinh như Kình Dương-Đà La, Địa Không- Địa Kiếp và Hóa Kị xung phá hoặc dâm tinh như Hàm Trì, Mộc Dục, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Dao thì về cơ bản là cách cục khá tốt. Tại sao? Vì sao Tham Lang là sao đa tài đa nghệ, mà tử vi ở Mão Dậu là thế vượng, nên sẽ chế phục được Tham Lang, khiến cho tính đào hoa của Tham Lang không có đất dụng võ, không thể lôi kéo tử vi vào cảnh tình phong lưu hiếu sắc. Mệnh tạo là người có tính tình hào phóng, có cuộc sống khá sung túc và chủ về sống thọ. Tuy nhiên, khi so sánh 2 cung Mão và Dậu, thì kết cấu này ở cung Dậu sẽ có phần cát lợi hơn cung Mão khá nhiều. Vì khi tử vi, Tham Lang ở Dậu, lúc bấy giờ sao Thái Dương sẽ ở thế miếu địa nhập Tử Tức cung ( cung Li), gọi là Nhật Lệ Trung Thiên, sao Thái Âm cùng Thiên Cơ nhập Thân cung, tại Thân cung sao Thái Âm được gọi là Thiên Hoàng, như vậy cả 2 vầng Nhật Nguyệt điều hữu quang chiếu vào Điền Trạch cung tại Tí có Thiên Lương miếu địa độc tọa. Vũ Khúc, Phá Quân ở Tỵ cung, cho dù ở Tỵ hay ở Hợi, thì kết cấu Vũ Khúc-Phá Quân điều có lực khá yếu, khó thành thượng cách. Kết cấu này chủ về có ý tưởng, suy nghĩ, hành động đột phá mà sinh ra tiền tài. Tài vật khi vào thì khá nhiều, nhưng tiêu tán cũng rất lớn, rất khó tích lũy được. Nhưng kết cấu Vũ Khúc-Phá Quân tọa Tỵ có phần cát lợi hơn ở Hợi. Vì sao? Vũ Khúc là Tài Bạch chủ, ngũ hành thuộc ( -Kim). Tỵ là đất của mùa hạ, Vũ Khúc ở đây được Hỏa rèn luyện, nên mặc dù đi cùng Phá Quân là không được cát lợi, nhưng tính kiếm tiền của Vũ Khúc được Hỏa của Tỵ cung nung rèn, nên trong gian lao sẽ có thành tựu. Trong khi Vũ Khúc đến Hợi cung là Kim gặp Thủy, nên kết cấu Vũ Khúc- Phá Quân tại Tỵ cát lợi hơn tại Hợi cung khá nhiều khi chúng ta xét về mặt kiếm tiền.
Nếu không hội tụ tứ sát tinh, thì cách Tử Tham Mão Dậu sẽ khá tốt cho 3 tuổi sau: Giáp, Mậu, Kỷ. Đối với tuổi Giáp, do Liêm Trinh Hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Kị. Đây là mệnh cách tam kỳ gia hội, phú quý tột bực, trong đó, tuổi Giáp Dần và Giáp Ngọ là đệ nhất cách. Đối với mệnh nam tuổi Giáp, ra ngoài được nhiều người khác phái yêu thích, lấy vợ ở xa quê hương, nhưng khi đi vào giữa đại vận thứ ba, dễ bị phụ nữ ruồng bỏ, lâm vào cảnh thất tình, làm cho ngọc đá điều tan nát.
Đối với người tuổi có hàng thiên can là Mậu, do có Lộc Tồn tại Tỵ, Tham Lang Hóa Lộc, nếu mệnh cung an tại Dậu thì là mệnh cách Song Lộc Triều Viên hay còn có tên gọi khác là Lộc Hợp Uyên Ương, nguồn tiền tài bất tận, nếu không là người giàu sang giữa thiên hạ thì cũng hơn rất nhiều người khác trong xã hội kim tiền hiện nay. Tại sao như vậy? Trong bất cứ xã hội nào, phong kiến hay xã hội hiện đại, thì đồng tiền đi trước luôn được gọi là đồng tiền khôn, người có Tham Lang Hóa Lộc thì sẽ rất lanh lợi, lém lĩnh, bản chất Tham Lang là sao có tài ngoại giao khá tốt. Khi Tham Lang Hóa Lộc là người biết dụng Tài để tạo ra Tài, hoặc dụng Tài để tạo ra Quyền. Nên nếu mệnh cách của người tuổi Mậu có mệnh an tại Dậu đi vào chính giới hay thương mại điều có sự thành tựu lớn. Trong các tuổi có hàng thiên can là Mậu, thì người tuổi Mậu Tí Dương nữ mệnh an tại Dậu hay Mão điều đạt được cách tốt, nhưng mệnh an tại Dậu sẽ đạt được cách tốt của Song Lộc Triều Viên trọn vẹn, thành đạt từ đại vận thứ 3, nếu mệnh an tại cung Mão thì từ đại vận thứ 4 mới phát lên. Nhưng đối với mệnh cách này, khá đa tình, nếu Phúc Đức cung mà hội nhiều sát tinh, thì từ đại vận thứ ba, sẽ đỗ vỡ tình cảm vợ chồng vì chuyện tình nam nữ với người đàn ông khác bên ngoài. Đối với tuổi Mậu Dần, mệnh an tại Dậu, thì Tuần Không vây mệnh và Triệt Không tọa Quan Lộc cung, Hàm Trì chiếu mệnh. Do là người tuổi Dương, nên tác dụng của Tuần Không và Triệt Không khá mạnh. Mệnh cách vẫn hưởng phú quý, ra đời luôn gặp người khác phái yêu thích, để ý theo đuổi nhưng vẫn luôn giữ được sự thanh bạch trong tâm hồn, thường hay suy nghĩ về đạo, tôn giáo, tâm linh, về già thường hay tìm chỗ tu hành, có thể tu tại gia. Người tuổi Mậu Thìn, có mệnh an tại Dậu, do Thiên Không đồng độ với Lộc Tồn tại Tỵ (Thiên Không đóng ở đất tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi là đúng vị Không Vong) nên phá đi Lộc Tồn, khiến cho tiền tài từ sao này sẽ trở thành hư không. Lúc bấy giờ Phúc Đức có Thiên Tướng ngộ Tuần Không, mệnh cung có Hàm Trì tọa thủ. Tuổi Mậu Thìn sẽ gặp nhiều gian lao, vất vả, tiền đến tiền đi, đời sống tinh thần gặp nhiều phiền não, gặp nhiều rắc rối về tình cảm, hôn nhân dễ gẫy đỗ giữa chừng.
Người tuổi Kỷ có Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, đây là mệnh cách vừa có tiền vừa có quyền, nếu đi kinh thương cũng rất phát đạt. Trong các tuổi có hàng thiên can là Kỷ, thì tuổi Kỷ Mùi Âm nam sẽ đạt được sự thành công rực rỡ từ việc kinh doanh buôn bán. Nguyên do, tuổi Kỷ Mùi có Thiên Mã tại Tỵ, phối kết với Hóa Lộc tạo thành cách Lộc Mã giao trì. Đối với tuổi Kỷ Hợi thì Thiên Mã ngộ Không Vong, nên không phát huy hoàn toàn cách Lộc Mã giao trì trái lại còn làm cho cuộc đời nhiều thăng trầm, mệt mõi. Tuổi Kỷ Mão nếu mệnh an tại Dậu thì Tuần Không và Triệt Không đồng vây chiếu mệnh cung tại Dậu, nên cuộc đời không có gì đột phá. Tuổi Kỷ Tỵ nếu mệnh an tại Dậu hay Mão điều không hưởng được cách Lộc Mã giao trì ( khi mệnh cung an tại Dậu thì Thiên mã tại Hợi xung chiếu, nhưng mã ở đây ngộ Không Vong, nếu mệnh an tại Mão thì Thiên mã Hóa Lộc tại Hợi, gặp Tuần Không vây chiếu).
Ngoài ra, những người sinh vào tháng 8, tháng 12 có mệnh tọa thủ tại cung Mão, hoặc sinh vào tháng 2, tháng 6 có mệnh an tại Dậu, đều có 2 sao Tả Phù, Hữu Bật hợp chiếu. Đây là mệnh cách Phù Bật Củng Chủ, ra đời lập nghiệp gặp nhiều quý nhân tương trợ, tài nghệ xuất chúng, sự nghiệp có thể thành tựu.
Trên đây là chúng ta vừa xem xét kết cấu tử vi Tham Lang ở mặt tích cực. Bây giờ chúng ta xét đến kết cấu Tử Tham Mão Dậu hội tứ sát tinh và Hóa Kị.
Khi tử vi đồng cung với Tham Lang, thì quyền uy của tử vi ít nhiều bị hạn chế đi. Mà hóa khí của Tham Lang là Chính Đào Hoa, tức là bấy giờ vị vua đang sống bên cạnh người đàn bà đầy nhan sắc nhưng có tâm tính phức tạp. Trường hợp này nếu hội thêm Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Hàm Trì, Thiên Dao, Mộc Dục thì trở thành cách cục khá thấp. Bởi vì Văn Khúc, Văn Xương chủ về văn chương, nghệ thuật, nhưng khi gặp Tham Lang thì tính nghệ thuật kia chuyển thành lãng mạn đa tình, lúc bấy giờ vị vuatử vi kia chỉ lo ăn chơi, xa đọa, trác táng, rơi vào vũng lầy của trụy lạc. Nếu như mệnh cung an tại Dậu thì sự tác họa, sa đọa còn tệ hơn cung Mão. Bởi vì Dậu là đất của Đào Hoa, tử vi lúc bấy giờ không thể nào thoát khỏi vùng bại địa của cung Đoài. Trường hợp này nếu như không gặp Thiên Không, Thiên Hình, Tuần Không, Triệt Không tọa thủ đồng cung, chắc chắn sẽ là người vì sắc, vì tình mà đánh mất bản thân mình, nhưng ngược lại nếu gặp Thiên Không, Thiên Hình, Triệt Không, Tuần Không lại là người có tính cách thanh bạch. Đào Hoa chính là Tham Lang tinh, tử vi chính là vua, là chủ tinh của chòm sao Bắc Đẩu, vua bị nhan sắc phụ nữ làm cho si, bi lụy, nên cách này giới mệnh lý gọi là Đào Hoa phạm chủ.
Khi Tử Tham Mão Dậu đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì lại khác. Bản thân tử vikhi đơn thủ tại Tí hay Ngọ cung giữ mệnh mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, Hoa Cái là người đã có khuynh hướng xuất thế. Xuất thế ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, tức là người có mệnh cách này có khả năng và đam mê nghiên cứu tinh thông về các môn huyền học, tôn giáo, tâm linh, chứ không phải nhất thiết xuất thế là phải cắt tóc vào chùa làm ni, sư. Vì vậy, khi đồng cung với Tham Lang tại Mão, Dậu, có Địa Không, Địa Kiếp, Hoa Cái, Thiên Không thì khuynh hướng tu hành, xuất gia hoặc nghiên cứu tâm linh, tôn giáo của kết cấu này càng thể hiện rõ nét. Nguyên nhân? Khi sao Tham Lang giữ mệnh, tất tam phương của Tham Lang sẽ là Sát-Phá-Lang, đây là nhóm sao chủ về hành động, biến động, tức là cách cục không thể ngồi yên. Mà khi Tham Lang đồng tọa với tử vi, lại gia thêm Địa Không, Địa Kiếp. Bản thân tử vi khi gặp Không, Kiếp, Song Hao là sẽ bị khó khăn về kinh tế. Do đó, Tử Tham khi gặp Địa Không, Địa Kiếp là do biến động, thay đổi nhưng tiền tại không tụ được, kinh tế theo chiều hướng càng ngày càng suy vi. Thông thường, khi con người ta lâm vào cảnh khó khăn, làm ăn thất bại, thường tìm niềm an ủi tinh thần ở các môn tâm linh, huyền học, tôn giáo. Tức là tìm lối thoát cho tinh thần của mình ở thế giới tâm linh, đạo giáo. Cũng là có khuynh hướng xuất thế, nhưng tùy theo sự hội chiếu của Tử Tham với những sao nào mà lý giải nguyên nhân.

Tình huống 1

Tình huống 1: tử vi, Tham Lang cùng Địa Kiếp, Địa Không, Song Hao là do làm ăn kinh tế khó khăn, thất bại mà đẩy đương số vào con đường nghiên cứu các môn huyền bí, đạo giáo, thậm chí xuất gia làm tăng, ni. Lúc bấy giờ câu phú “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng” sẽ phát huy tác dụng mạnh.
Tình huống 2: tử vi, Tham Lang đồng cung với Thiên Không, Hoa Cái, Thiên Hình là ngay khi mới sinh ra đã có khuynh hướng, năng khiếu đặc biệt về tâm linh, tôn giáo. Mệnh tạo này có tính cách thanh bạch, thường nhìn đời hư ảo, xem nhẹ những thứ vô vị của thế tục. Nên nếu mệnh tạo này gặp tình huống xấu hoặc bất mãn một điều gì đó trên đường đời là ngay lập tức sẽ tìm đường đến các môn tâm linh, tôn giáo, nếu tình huống quá nặng thì có thể xuất gia làm ni, sư hoặc tu tại gia. Nếu dấn thân vào nghiên cứu các môn huyền học, tôn giáo, thì loại mệnh tạo này sẽ có thành tựu rất lớn. Tức là sẽ đạt được cái Có trong cái Không có. Đây là mệnh tạo của những nhà Nghiên cứu Huyền học có tiếng tăm, các vị Đại đức, Hòa thượng có tiếng tăm thường hay đi thuyết giảng tôn giáo ở các nơi.

Tình huống 3

Tình huống 3: tử vi, Tham Lang đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp gia hội Hồng Loan, Mộc Dục, Thiên Dao, Hàm Trì, Thiên Hỉ thì loại mệnh tạo này thì quá thê thảm. Do tình cảm nam nữ, tửu sắc, cờ bạc mà dẫn đến phá tán sự nghiệp, danh dự, cuộc đời không còn lối thoát, đường cùng phải tìm sự giải thoát ở thế giới tâm linh, xuất gia làm ni, sư. Lúc bấy giờ câu phú “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng” sẽ phát huy tác dụng mạnh.
Khi tử vi, Tham Lang đồng cung với Hàm Trì, Thiên Hỉ, Hồng Loan, Mộc Dục, Thiên Dao mà không có Thiên Không, Tuần Không, Triệt Không đồng cung, thì loại mệnh tạo này đích thị là Đào Hoa phạm chủ. Ăn chơi trác táng, phong lưu hiếu sắc, ngoại tìnhhoặc có quan hệ tình cảm thiên về nhục dục với nhiều thành phần khác nhau. Nếu có Hóa Lộc hay Lộc Tồn tọa thủ hay hợp chiếu thì sẽ chế giảm được tính trăng hoa phần nào, nhưng mệnh tạo vẫn là người thiên về lối sống phong lưu, không trân trọng tình cảm.
Trong tình huống tử vi, Tham Lang đồng độ với Hàm Trì, Thiên Hỉ, Hồng Loan, MộcDục, Thiên Dao nếu gia thêm Đà La, Kình Dương thì khỏi cần phải bàn. Lúc bấy giờ đương số sẽ sở hữu đồng thời cả 2 cách “ Đào Hoa phạm chủ và Phiếm Thủy Đào Hoa”, vì phong lưu hiếu sắc, cờ bạc, rượu chè mà gặp tai họa, số sẽ đoản thọ, lúc này Kình Dương sẽ phát huy rất mạnh uy lực của câu phú “Kình Dương Tí Ngọ Mão Dậu, phi yểu chiết nhi hình thương”.
Trường hợp tử vi, Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì sao? tử vi ở thế miếu và vượng địa, có khả năng chế hóa được sát tinh Linh, Hỏa. Tham Lang khi gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh là thuộc cách phát tài đột ngột, tiền tài đến bất ngờ do đầu cơ hay trúng số, cờ bạc, nhìn chung nguồn tiền tài do Tham Hỏa hay Tham Linh đem đến là tiền tài hoạnh phát. Tuy nhiên, khi tử vi đồng cung với Tham Lang, do Tham Lang đã bị tử vichế ngự một phần, nên tính đột ngột, bất ngờ và khả năng sinh tài sẽ bị giảm đi. Vì vậy, kết cấu tử vi, Tham Lang với Linh Hỏa ở Mão Dậu cũng phát đột ngột, nhưng mức độ phát bị giảm đi nhiều, không còn được như Tham Linh hay Tham Hỏa ở tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Do Dậu cung Linh Hỏa ở thế hãm địa, nếu Tử Tham đi với Linh Hỏa ở Dậu, thì tiền tài sau khi phát sẽ không giữ được lâu bền, tức là sẽ phải mất đi. Khi Tử Tham đi với Linh, Hỏa ở Mão thì sẽ cát lợi hơn Dậu, do Mão là cung ban ngày nên Linh và Hỏa ở thế đắc địa.

THAM LANG Ở CÁC CUNG VỊ – PHẦN 2

0

Tham Lang ở các cung vị – Phần 2

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tử vi và Tham lang đồng độ ở Mão Dậu

Tham lang và Tử vi đồng độ ở Mão hoặc ở Dậu, cung đối diện không có chủ tinh, cung tam phương là hệ “Liêm trinh Thất sát” và hệ “Vũ khúc Phá quân” hội hợp. Cung đối diện không có chủ tinh là cấu tạo ở ngoài không có cái làm chủ.

Hệ “Tử vi Tham lang” là tinh hệ thuần “dục vọng”. Bởi vì không những bản thân “Tử vi Tham lang” có tính chất “dục vọng”, mà các hệ sao hội hợp như “Vũ khúc Phá quân” cũng mang sắc thái ham muốn vật chất nặng, còn hệ “Liêm trinh Thất sát” trong một số tình hình thì thiên về “tình cảm” hơn.
Do đó, muốn luận đoán bản chất của tinh hệ này, cần phải phân biệt xem nó thuộc loại “ham muốn vật chất” hay “ham muốn dục tình”. Cổ nhân nói “Đào hoa phạm chủ là rất dâm”

(Đào hoa phạm chủ vi chí dâm) tức nhấn mạnh đặc tính “ham muốn dục tình” của chúng. Đây là cơ sở để căn cứ và nhận biết một cách cụ thể sự ảnh hưởng của cung tam phương đến hệ “Tử vi Tham lang”, theo xu thế thuận hay xu thế nghịch. Nếu đại vận đi thuận mà theo xu thế nghịch, hoặc đại vận đi nghịch mà theo xu thế thuận, thì có thể biết là bại vận.

Tronh tình hình hệ “Tử vi Tham lang” đồng độ với Thiên hình hoặc sao Không, chủ về có thể tự kềm chế, nhưng người tự kềm chế thường chỉ kềm chế “ham muốn dục tình”, còn người có tính chất “ham muốn vật chất” mạnh mẽ vẫn không thay đổi.
Bản chất của nhóm tinh hệ “Tử vi Tham lang” khác với hệ Tử vi độc tọa ở Tý Ngọ, khi Tử vi độc tọa thì đối diện với Tham lang, các sao hội hợp dùng Thiên tướng thay cho Phá quân, dùng Thiên phủ thay cho Thất sát, vì vậy tinh hệ có tính chất nhu hòa hơn, đồng thời sắc thái của Tử vi độc tọa được biểu hiện đầy đủ. Ví dụ như nói Tử vi độc tọa không ưa thích trang điểm cho bản thân, cho nên tính cách nhiều độc đoán, nhưng hệ “Tử vi Tham lang” lại có ý vị của phấn son, thiên nặng trang điểm hình thức bề ngoài, có ham muốn lãnh đạo mà lại khéo ăn khéo ở theo lề nếp cũ. Hơn nữa, đặc tính của cung đối diện vô chủ thường đối lập mâu thuẫn với cái ở trong, ở trong cũng khó định hướng làm chủ thì nói gì đến cái ở ngoài.
Lấy “ham muốn dục tình” mà nói, người Tử vi độc tọa có lòng tự tôn rất mạnh, trừ trường hợp người khác giới biểu lộ ám thị (mỹ nhân kế) chứ không bao giờ theo đuổi mục tiêu một cách mù quáng. Còn hệ “Tử vi Tham lang” thì lại khá chủ động, thậm chí không sợ cạnh tranh.
Do đó, Tử vi độc tọa và “Tử vi tham lang” đồng độ khác nhau rất nhiều. Trường hợp Tử vi độc tọa thì tài lãnh đạo và lực quyết đoán rất mạnh; trường hợp “Tử vi Tham lang” đồng độ thì tính chủ động khá mạnh. Có thể nói, nhìn từ góc độ khác, nhân sinh quan của hệ “Tử vi Tham lang” thông thường là khá tích cực, nếu mệnh có Sát tinh, thậm chí có thể vì mục đích mà không từ thủ đoạn nào.
Hệ “Tử vi Tham lang” ưa được “bách quan triều củng”. Như trường hợp Tử vi, vì không thể cấu tạo thành cách “Phủ Tướng triều viên”, cho nên “khí tượng” quý phái sang trọng có phần thấp nhỏ. Nếu có các Phụ diệu, Tá diệu, Tạp diệu, những Cát tinh này chầu về, đương nhiên cũng có “khí tượng” không tầm thường.
Hệ “Tử vi Tham lang” có Hỏa tinh Linh tinh đồng độ, cũng cấu tạo thành cách “Hỏa Tham”, Linh Tham”, nhưng lực phát huy tác dụng không bằng hệ “Vũ khúc Tham lang” đồng độ với Hỏa tinh, Linh tinh. Đây là do hành động và sự quyết đoán trong thực tế không nhạy bén mau lẹ bằng Vũ khúc. Có thể nói, hệ “Tử vi Tham lang” phải nhờ ở quyết sách, thì mới kiếm được tiền một cách bột phát, bất ngờ.
Hệ “Tử vi Tham lang” không có Cát tinh vậy chiếu, cũng có ý vị của một “cô quân”, nhưng lại khác với “tại dã cô quân” cô lập của Tử vi độc tọa.
Lúc hệ “Tử vi Tham lang” có các sao đào hoa hội hợp, đặc biệt là Thiên diêu đồng độ, đây là tổ hợp sao rất nặng nề về tình dục, thêm Văn xương Văn khúc thì càng làm mạnh thêm sắc thái “ham muốn dục tình”. Nếu Sát tinh lại đồng thời hội hợp, thì mệnh tạo ắt là người phong lưu, tự đánh giá mình quá cao.
Tham lang Hóa Lộc làm tăng “ham muốn vật chất”, có Vũ khúc Hóa Lộc hoặc Phá quân Hóa Lộc hội hợp, tính “ham muốn vật chất” cũng mạnh, mà lại được thế chủ động hơn. Có điều, lúc Liêm trinh Hóa Lộc, thì mệnh tạo thiên nặng sang sắc thái “tình cảm”, xem trọng tình cảm nam nữ, và xem trọng tình cảm bạn bè.
Khi Liêm trinh Hóa Kị, thì mệnh tạo có một nửa khuynh hướng thiên về sự nghiệp, hơn nữa lại phải giao tế thù tạc nhiều. Lúc này ảnh hưởng tới hệ “Tử vi Tham lang” mang theo sắc thái “ham muốn vật chất”.
Cung hạn Cự môn độc tọa, hệ “Tử vi Tham lang” đến, tâm trạng dễ bị trồi sụt thất thường. Hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng về “ham muốn dục tình” ở trong đại vận hoặc lưu niên này, thường thường xuất hiện tình huống bị quấy nhiễu, bị gây khó khăn về tình cảm, nhất là lúc Cự môn Hóa Kị, hoặc lúc Thiên đồng của cung đối diện Hóa Kị, mức độ bị quấy nhiễu, gây khó khăn sẽ nghiêm trọng hơn.
Khi Cự môn Hóa Lộc, hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng “ham muốn vật chất” đến, thì đây là vận tốt có tính khai triển, nhưng cần phải có Thái dương của lưu niên Hóa Lộc xung khởi vận thế (năm Giáp), thì mới mạng lại hiệu quả khi khai triển, thực thi kế hoạch. Thông thường, cung hạn Cự môn độc tọa gây bất lợi đối với hệ “Tử vi Tham lang”, chủ về gặp cảnh ngộ khốn khó, chỉ nên xem là cơ sở của phát triển mà thôi.
Cung hạn Thiên tướng độc tọa, nếu có Phá quân Hóa Lộc ở cung đối diện, thì đây là đại vận hoặc lưu niên tốt, mang tính triển khai kế hoạch dự định mới, nhưng không nên một mình “đơn phương độc mã” tự triển khai sáng lập sự nghiệp, chỉ nên đống vai trò trợ giúp người khác. Nếu ở địa vị “thủ lĩnh” hay “lãnh đạo”, cũng không nên quá lộ sự sắc xảo, càng xuất đầu lộ diện sự sắc xảo, thì càng gặp nhiều sóng gió trắc trở.
Thiên tướng thuộc loại “Tài ấm giáp ấn”, đối với mệnh cách “ham muốn vật chất” là vận thế tốt, nhưng không thể bộc lộ lòng ham muốn lãnh đạo, ham muốn chỉ huy. Nếu lại gặp Sát tinh hội hợp, vì lòng ham muốn chỉ huy, lãnh đạo này, mà xảy ra trắc trở rất lớn. Thiên Tướng thuộc cách “Hình kị giáp ấn”, mệnh cách “ham muốn vật chất” đến, sẽ bị nhiều áp lực liên quan tới người khác giới, sự việc thường trì trệ . Còn mệnh cách “ham muốn dục tình” thường vì sắc mà gây họa, hoặc phải đau khổ vì tình.
Cung hạn Thiên lương độc tọa, nói chung là bất lợi cho hệ “Tử vi Tham lang”. Nếu cung hạn có các sao Sát Kị Hình Hao trùng trùng tụ tập, thậm chí bị họa về kiện tụng liên quan đến pháp luật. Dù được Cát hóa và có Cát tinh, cũng không phải là vận thế mở lòng mở dạ, sinh ra tâm trạng trì trệ, lười biếng, ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
Nếu hệ “Tử vi Tham lang” nguyên cục hội hợp với Liêm trinh Hóa Kị, ở cung hạn Thiên lương độc tọa lại gặp các sao Tài sao Lộc, thì nên dùng nghề nghiệp chuyên môn để kiếp tiền. Nếu gặp thêm Sát tinh, thêm Thiên hình, Đại hao thì trái lại, sẽ chủ về phá tài thất bại, nặng thì tranh chấp kiện tụng.
Cung hạn “Liêm trinh Thất sát” đồng độ, có Lộc Quyền Khoa hội hợp, hoặc nguyên cục là cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham”, chỉ cần Sát tinh không nhiều mà không có lưu Sát tinh xung hội, thì đây là vận thế phát một cách đột ngột, nhất là đối với hệ “Tử vi Tham lang” mang sắc thái “ham muốn vật chất”; người mang sắc thái “ham muốn dục tình” tuy cũng có lợi thế về tiền bạc sự nghiệp, nhưng lại bị dục tình gây lụy, dẫn đến vận thế chao đảo.
Hệ “Tử vi Tham lang” tối kị đại vận hoặc lưu niên “Liêm trinh Thất sát” mà có Liêm trinh Hóa Kị, chủ về thất bại vô cớ. Nếu hội hợp với Vũ khúc Hóa Kị, thì nên kềm chế ham muốn dục vọng để đề phòng sai lầm mà sinh ra thị phi.
Hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng “ham muốn vật chất” gặp lưu niên Liêm trinh Hóa Kị bị Vũ khúc Hóa Kị xung hội, nếu cung hạn còn bị các sao Sát Kị Hình xung hội, chỉ nên lui về phòng thủ, và cần chú ý sức khỏe, người thiên nặng “ham muốn dục tình” sẽ dễ vì sắc mà gây họa.
Cung hạn Thiên đồng độc tọa, hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng “ham muốn dục tình” mà đến, thường thường cũng là năm bị quấy nhiễu, gây khó khăn về tình cảm. Đối với hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng “ham muốn vật chất”, thì đây là năm hưởng thụ mang sắc thái đào hoa.
Chỉ trong tình hình cung hạn Thiên đồng có Lộc Quyền Khoa hội hợp, mà còn gặp Cát tinh, hệ “Tử vi Tham lang” bất kể là “ham muốn dục tình” hay “ham muốn vật chất”, đến cung hạn này mới là vận hạn thu hoạch.
Cung hạn “Vũ khúc Phá quân” đồng độ, trong tình hình thông thường, chỉ có lợi đối với hệ “Tử vi Tham lang” thiên nặng về “ham muốn vật chất”, khi hệ “Vũ khúc Phá quân” có Hóa Lộc Hóa Quyền thì càng đúng. Người thiên nặng “ham muốn dục tình”, dù cung hạn “Vũ khúc Phá quân” có các sao Sát Hao tụ tập, thường chủ về “đào hoa kiếp” gặp rắc rối về tình cảm, còn quan vận và tài vận đều bình thường, thiên về xu hướng lấy an toàn làm trọng. Nhưng khi Vũ khúc Hóa Kị, đây là năm thất bại về sự nghiệp và tiền bạc đối với mệnh cách “ham muốn vật chất”, phép “xu cát tị hung” là cần phải giữ cho thật vững, thuận theo hoàn cảnh, thì mới có thể tránh được thất bại. Mệnh cách “ham muốn dục tình” thì phải biết kềm chế tình cảm. Cả hai loại mệnh cách này, nguyên nhân đều từ dục vọng bị trở ngại mà xảy ra tranh chấp lớn. Nếu Tham lang đồng thời Hóa Kị, sẽ thất bại trong cuộc tranh chấp.
Cung hạn Thái dương độc tọa, trừ trường hợp được Cát hóa và có các Cát tinh tụ tập, nếu không, đối với hệ “Tử vi Tham lang” thì đây là vận xấu, đặc biệt dễ vì dục tình mà gây ra thị phi, bị quấy nhiễu, bị gây khó khăn cản trở, thêm các sao Sát Kị thì càng nặng, khi Thái dương lạc hãm thì càng nặng thêm nữa.
Cung hạn Thiên phủ độc tọa, thông thường có lợi cho hệ “Tử vi Tham lang” đến. Trừ trường hợp cung hạn có các sao Sát Kị Hình hội hợp, phần nhiều đây là vận trình mang tính phát triển. Thiên phủ ở Mùi, được Thái dương Thái âm thừa vượng nhập miếu giáp cung, vào năm Tân thì Thái dương Hóa Quyền giáp mệnh, đồng thời Cự môn Hóa Lộc giáp Thiên tướng của cung Sự nghiệp, bất kể hệ “Tử vi Tham lang” thuộc tính chất nào, cũng đều xem đây là vận trình có thu hoạch.
Cung hạn “Thiên cơ Thái âm” đồng độ, xét về khí chất là bất lợi cho hệ “Tử vi Tham lang”, nếu các sao ở cung hạn này gặp Cát tinh hay được Cát hóa thì còn được, nếu không, đây là vận trình gặp nhiều tai nạn bệnh tật, hoặc tinh thần bị quấy nhiễu, gây nhiều áp lực khó khăn.

Đơn cử ví dụ: hệ “Tử vi Tham lang” ở cung Phúc đức.
Cung Mệnh là Thiên phủ độc tọa, cung Phúc đức là hệ “Tử vi Tham lang” có Thiên diêu đồng độ. Người sinh năm Đinh, sinh giờ Mão có Xương Khúc ở Mùi, nên cung Phúc đức hội hợp với Xương khúc của cung Mùi, còn hội với Thiên khôi Thiên việt. Do vậy, hệ “Tử vi Tham lang” này mang tính chất “ham muốn dục tình”.
Đến đại vận Quý Mão, cung mệnh của đại hạn là hệ “Tử vi Tham lang”, cung Phúc đức của đại hạn là Thiên tướng, bị “Hình kị giáp ấn”, nhưng lại được Phá quân Hóa Lộc xung hội, vận trình này dễ bị dẫn dụ mà vọng động.
Cho nên, vào năm Giáp Tý, sáng lập sự nghiệp thất bại, nguyên nhân chính dẫn đến thất bại, đều vì bị ảnh hưởng của tình cảm. Biết rằng, cung Phúc đức hiển thị trạng thái tinh thần của mệnh tạo, có thể lấy đó để dự báo xu thế cát hung của vận mệnh.
Tham lang độc tọa ở Thìn Tuất
Tham lang độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất, cung đối diện là Vũ khúc độc tọa, cung tam phương là Thất sát độc tọa và Phá quân độc tọa.
Tổ hợp sao toàn chính diệu, mang sắc thái thuần túy, muốn luận đoán bản chất của nó, cần chú ý xem Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” hay thuộc loại “hành động hấp tấp” (dục tốc bất đạt).
Tham lang ở Thìn hoặc ở Tuất, là rơi vào “Thiên la Địa võng”, rất ưa có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ để thành cách, ắt sẽ có cơ hội phát đột ngột. Có điều, lúc cơ hội chưa đến mà “hành động hấp tấp”, dục tốc bất đạt, phần nhiều là thất bại, làm ảnh hưởng đến cơ sở để phát đột ngột, sau khi phát đột ngột cũng khá dễ suy sụp một cách nhanh chóng.
Tham lang ở Thìn hoặc ở Tuất, dù hưng phát cũng chỉ là vận lúc trẻ. Vì vậy, Tham lang Hóa Lộc khi chưa tới thời hưng phát, sẽ khiến mệnh tạo bị dục vọng thôi thúc, dẫn đến tâm chí không ổn định mà hay vọng động, thường bộc lộ “hành động hấp tấp” trong mọi việc, khi Tham lang Hóa Quyền thì có hành động thiết thực hơn.
Tham lang rất ưa Phá quân Hóa Quyền Hóa Lộc đến hội hợp, làm tăng tính “kiên nhẫn chờ thời” của người Tham lang. Vũ khúc Hóa Quyền, tuy bất lợi cho vận lúc trẻ, nhưng cũng làm tăng tính “kiên nhẫn chờ thời” của Tham lang.
Tham lang Hóa Kị, dễ vì việc không như ý mà dẫn đến “hành động hấp tấp”, khác cơ bản với Tham lang Hóa Lộc.
Vũ khúc Hóa Kị bất lợi cho vận trình lúc trẻ và vận trình tráng niên, cần phải đến cung hạn thứ tư mới chủ về chuyển biến hanh thông. Nếu Vũ khúc ở cung đối diện lại thêm Sát tinh, sẽ khiến cho Tham lang trở thành mệnh cách “hành động hấp tấp”. Khi cung đối diện Vũ khúc độc tọa không có Sát tinh, mà gặp Cát tinh, sẽ khiến Tham lang thành mệnh cách “kiên nhẫn chờ thời”.
Nếu không gặp các sao Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Kị, mà gặp Sát tinh nặng, đặc biệt có Linh tinh và Kình dương cùng hội hợp, thì khiến Tham lang thành loại “hành động hấp tấp”, gặp Hỏa tinh và Đà la cùng hội hợp, cũng chủ về loại mệnh cách “hành động hấp tấp”, dục tốc bất đạt. Gặp Hỏa tinh và Kình dương hoặc Linh tinh và Đà la thì tốt hơn. Nhưng khi Linh tinh Đà la cùng hội hợp, lại chủ về bề ngoài ung dung mà nội tâm lại nóng ruột, lo lắng.
Tham lang lại đến cung hạn Tham lang, ưa hội hợp với Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa ở tam phương tứ chính, cũng ưa bản thân Tham lang Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền.
Tính chất tổ hợp các sao ở cung mệnh của đại vận và lưu niên chỉ đại biểu cho hoàn cảnh buộc phải trải qua, mà không đại biểu cho bản chất của mệnh tạo, do đó ưa đến vận trình Tham lang Hóa Lộc, không chủ về mệnh tạo là người có “hành động hấp tấp”.
Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” không nên đến cung hạn Phá quân độc tọa, dù Phá quân Hóa Lộc thì cũng phải đề phòng, vì “hành động hấp tấp” mà phạm sai lầm. Nếu có Thiên khôi Thiên việt hội hợp thì lại trở thành cát lợi, cơ hội không tìm mà tự đến, cho dù “hành động hấp tấp” cũng không sao.
Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” thích hợp đến cung hạn Phá quân Hóa Quyền, chủ về phải gánh vác trách nhiệm quá mức, hoặc làm kiêm thêm nghề mới, nhờ vậy mà phát đạt. Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” thì trái lại, dễ đánh mất cơ hội. Nếu Phá quân Hóa Quyền đồng thời gặp Sát tinh, mệnh cách “hành đồng hấp tấp” đến cung hạn này, phần nhiều khó chịu đựng nỗi gian khổ chướng ngại ban đầu.
Cung hạn Thất sát độc tọa, mệnh cách “hành động hấp tấp” khá thích hợp đến cung hạn này. Nếu cung hạn Thất sát độc tọa có các sao Sát Hình nặng, thì phải đề phòng vì lộng quyền mà gây ra tai họa. Lúc Phá quân Hóa Lộc đến hội hợp, Tham lang ắt cũng đồng thời Hóa Kị đến hội hợp; lúc này Thất sát thủ cung mệnh của lưu niên, rất kị có Vũ khúc Hóa Kị của lưu niên đến xung đại vận hay xung Tham lang Hóa Kị nguyên cục, hoặc Liêm trinh Hóa Kị của lưu niên đến xung đại vận hoặc xung Phá quân Hóa Quyền (hay hóa Lộc) nguyên cục. Trường hợp trước là chủ về đột ngột phát sinh trở ngại, cạnh tranh, dẫn đến phá tài, trường hợp sau là chủ về vì gặp may mà dẫn đến trở ngại lớn, quan hệ giao tế thay đổi, tình cảm đổ vỡ, thu nhập tăng thì đồng thời chi tiêu cũng lớn. Nếu lại gặp các sao đào hoa và các sao Sát Hình, thì vì hoàn cảnh thuận lợi mà dẫn đến “đào hoa kiếp”.
Trên là tình hình đại khái khi Tham lang thủ mệnh đến các vận hạn Thất sát, Phá quân, Tham lang.
Cung hạn Cự môn độc tọa, Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” không nên đến, cho dù Cự môn Hóa Quyền hay Hóa Lộc, thường dễ xảy ra nhiều sự cố, kị nhất là rơi vào tình trạng đau khổ vì tình, gây ảnh hưởng đến sự tiến thủ. Khi Cự môn Hóa Kị, lại chủ về tự chuốc lấy buồn phiền về tình cảm, mà không thể dứt ra được.
Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” ưa đến cung hạn Cự môn độc tọa, sau khi trải qua một khoảng thời gian khốn khó thì có thể biến thành hanh thông. Có điều, nếu ở lưu niên có Thái dương hay Thái âm đồng thời Hóa Kị đến hội hợp, ắt sẽ có trở ngại nghiêm trọng, nhiều chuyện thị phi đột ngột xảy ra, gây nên phá tài.
Cung hạn “Liêm trinh Thiên tướng” đồng độ, Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” đến, chủ về rất nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp. Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” thì không nên đến, cho dù gặp Liêm trinh Hóa Lộc ở cung mệnh của lưu niên, cũng chỉ là vẻ vang nhất thời, say sưa đắc ý sẽ sinh thất bại. Nếu Liêm trinh Hóa Kị, thì bất kể Tham lang thuộc tính chất nào đến cung hạn này, cũng đều nên xem là trải nghiệm của đời người, qua giai đoạn này sẽ được ngươi ta trọng dụng, có thể dẫn đến hanh thông. Cho nên, Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” càng nên nhẫn nại.
Cung hạn Thiên lương độc tọa, rất ngại Thái dương Hóa Kị đến hội hợp, Tham lang đến cung hạn này, chủ về bị áp lực hoặc uy hiếp về tâm lý, Thái âm Hóa Kị mà đến hội hợp thì chủ về, vì kế hoạch sai lầm mà phá tán.
Cung hạn Thiên đồng độc tọa, nếu có Cát tinh, thường thường là vận trình thu hoạch và mở rộng, Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” rất thích hợp đến. Nếu Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” thì cần phải xem tổ hợp các sao của hai năm trước, xem có phá tán thất bại hay không mà định. Cung hạn Thiên đồng gặp Thái âm Hóa Kị hoặc Thiên cơ Hóa Kị thì không nên đầu cơ.
Cung hạn Vũ khúc độc tọa, thông thường Tham lang ưa đến, lưu niên mà gặp nó, dù không được Cát hóa và gặp Cát tinh, cũng chủ về hành động. Chỉ ngại Vũ khúc Hóa Kị, dù Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” có đến, cũng không nên có những hành động quá đáng. Nếu Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” đến, thì chớ nên hành động mà nên phòng thủ là tốt nhất.
Cung hạn Vũ khúc độc tọa hội hợp với các sao Sát Kị Hình, bất kể Tham lang thuộc tính chất nào đến cung hạn này, đều chủ về bị tai họa bất ngờ hoặc sự cố liên quan đến chảy máu.
Năm Kỷ, lưu niên Vũ khúc Hóa Lộc, Tham lang có thể xem đây là Tài vận. Vào đại vận Vũ khúc Hóa Lộc, do vì Tham lang có đặc tính lúc vãn niên không ưa gặp sao Lộc, cho nên cần phải đề phòng sức khỏe có vấn đề.
Thái dương độc tọa thủ cung mệnh của lưu niên, thừa vượng nhập miếu, Tham lang ưa đến cung hạn này, chỉ khi Thái dương Hóa Kị thì không nên. Nếu Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” đến, thì sẽ gặp nhiều sự đổ vỡ, thị phi, còn Tham lang thuộc loại “kiên nhẫn chờ thời” thì nên tạo danh tiếng trong thời điểm này.
Thái dương độc tọa thủ cung mệnh của lưu niên lại lạc hãm, Tham lang đến cung hạn này sẽ mạnh thêm tính chất thị phi, oán trách. Nhưng mệnh cách “hành động hấp tấp” lúc này nên rút lui, chủ về vài năm sau sẽ dẫn đến vận thế phát đột ngột.
Cung hạn Thiên cơ độc tọa, đối với Tham lang là một lần trải nghiệm, Tham lang thuộc loại “kiễn nhẫn chờ thời” cũng sẽ gặp cạnh tranh một cách đột ngột. Nếu Thiên cơ Hóa Kị, áp lực càng nặng. Thiên cơ nguyên cục Hóa Kị, lại xung hội Cự môn Hóa Kị của đại vận hoặc lưu niên, Sát tinh nặng thì nên đề phòng bệnh gan, Sát tinh nhẹ thì cũng chủ về uất chí.
Cung hạn “Tử vi Thiên phủ” đồng độ, đối với Tham lang thuộc loại “kiễn nhẫn chờ thời”, đây là đại vận mang tính sáng tạo; được Thiên phủ Hóa Khoa, hoặc Vũ khúc Hóa Quyền, hoặc Lộc tồn đồng độ hay vây chiếu, đều là vận thế hưng phát hanh thông, Liêm trinh Hóa Lộc đến hội hợp cũng thêm cát lợi, nhưng chỉ nên làm việc hưởng lương hoặc hợp tác với người khác, không nên phát triển một mình. Tham lang thuộc loại “hành động hấp tấp” gặp cung hạn này cũng cát, nhưng rất kị bộc lộ tính cách lộng quyền, nếu không, sẽ phải nhận hậu quả xấu nghiêm trọng.

Đơn cử ví dụ: Tham lang ở cung Tài bạch.
Thất sát thủ mệnh ở Thân địa, cung Tài bạch có Tham lang ở Thìn gặp Linh tinh đồng độ.
Người sinh năm Giáp, lúc vào đại vận Kỷ Tị có Cự môn thủ Mệnh của đại vận, có Thiên cơ thủ Tài bạch của đại vận, bị lưu Dương lưu Đà của đại vận chiếu xạ. Đây là vận trình mang tính trải nghiệp của mệnh tạo.
Năm Ất Sửu, Thiên đồng thủ cung Tài của lưu niên gặp Thái âm Hóa Kị, vì vậy năm Ất Sửu đầu tư thất bại, rõ ràng thấy thế của thị trường đúng, nhưng vì thời gian phối hợp không tốt, dẫn đến đầu tư không đúng thời cơ.
Kết cấu “Linh Tham” thủ cung Tài vốn có lợi về đầu cơ, nhưng đại vận hoặc lưu niên không phối hợp với nhau, thì bản chất của hệ “Linh Tham” cũng không thể phát huy. Đây là ví dụ đáng được chú ý.
Tham lang và Liêm trinh đồng độ ở Tị Hợi
Tham lang và Liêm trinh đồng độ ở Tị hoặc ở Hợi, cung đối diện vô chính diệu, cung tam phương có “Vũ khúc Thất sát” và “Tử vi Phá quân” hội hợp.
Muốn luận đoán đặc tính của hệ “Liêm trinh Tham lang” đồng độ, cần chú ý phân biệt khuynh hướng “chú trọng tình cảm” và khuynh hướng “ham muốn vật chất”. Liêm trinh chủ về “chú trọng tình cảm”. Tham lang chủ về “ham muốn vật chất”.
Nếu Liêm trinh mạnh (như Liêm trinh Hóa Lộc, hoặc gặp các sao Văn xương, Văn khúc, Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Đại hao, Mộc dục, Thiên diêu, Tam thai, Bát tọa, Đài phụ, Phong cáo), thì hệ “Liêm trinh Tham lang” thuộc vào loại có bản chất “chú trọng tình cảm”.
Nếu Tham lang mạnh (như Tham lang Hóa Lộc, Hóa Quyền; hoặc gặp các sao Tả phụ, Hữu bật, Ân quang, Thiên quý, Long trì, Phượng các, Thiên quan, Thiên phúc), thì hệ “Liêm trinh Tham lang” thuộc vào loại có bản chất “ham muốn vật chất”.
Khi Liêm trinh Hóa Kị, hoặc gặp Âm sát, Kiếp sát, Cô thần, Quả tú, sẽ làm yếu đi tính chất “chú trọng tình cảm” của hệ “Liêm trinh Tham lang”. Khi Tham lang Hóa Kị, gặp Thiên khốc, Thiên hư, Tức thần, Hoa cái, cũng làm cho đặc tính “chú trọng tình cảm” của hệ “Liêm trinh Tham lang” bị yếu đi, phong độ tình cảm thoái hóa, suy giảm.
Khi Tham lang Hóa Kị, gặp Địa không, Địa kiếp, Phá toái, Vong Thần, thì sẽ làm yếu đi tính “ham muốn vật chất” của hệ “Liêm trinh Tham lang”.
Tính “ham muốn vật chất” của hệ “Vũ khúc Thất sát” ở cung tam phương rất mạnh. Vũ khúc là sao chủ về tiền tài, gặp Thất sát đồng độ thì chủ về quyền tài chính. Nếu Vũ khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, làm mạnh thêm tính “ham muốn vật chất” của Liêm trinh. Nếu có Văn xương, Văn khúc đồng độ, thì hệ “Vũ khúc Thất sát” lại mang sắc thái “chú trọng tình cảm”.
Hệ “Tử vi Phá quân” ở cung tam phương không “chú trọng tình cảm”, nhưng lúc hệ “Tử vi Phá quân” thuộc vào loại “phản kháng” thì được coi là tinh hệ mang sắc thái “chú trọng tình cảm”. Cho nên, cần xem hệ “Tử vi Phá quân” thuộc vào tính chất cụ thể nào, để biết được sự ảnh hưởng đến “tình cảm” của hệ “Vũ khúc Phá quân”. Đây theo nguyên tắc của tam phương hội hợp, hệ “Tử vi Phá quân” tác động ảnh hưởng đến hệ “Vũ khúc Thất sát”, rồi hệ “Vũ khúc Thất sát” tiếp tục truyền ảnh hưởng dồn về hệ “Liêm trinh Tham lang”.
Hệ “Liêm trinh Tham lang” hội hợp với tam phương tứ chính, khiến chúng mang nặng tính “chú trọng tình cảm”, tính “ham muốn vật chất” cũng nặng, còn mang sắc thái theo đuổi dục vọng, do đó thành tinh hệ đào hoa. Lúc này cung Phúc đức nên kiên cường, hữu lực, thì còn có thể có chủ trương, không đến nỗi bị cuốn theo dòng nước, đời sống tình dục buông thả.
Cung Phúc đức ắt là Thiên tướng độc tọa. Lúc này không nên gặp cách “Hình kị giáp ấn”, nếu không sẽ chủ về ý chí không ổn định (thất chí), hoặc bị người ta uy hiếm tinh thần, thành ẩu dâm bừa bãi. Cũng không nên bị “Tài ấm giáp ấn”, nếu không sẽ chủ về là người nhu nhược mềm yếu, hay ỷ lại người khác, cũng dễ bị người ta lợi dụng sai bảo. Rất ưa hệ “Tử vi Phá quân” ở cung đối diện được “bách quan triều củng”, hoặc có kèm Thiên hình vây chiếu, được cách như vậy, có thể khiến hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên nặng chất đào hoa quy về chính đạo.
Hệ “Liêm trinh Tham lang” đồng cung với sao Không, chỉ ở trong trường hợp mệnh cách “chú trọng tình cảm” nặng hơn mệnh cách “ham muốn vật chất”, thì mới có thể cải hóa đào hoa thành nghệ thuật, hoặc thành nghề nghiệp có tính giải trí, vui chơi, tiêu dùng. Nếu tính “ham muốn vật chất” nặng hơn tính “chú trọng tình cảm”, có sao Không đồng cung, thì trái lại, dễ có khuynh hướng theo đuổi cảm giác mạnh, khó kiểm soát động lực kích thích nhục dục, nên khả năng duy trì khí chất nghệ thuật sẽ mờ nhạt.
Hệ “Liêm trinh Tham lang” đến các cung hạn Thất sát, Phá quân, Tham lang, cần chú ý xem có biến động thay đổi tính chất của “Liêm trinh Tham lang” ở nguyên cục hay không. Đây là điều cần thiết để có thể luận đoán chính xác.
Ví dụ hệ “Tử vi Phá quân”, nguyên cục Tử vi Hóa Khoa, do đó khiến tính chất không lành của hệ “Liêm trinh Tham lang” sẽ vì danh dự mà tự biết kềm chế, nhuyễn hóa thành sức mạnh theo đuổi sự nghiệp giải trí, vui chơi, tiêu dùng. Nếu hệ “Liêm trinh Tham lang” đến cung hạn “Tử vi Phá quân”, có Kình dương Đà la hội chiếu, lại gặp Văn khúc Hóa Kị và hệ “Tử vi Phá quân” cùng bay đến, lúc này khuynh hướng “chú trọng tình cảm” và khuynh hướng “ham muốn vật chất” sẽ nảy sinh xung đột, vì tâm trạng mất quân bình, nên mệnh cách theo đuổi cảm giác kích thích, dẫn đến danh dự bị tổn hại.
Lại như hệ “Vũ khúc Thất sát”, nguyên cục Vũ khúc Hóa Kị, đã bất lợi cho tính “ham muốn vật chất”, nay lại đến cung hạn “Vũ khúc Thất sát”, có Tham lang Hóa Kị đến hội hợp, tính “ham muốn vật chất” càng khó thỏa mãn. Lúc này, đối với hệ “Liêm trinh Tham lang” vốn thiên về “chú trọng tình cảm” dễ vì tâm trạng mất quân bình mà xảy ra sự cố, hoặc lãng phí phá bỏ tình cảm để theo đuổi “ham muốn vật chất”.
Cần phải phân tích rõ như vậy, xem tính chất nguyên cục hệ “Liêm trinh Tham lang” sau khi cộng thêm Lưu diệu sẽ diễn biến ra sao. Xem có phải từ quân bình biến thành mất quân bình, hoặc ngược lại, từ mất quân bình trở thành quân bình. Lại xét phương diện “chú trọng tình cảm” xảy ra như thế nào, khuynh hướng thay đổi là tốt hay xấu, mới có thể xác định đúng tính chất của hệ “Liêm trinh Tham lang” nguyên cục, khi vận trình đến ba cung đại hạn hoặc ba lưu niên “Liêm trinh Tham lang”, “Vũ khúc Thất sát” và “Tử vi Phá quân”.
Cung hạn Thiên phủ độc tọa, phải xác định rõ có bị “kho trống” hay “kho lộ” hay không. Nếu Thiên phủ là “kho trống”, “kho lộ” sẽ khiến cho hệ “Liêm trinh Tham lang” đau khổ vì sự theo đuổi “ham muốn vật chất” không được toại nguyện. Nếu hệ “Liêm trinh Tham lang” nguyên cục thiên về “chú trọng tình cảm”, thì nên đề phòng thất chí, sa chân lỡ bước.
Cung hạn Thiên phủ là “kho đầy”, thì hệ “Liêm trinh Tham lang” nặng tính “ham muốn vật chất” sẽ là vận hạn đắc ý, ít nhất thì sinh hoạt vật chất cũng dồi dào. Người thiên về “chú trọng tình cảm” mà đến cung hạn này, sẽ cảm thấy tinh thần trống rỗng, nếu Liêm trinh nguyên cục vốn nặng tính đào hoa, sẽ vì nguyên nhân tinh thần trống rỗng mà quyết yêu người đã có gia đình. Hành động phạm luật này là cát hay hung, xem xét tổ hợp Phụ, Tá, Tạp diệu như thế nào mà định.
Cung hạn Thái âm độc tọa, nếu bản chất của Thái âm là “hành đồng mù quáng”, cũng như hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên nặng về “ham muốn vật chất” đều không nên gặp nhau. Thái âm thuộc loại bản chất “hành động mù quáng” sẽ khiến cho hệ “Liêm trinh Tham lang” có sự nghiệp bị đình trệ, trở ngại. Còn bản thân hệ “Liêm trinh Tham lang” tự gây nên rắc rối về tình cảm, khiến tình cảm u uất này cùng tác động đến sự nghiệp. “Chú trọng tình cảm” và “ham muốn vật chất”, hai khuynh hướng này khắc chế lẫn nhau, nếu mệnh cách kiểm soát được sự quân bình, thì đường sự nghiệp sẽ không bị tổn hại, thất bại.
Nếu bản chất của Thái âm thuộc vào loại “lý tưởng có mục tiêu” mà không phải thuộc loại “hành động mù quáng”, hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên về “chú trọng tình cảm”, có thể vì quá chuyên tâm chú trọng vào chuyện tình cảm phong phú mà phương hại đến quan vận. Đối với hệ “Liêm trinh Tham lang” thuộc loại “ham muốn vật chất” quá nặng, sẽ tập chung chuyên tâm vào học hành, sự nghiệp chuyên nhất, mà dễn đến hy sinh tình cảm. Cho nên, gặp cung hạn Thái âm độc tọa này, chỉ có lợi khi hệ “Liêm trinh Tham lang” ở trong giới hạn quân bình, trung hòa. Cần xem thêm vận thế ở hậu vận để luận đoán thêm tinh xác.
Cung hạn Cự môn độc tọa, sẽ bất lợi đối với hệ “Liêm trinh Tham lang”. Dù có hội với Cát tinh cũng phải bôn ba vất vả, cảm thấy có phúc mà không được hưởng, hoặc vì tình cảm xảy ra sóng gió trắc trở, khiến tinh thần bị khốn khổ. Nếu lại gặp các sao Sát Kị, chủ về gặp nhiều rắc rối thị phi, hoặc tinh thần đau khổ mất ăn mất ngủ khiến sức khỏe giảm sút nghiêm trọng.
Khi nguyên cục Liêm trinh Hóa Kị, đến cung hạn Cự môn, nữ mệnh rất cần đề phòng sa chân lỡ bước, bị tình cảm gây khổ lụy.
Khi nguyên cục Tham lang Hóa Kị, đến cung hạn Cự môn, nam mệnh rất cần đề phòng phạm pháp, bị “ham muốn vật chất” gây khổ lụy.
Cung hạn Thiên tướng độc tọa, khi Thiên tướng bị “Hình kị giáp ấn”, sẽ gây bất lợi cho hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên nặng về “ham muốn vật chất”. Khi Thiên tướng thuộc cách “Tài ấm giáp ấn”, sẽ gây bất lợi cho hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên về “chú trọng tình cảm”.
Nếu hệ “Liêm trinh Tham lang” có bản chất “trung hòa”, “quân bình” đến cung hạn Thiên tướng, cung hạn lại có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, hội hợp, thì đây là thời điểm khai vận, là cơ hội để sáng lập sự nghiệp mới.
Cung hạn “Thiên đồng Thiên lương” đồng độ, mệnh cách “chú trọng tình cảm” rất ưa gặp Thiên đồng Hóa Lộc mà không ưa Hóa Kị. Đối với mệnh cách “ham muốn vật chất” đến cung hạn này mà gặp thêm Cát tinh, các tình huống rắc rối, áp lực mờ ám tự nhiên được tháo gỡ, khiến tâm trạng được giải thoát.
Cung hạn Thái dương độc tọa, hệ “Liêm trinh Tham lang” rất kị đến khi Thái dương lạc hãm, hoặc Thái dương hóa làm sao Kị. Nếu Thái dương thừa vượng nhập miếu, hoặc hóa làm sao Quyền hay hóa thành sao Lộc, là điềm “danh thành công toại” của hệ “Liêm trinh Tham lang” có bản chất quân bình. Dù ở lưu niên, cũng được người quan tâm đề bạt, giới thiệu.
Thái dương chủ về hướng ngoại, hệ “Liêm trinh Tham lang” vốn cũng không có tính hướng nội. Cho nên lúc Thái dương hội hợp với các sao cát tường, thông thường là lưu niên đắc ý. Lúc Thái dương hội hợp với các sao không cát tường, thì đây là lưu niên vì tình cảm bộc lộ mà phạm sai lầm, hoặc vì ham muốn vật chất mà phạm sai lầm. Lúc hội hợp với các sao Sát Kị Hình Hao thì càng chủ về hung họa sẽ lớn mà còn bị ảnh hưởng lâu dài.
Cung hạn Thiên cơ độc tọa, sau khi thêm các Lưu diệu, xét xem Thiên cơ thuộc loại tính chất nào, là người có tính “nguyên tắc” hay là người “bị tâm trạng hóa”, thì mới có thể biết rõ cát hung khi hệ “Liêm trinh Tham lang” đến cung hạn này. Đại khái là, hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên nặng về “ham muốn vật chất” sẽ ưa Thiên cơ mạng tính “nguyên tắc”, mà không ưa gặp Thiên cơ “bị tâm trạng hóa”, trong lưu niên này rất nên vạch kế sách mang tính ổn định, vạch kế hoạch mang tính chiến lược lâu dài. Hệ “Liêm trinh Tham lang” thiên về “chú trọng tình cảm” cũng ưa gặp Thiên cơ mang tính “nguyên tắc”, trong lưu niên này có thể quyết định nên giữ hay nên bỏ về chuyện tình cảm. Nếu đến lưu niên, mà Thiên cơ “bị tâm trạng hóa”, thì cả hai loại mệnh cách “chú trọng tình cảm” và mệnh cách “ham muốn vật chất” đều chủ về đưa ra quyết định sai lầm, nếu tổ hợp các sao lại nhiều Sát tinh, thì vì quyết định sai lầm mà diễn biến càng thêm nguy hiểm.
Đơn cử ví dụ: hệ “Liêm trinh Tham lang” ở cung Mệnh.
Hệ “Liêm trinh Tham lang” tọa mệnh ở Tị, người sinh năm Quý có Tham lang nguyên cục Hóa Kị, nhưng không có các sao đào hoa đồng độ, hội hợp với hệ “Tử vi Phá quân” có Phá quân nguyên cục Hóa Lộc, như vậy Tài cách không có sắc thái rắc rối về tình cảm.
Đến đại hạn Bính Thìn là cung hạn có Thái âm độc tọa, đồng độ với Đà la của đại vận; cung Phúc đức của đại vận gặp Cự môn nguyên cục Hóa Quyền, đồng độ với lưu niên, cung đối diện là Thiên cơ Hóa Quyền do can Bính của đại vận. Hơn nữa cung Phụ mẫu của nguyên cục (tức cung Phúc đức của đại vận) có các sao đào hoa tụ tập, đây là điềm gặp rắc rối về tình cảm.
Đến năm Kỷ Mùi, có Thiên tướng thủ cung Mệnh của lưu niên, đồng độ với Kình dương của lưu niên (chú ý: cung Mệnh của đại vận và cung Mệnh của lưu niên đều có lưu Dương lưu Đà), nguyên cục Tham lang Hóa Kị, ở lưu niên thì Tham lang Hóa Quyền lại gặp Đà la, hơn nữa cung Thê của lưu niên có Văn khúc Hóa Kị gây ảnh hưởng đến hệ “Liêm trinh Tham lang” ở cung Thê của lưu niên. Cho nên, trong niên hạn này, đột nhiên phát sinh tình yêu không bình thường với chị dâu của vị hôn thê. Mệnh tạo lúc này mới chỉ 17 tuổi (chú ý: cung Thê của lưu niên và cung Thê của nguyên cục đều gặp Vũ khúc và Thiên phủ).
Nếu Tham lang ở cung Mệnh nguyên cục không Hóa Kị, hơn nữa vận trình không đến cung hạn Cự môn thủ cung Phúc đức của đại vận, thì không đến nỗi xảy ra sự cố này. Do đó có thể thấy, hệ “Liêm trinh Tham lang” không ưa gặp Cự môn. Nếu trong cung viên Cự môn không có các sao đào hoa tụ tập nhiều, thì cũng không đến nỗi xuất hiện vấn đề tình cảm mạo phạm luân thường.

THAM LANG Ở CÁC CUNG VỊ – PHẦN 1

0

Tham Lang ở các cung vị – Phần 1

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tham lang độc tọa ở Tý Ngọ

Tham lang độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, cung đối diện có Tử vi độc tọa, cung tam phương là Phá quân độc tọa và Thất sát độc tọa.

Muốn đánh giá bản chất của Tham lang trong trường hợp này, cần phân biệt dục vọng của nó mạnh hay yếu. Lúc dục vọng mạnh, lại cần phân biệt, là mạnh về “ham muốn vật chất” hay mạnh về “ham muốn dục tình”.
Tham lang ở cung vượng, nếu là người sinh năm Thân Tý Thìn có Tham lang ở Tý; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang ở Ngọ, là kết cấu sao có dục vọng mạnh. Ngược lại, người sinh năm Thân Tý Thìn có Tham lang ở Ngọ; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang ở Tý, là kết cấu sao có dục vọng yếu.
Tham lang Hóa Quyền, làm tăng dục vọng, có thiên hướng ham muốn vật chất.
Tham lang Hóa Lộc, gặp Phụ diệu sẽ làm tăng “ham muốn vật chất”, gặp các Tạp diệu như Phi liêm, Lực sỹ, Tướng tinh, Trưởng sinh, Đế vượng, cũng làm tăng “ham muốn vật chất”; gặp Tá diệu sẽ làm tăng “ham muốn dục tình” (lúc này Lộc Mã giao trì cũng chủ về “ham muốn dục tình”), gặp các sao đào hoa tụ tập sẽ kích thích “ham muốn dục tình” tăng nặng.
Tham lang Hóa Kị, làm giảm dục vọng, lúc gặp Linh tinh, Đà la, và sao Không trong Tạp diệu, cùng với các Tạp diệu khác như Thiên khốc, Thiên hư, Cô thần, Quả tú, Âm sát, Hoa cái, Đại hao, Tức thần, Nguyệt sát, Quán sách, thì dục vọng càng giảm thấp, thậm chí có thể biến thành “sợ cạnh tranh”, một khi gặp phải trở lực liền rút lui.
Cung đối diện có Tử vi được cách “bách quan triều củng”, chủ về làm tăng dục vọng của Tham lang, trường hợp Tử vi thuộc loại “tại dã cô quân” chủ về làm giảm dục vọng của Tham lang.
Thất sát ở cung tam phương có Cát hóa hội hợp, chủ về làm mạnh thêm dục vọng của Tham lang, Gặp các sao Sát Kị Hình Hao đến hội hợp, chủ về làm giảm dục vọng của Tham lang.
Đời người không nên có dục vọng quá cao, cũng không nên có dục vọng quá thấp. Vì vậy, lúc Tham lang ở Tý hoặc ở Ngọ, cần phải chú ý, ưa được Tham lang có tính chất trung hòa, cần chú ý tính chất “trung hòa” đó là gì ?
Ví dụ Tham lang có dục vọng thấp đối nhau với Tử vi thuộc loại “bách quan triều củng”, có thể thấy về cơ bản là “trung hòa”, nhưng giả dụ có Kình dương đồng độ cung Tham lang, lại hội thêm các sao đào hoa, thì loại “trung hòa” này có biểu hiện ham muốn dục tình nặng và ham muốn vật chất yếu, cho nên cuộc đời chủ về tự tìm lấy buồn phiền, vì tình mà khổ, về sự nghiệp thì một việc cũng không thành.
Tham lang thuộc loại “phiếm thủy đào hoa” là kết cấu có “ham muốn dục tình” mạnh. Lúc này không nên gặp các sao chủ về dục tình (như Văn xương, Văn khúc, hay các sao đào hoa) đến hội hợp, cũng không nên đến các đại hạn hoặc lưu niên có các đào hoa trung trùng.
Tham lang thuộc loại “mộc hỏa thông minh” là kết cấu sao “ham muốn vật chất” mạnh, lại gặp thêm các sao ham muốn vật chất, có thể sự nghiệp tài lộc hanh thông, nhưng sẽ cảm thấy tinh thần “trống rỗng”.
Tham lang thuộc loại “tâm chí bạc nhược” chưa chắc không cát tường, nếu không chìm đắm trong thú vui không lành mạnh, khi đến đại vận tích cực, vẫn có thể phấn khởi làm việc. Cho nên Tham lang thuộc loại “tâm chí bạc nhược” ưa đến các đại vận hoặc lưu niên có hệ “Vũ khúc Thiên tướng” thuộc cách “Tài ấm giáp ấn” (1), gặp cung “Thái dương Thiên lương” có Hóa Khoa (2), đến cung có Thất sát Hóa Lộc Hóa Quyền (3), đến cung có Phá quân Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền (4), đến cung “Liêm trinh Thiên phủ” được cát hóa (5), thảy đều chủ về gặp cảnh ngộ tốt, khiến cho cách nhìn đời người biến thành tích cực, nhờ vậy mà có thành tựu.
Tham lang thuộc loại “ham muốn vật chất” nặng, tuy nhân sinh quan tích cực, nhưng lại biến thành người bất chấp thủ đoạn, hoặc chìm đắm trong việc đầu cơ mạo hiểm, cờ bạc. Vì vậy, không ưa vào các vận hạn có sắc thái ham muốn vật chất quá nặng, như gặp hệ “Thiên đồng Cự môn” mà Cự môn Hóa Lộc (1), đến cung “Thái dương Thiên lương” có Thái dương Hóa Quyền (2), đến cung Thiên cơ Hóa Lộc, không ưa Thiên cơ có Thái âm Hóa Kị xung hội (3), nếu không, đời người tuy tích cực, nhưng cảnh ngộ chưa chắc đã như ý, hơn nữa, dễ khiến tinh thần trở nên “trống rỗng”.
Tóm lại, dục vọng quý ở chỗ vừa phải, quá yếu mà gặp hạn yếu, chủ về cô độc nghèo hèn hoặc tàn tật; quá mạnh mà lại gặp hạn mạnh, chủ về chìm đắm trong thú vui không lành mạnh, dẫn đến phạm sai lầm suốt đời.
Đàm luận về Tử Vi Đẩu Số, luận thật tính chất của tinh hệ và sự ưa ghét của các tổ hợp tính hệ giao nhau, đều lấy cung Mệnh làm chủ, bởi vì cung Mệnh là đầu mối thể hiện tính chất của tinh hệ. Thực ra, mang các tính chất cơ bản đó suy rộng ra, thì có thể luận đoán tính chất đủ 12 cung.
Ví dụ như trong cung Huynh đệ, Tham lang nhập vào cung này, thuộc loại ham muốn dục vọng quá nặng, thì dễ giao du với bạn bè tửu sắc, bạn bè nhiều nhưng không có ai tri kỷ, hơn nữa dễ xảy ra chuyện tranh quyền đoạt lợi. Nếu tâm chí của Tham lang quá lạnh nhạt ham muốn, thậm chí hèn yếu, chủ về duyên phận với anh em hay bạn bè đều mỏng, về sự nghiệp cũng không đủ duyên với người. Lúc đến 12 cung hạn, xem từng tinh hệ ở cung Huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên, liền biết có sự cạnh tranh ngoài dự liệu hay không, hoặc nhờ cung hạn có tính chất “điều hòa” mà cải thiện được quan hệ giao tế.
Lại ví dụ như, xét cung Phu thê, ở cung này Tham lang thuộc loại ham muốn vật chất quá nặng, tất người bạn đời nặng ham muốn vật chất. Nếu thuộc loại ham muốn dục tình thì tình yêu, hôn nhân đều có điềm tráo trở. Nếu Tham lang thủ cung thuộc loại “tâm chí bạc nhược” thờ ơ tiêu cực, thì cảnh ngộ người bạn đời không được tốt, hoặc vì hoàn cảnh khách quan sinh lý bệnh tật … làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hôn nhân, khiến không hòa hợp hạnh phúc.
Lại ví dụ, xét cung Tật ách, Tham lang thuộc loại ham muốn dục vọng nặng, chủ về mắc các bệnh thuộc thực chứng, tức cơ quan có bệnh mang tính thực tế, như viêm tử cung, viêm gan, viêm dạ dày… Nếu Tham lang thủ cung thuộc loại “tâm chí bạc nhược” biểu hiện lãnh đạm thờ ơ tiêu cực, chủ về mắc bệnh thuộc hư chứng, như tử cung rối loạn nội tiết tố, lạnh tử cung, gan rối loạn nhiễm sắc thể, dạ dày hư hàn, chứng viêm đau dây thần kinh (như đau bụng kinh, bạch đới…).
Trên là đơn cử những ví dụ thuộc nguyên tắc thông thường, chỉ cần nắm vững bản chất của các tinh hệ, vận dụng vào thực tiễn luận đoán vận hạn, có thể suy ra những tình huống hoặc sự cố, có nguyên nhân xảy ra từ bản chất biến hóa của các sao và ảnh hưởng của các tinh hệ ở các cung hạn. Kinh nghiệm dần dần sẽ được tích lũy, luận đoán càng thêm chính xác.
Đơn cử ví dụ: nữ mệnh có Tham lang ở cung Phê (thê).
Nữ mệnh tuổi Kỷ, có Tham lang Hóa Quyền tọa thủ cung Phu ở Ngọ, đây là kết cấu sao thiên nặng về “ham muốn dục tình” mà ít “ham muốn vật chất”.
Vào đại vận Nhâm Tuất, cung Phu có hệ “Vũ khúc Thiên tướng” ở Thân địa, đại vận là Nhâm nên Vũ khúc Hóa Kị, chủ về vợ chồng gặp sự cố không may. Cung Phúc đức của đại vận ở Tý, có Tử vi độc tọa đối diện với Tham lang thuộc loại thiên nặng về “ham muốn dục tình”, Tử vi lại đồng độ với Kình dương của đại vận, thêm vào đó cung tam phương còn có Vũ khúc Hóa Kị. Nếu ở Tý hoặc ở Ngọ có các sao đào hoa như Thiên diêu, Mộc dục, Hàm trì, Đại hao, thì chủ về sinh hoạt hôn nhân không như ý mà dẫn đến ngoại tình.
Đến lưu niên Đinh Dậu, cung Phu gặp hệ “Thiên đồng Cự môn” ở Mùi, niên hạn là Đinh nên Cự môn Hóa Kị đồng độ với Kình dương của lưu niên, nên về phương diện tình cảm xảy ra tình cảnh u ám, trở thành nguy cơ cho tình cảm vợ chồng trong lưu niên này, rất khó tránh mắc phải sai lầm.
Chú ý, luận đoán này hoàn toàn đặt trên nền tảng bản chất của Tham lang ở cung Phu thê, nếu không có tính chất này, thì khó vào đại vận và lưu niên cùng một dạng, cũng không xảy ra chuyện “thay lòng đổi dạ”. Do đó có thể biết, phép luận đoán của phái Trung Châu chú trọng việc nhận thức bản chất các sao trong 12 cung, lấy đó làm cơ sở quan trọng của việc luận đoán.
Tham lang và Vũ khúc đồng độ ở Sửu Mùi
Tham lang và Vũ khúc đồng độ ở Sửu hoặc ở Mùi, cung đối diện Vô chính diệu, cung tam phương có hệ “Liêm trinh Phá quân” và hệ “Tử vi Thất sát” hội hợp.
Nhóm tinh hệ này có tính chất cực kỳ mạnh mẽ, ham muốn dục vọng quyền lực rất nặng, hệ “Vũ khúc Tham lang” chỉ không mạnh bằng “Tử vi Thất sát” và “Liêm trinh Phá quân” ở hai cung tam phương.
Muốn luận đoán đặc tính của hệ “Vũ khúc Tham lang” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, cần phân biệt chúng thuộc loại “dục vọng” hay “tham vọng”.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” là tinh hệ có nhân sinh quan rất tích cực mà có tiết chế. “Dục vọng” thì ai cũng có, vì không gây tổn thương, họa hại cho người khác, nên có thể nói “dục vọng” trở thành lực đốc thúc cơ bản của người đời, có khác với “tham vọng”. “Tham vọng” thì thường “tổn nhân lợi kỷ” (bớt của người để lợi cho mình). Ví dụ như mẫu người chính khách khi có “tham vọng”, nhiều lúc có thể hy sinh lợi ích của xã hội, còn đối với thương nhân khi có “tham vọng”, thì có thể lũng loạn thị trường, khiến cho người tiêu dùng bị thiệt hại.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” có Hỏa tinh, đây là chính cách “Hỏa Tham”. Tổ hợp này không đại biểu cho “tham vọng”, mà chỉ thuộc loại “dục vọng”. Bởi với cái mà chúng có được chỉ là “tiền bất ngờ”, “tiền bất ngờ” khác với “hoạch tài”, “hoạch tài” là lợi ích có được một cách bất ngờ vốn hợp với quy phạm đạo đức, nên căn bản không dính dáng gì tới “tham vọng”.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” cần phải có sao Lộc mới thành kết cấu tốt, cách “Hỏa Tham, “Linh Tham” cũng cần Tham lang Hóa Lộc, chủ về có tiền của bất ngờ và dồi dào, do đó ưa Vũ khúc Hóa Lộc hoặc Tham lang Hóa Lộc, trong đó trường hợp Tham lang Hóa Lộc là “dục vọng” khá mạnh.
Nếu hội Liêm trinh Hóa Lộc, chủ về kiếm được tiền một cách thuận lợi, không liên quan đến “dục vọng”, nhưng khi Phá quân Hóa Lộc thì không những mệnh cách thuộc loại “dục vọng”, mà còn biến thành “tham vọng”.
Phá quân Hóa Lộc không ưa gặp Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp. Nếu gặp bốn sát tinh này, đồng thời có Hóa Lộc đồng độ với hệ “Liêm trinh Phá quân”, hoặc đồng độ với hệ “Vũ khúc Tham lang” của cung mệnh, thì đều biến thành tính chất “tham vọng”, mà không đơn thuần chỉ là tính chất “dục vọng”.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” không ưa Hóa Kị hội hợp, cho nên khi Tham lang Hóa Kị, Vũ khúc Hóa Kị, Liêm trinh Hóa Kị, đều là nhân tố chủ yếu cấu tạo mệnh cách thành tính “tham vọng”.
Tham lang Hóa Kị không ưa có Hỏa tinh Linh tinh, nếu gặp thì có tính “tham vọng”. Tham lang Hóa Kị đồng độ với Kình dương cũng chủ về tính “tham vọng”. Nếu Kình dương lại có Linh tinh cùng bay đến, thì tính “tham vọng” càng lớn (phép phối sao “Hỏa tinh Kình dương” hợp lực thành tính rất thích cạnh tranh).
Khi Vũ khúc Hóa Kị thì Tử vi đồng thời Hóa Quyền, nếu Vũ khúc không có Phụ diệu cát và Tá diệu cát nâng đỡ, mà có sao Không đồng độ, thì đây thuộc loại “chí lớn mà tài không đủ”, “ưa lộng quyền mà không có thực tài”, “giả uy không có thực quyền”, thảy đều là tính chất “tham vọng” mà thôi.
Hệ “Liêm trinh Phá quân” khi Liêm trinh Hóa Kị, nếu có Kình dương đồng độ, lại gặp Thiên hư, Âm sát, đây là mô hình loại người “khuất chí để cầu tài”, nhưng nội tâm thường mặc cảm tự ti, hay buồn rầu lo lắng, thường vì vậy mà tính chất “tham vọng” càng lớn.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” có Hóa Quyền mà không có Hóa Lộc, cũng là kết cấu cơ bản của tính chất “tham vọng”. Khi Tham lang Hóa Quyền thì Vũ khúc ắt Hóa Lộc, do đó trở thành tính chất “dục vọng”. Nếu Vũ khúc Hóa Quyền là tính chất “tham vọng”, gặp Sát tinh cùng bay đến thì càng đúng. Cho nên hệ “Vũ khúc Tham lang” mà thành cách “Hỏa Tham” có Vũ khúc Hóa Quyền, tuy có thể được tiền bất ngờ mà chưa chắc thỏa mãn được nguyện vọng. Đây là điều cổ nhân thường nói “lòng tham vô đáy”.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” có tính chất “tham vọng”, nên gặp Văn xương, Văn khúc, Thiên tài, Long trì, Phượng các, thì mới tương xứng, tính chất “tham vọng” của chúng sẽ có cơ sở bắt nguồn từ thực tế, nếu không, chỉ làm tăng tham vọng thêm hư ảo, không thiết thực mà gây buồn phiền.
Cung hạn “Thái dương Cự môn” đồng độ, hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “dục vọng” ưa đến, khi Thái dương Hóa Kị gây bất lợi cho cha nhưng vẫn chủ về vận hưng thịnh, được hưng thịnh là do được cha hoặc người trên trọng dụng, dừu dắt từng bước đi đến thành tựu. Cho nên vận hạn này rất ưa có Thiên khôi, Thiên việt, hoặc lưu Khôi lưu Việt bay đến.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” đến cung hạn “Thái dương Cự môn”, ắt có nhiều “biến động thay đổi”, nhưng biến động thay đổi này thường mất công vô ích, chỉ làm tăng gian khổ, là niên hạn gặp tranh giành tranh chấp. Nếu Cự môn nguyên cục Hóa Quyền hay Hóa Lộc, vận trình này càng nhiều bất ổn.
Ở lưu niên, bất kể hệ “Vũ khúc Tham lang” có tính “tham vọng” hay có tính “dục vọng”, cũng đều ưa được Cát hóa và có Cát tinh hội hợp, mà không ưa các gặp các sao Sát Kị Hình Hao tụ tập. Đây cũng là nguyên tắc thông thường.
Cung hạn Thiên tướng độc tọa, hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “dục vọng” không ưa đến. Trừ trường hợp đặc biệt có lực của Cát hóa và các Cát tinh hội hợp nâng đỡ, nếu không sẽ là vận trình bị đình trệ. Khi Thiên tướng thuộc cách “Hình kị giáp ấn”, mệnh cách “dục vọng” mà đến, chủ về tính tình chuyển hóa thành “thờ ơ và tiêu cực”, kiểu “thờ ơ và tiêu cực” này lại thường là cơ sở để hậu vận được phát đạt, cho dù Thiên tướng thuộc loại “Tài ấm giáp ấn”, thì loại mệnh cách “dục vọng” này đến, cũng chỉ lợi về phòng thủ mà thôi. Trong đại vận hay niên hạn này, những ý niệm bất mãn về hiện trạng, cũng như có ý mưu toan thay đổi cảnh ngộ, chỉ mang lại kết quả thêm rắc rối thị phi.
Hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” cũng không ưa đến cung hạn Thiên tướng bị cách “Hình kị giáp ấn”, chủ về chuốc tai họa. Nếu lại có các sao đào hoa trùng trùng, lại chủ về cờ bạc, đầu cơ hoặc nữ sắc mà gây ra họa. Cung hạn Thiên tướng được cách “Tài ấm giáp ấn”, thì mệnh cách “tham vọng” cũng không nên sinh lòng thay đổi, nếu thay đổi, sẽ phụ lòng người quan tâm ủng hộ và đề bạt mình.
Cung hạn “Thiên cơ Thiên lương” đồng độ, hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “dục vọng” đến, chủ về gặp nhiều cơ hội, ắt có được thuận lợi, thừa thời cơ mà hưng phát. Còn hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” đến, thì lại chủ về gặp nhiều bất ổn. Cung hạn này rất ưa Thiên cơ Hóa Lộc hay Hóa Quyền, mà không ưa Thiên lương Hóa Lộc hay Hóa Khoa, khi Thiên lương được Cát hóa, phần nhiều chỉ mang lại sự quấy rối, trắc trở, khiến ảnh hưởng đến hậu vận . Hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” cũng không ưa Thiên lương Hóa Lộc hay Hóa Khoa, chủ về vất vả, trắc trở càng lớn, lại thêm cái sở đắc thường thường chỉ là hư danh. Đối với lưu niên thì không có những tính chất như đã thuật này, nhưng cũng không nên nghe theo lời khuyên của người, mà thay đổi hay cải cách sự nghiệp. Nếu cung hạn có sao Sát Hình tụ tập, mà Thiên lương Hóa Lộc, mệnh cách “tham vọng” đến, thường sẽ vì tiền mà phải trải qua nhiều cơn sóng gió.
Cung hạn “Tử vi Thất sát” đồng độ, nếu sao quyền lực quá nặng, hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” không nên đến, chủ về bị trắc trở nghiêm trọng. Nhưng hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “dục vọng” thì ưa đến, chủ về vận hạn đạt được sở nguyện. Cung hạn này ưa có Lộc tồn đồng độ hoặc hội chiếu, nếu không gặp Sát tinh, dù là loại mệnh cách “tham vọng” có đến, cũng là vận thế đột nhiên hưng phát. Ở lưu niên cũng vậy.
Nếu cung hạn “Tử vi Thất sat” có các sao Sát Kị Hình tụ tập, hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng” đến, nhất thiết không được lộng quyền, vì lộng quyền sẽ không làm tròn chức trách, mà dẫn đến thị phi cực lớn. Hệ “Tử vi Thất sát” ở Tị, thường ứng vào năm Dậu hay năm Sửu, còn hệ “Tử vi Thất sát” ở Hợi, thường ứng vào năm Mão hay năm Mùi.
Cung hạn “Liêm trinh Phá quân” đồng độ, là đại vận hoặc lưu niên, mà hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “dục vọng” ưa đến, nếu cung hạn lại có thêm Cát tinh, thì càng thêm có lợi cho dù là lưu niên cũng không có hại, sự nghiệp thăng tiến đột ngột. Đối với mệnh cách “tham vọng” đến, trừ khi tam phương tứ chính toàn là Cát tinh và được Cát hóa, không có các sao Sát Kị xung phá, mới chủ về thuận lợi như ý, nếu không, ắt chủ về sự việc đang cầu toàn thì nảy sinh khiếm khuyết, muốn tiến thì thành lùi, đang vui lại hóa ra buồn.
Cung hạn “Liêm trinh Phá quân” đối với hệ “Vũ khúc Tham lang” mà nói, thường là năm quan hệ nhân tế thay đổi rất nhanh, cho nên nhất thiết không được vì “tham vọng” mà hy sinh lợi ích của bạn bè hay người khác, nếu không, sẽ vì vậy mà phá tán, thất bại. Cần xem các tổ hợp sao hậu vận để định phương cách vận dụng đạo “xu cát tị hung”.
Cung hạn Thiên phủ độc tọa, chỉ cần không phải là “kho lộ”, “kho trống”, hệ “Vũ khúc Tham lang” có tính chất “tham vọng” hay “dục vọng” cũng đều ưa đến, bất kể là lưu niên hay đại vận, đều chủ về thuận lợi toại ý, nhưng không phát lên một cách đột ngột. Vì vậy mà mệnh cách “tham vọng” thường dễ bất mãn với hiện trạng, muốn tìm cách đột phá. Lúc này cần xem tới cung an Thiên tướng, nếu có Sát tinh đồng độ với Thiên tướng, thì không nên vọng động, gặp Hung tinh thì thiếu trợ lực, vì vậy mà phạm sai lầm.
Thiên phủ là “kho lộ”, “kho trống”, là vận trình thất bại lớn của hệ “Vũ khúc Tham lang” thuộc loại “tham vọng”, bất kể là đại vận hay lưu niên đều như vậy. Lúc này cần phải phòng thủ, mà không thể mưu toan tạo dựng cái mới, rất cần thái độ sống chân thành đối với mọi người, mới có thể tránh được thất bại. Không ai chết vì pháp luật, mà thường chết vì “đường ăn lẽ ở”.
Cung hạn “Thiên đồng Thái âm” đồng độ, ở lưu niên thường ưu hơn ở đại vận. Nếu cung hạn này có Cát tinh và được Cát hóa, là năm hệ “Vũ khúc Tham lang” ưa đến. Nếu cung hạn gặp sao hóa thành sao Kị, mệnh cách “dục vọng” đến sẽ chủ về trắc trở, mọi việc đều trái với nguyện vọng. Loại mệnh cách “tham vọng” đến, thì càng dễ bị xu thế biến động thay đổi của xã hội dẫn dụ, khiến đầu tư bị tổn thất.
Ở đại vận, tính chất còn nghiêm trọng hơn nhiều. Dù cung hạn có Cát tinh, cũng không nên quá ham muốn an nhàn. Loại mệnh cách “tham vọng” đến, càng phải đề phòng vì thú vui, những sở thích cá nhân, mà ảnh hưởng đến sự nghiệp. Khi cung hạn có các sao Sát Kị, còn chủ về tổn thất nghiêm trọng, rất cần hành sự cẩn thận, ở vào tình cảnh này, nên trợ giúp người khác hoặc lùi một bước làm thuê cho người khác, hoặc làm “phó” giúp việc cho “trưởng”, không nên tự sáng lập sự nghiệp để bảo tồn thực lực.
Đơn cử ví dụ: hệ “Vũ khúc Tham lang” ở cung Sự nghiệp.
Cung mệnh là hệ “Liêm trinh Phá quân” ở Dậu, người sinh năm Đinh, có Thiên việt ở Hợi gặp Đà la hội chiếu; cung Sự nghiệp là “Vũ khúc Tham lang” ở Sửu, bị Kình dương Đà la cùng chiếu xạ, không có Cát hóa, cũng không có sao Cát hữu lực, cho nên “quan cách” thuộc loại “tham vọng”.
Lúc này, cung Sự nghiệp của đại vận là Thiên tướng được cách “Tài ấm giáp ấn”, lại được lưu Lộc ở cung đối diện, nên có thể giữ ổn định. Nguyên cục “Liêm trinh Phá quân” có “mệnh cách” thuộc loại “tư lợi”, trong khi “quan cách” thuộc loại “tham vọng”, thế là mệnh tạo đã lợi dụng quan hệ của Cty để làm ăn riêng, lúc đầu coi như thuận lợi (ứng nghiệm của cách “Tài ấm giáp ấn”).
Đến năm Giáp Tý, cung mệnh của lưu niên là hệ “Thiên đồng Thái âm”, hội Thái dương Hóa Kị và Cự môn Hóa Kị, cung Sự nghiệp là hệ “Thiên cơ Thiên lương” cũng hội Thái dương Hóa Kị và Cự môn Hóa Kị, mà Hóa Kị bị lưu Kình lưu Đà của lưu niên giáp cung, thêm vào đó là Thiên hình ở cung Sự nghiệp, gây bất mãn ở nơi làm việc, bị đuổi việc mà còn bị kiện cáo, cảnh ngộ thật là khốn khổ (Chú: Thái dương ở đại vận Hóa Quyền, ở lưu niên thì Thái dương Hóa Kị. Đây là ứng nghiệm lạm quyền mà chuốc kị).
Tham lang độc tọa ở Dần Thân
Tham lang độc tọa ở Dần hoặc ở Thân, cung đối diện có Liêm trinh độc tọa, cung tam hợp là Phá quân độc tọa và Thất sát độc tọa.
Tính chất của Tham lang ở Dần hoặc ở Thân trái ngược nhau, thông thường Tham lang ở Dần chủ về hưng phát lúc còn trẻ, đến trung niên hay vãn niên thường chủ về phá tán, thất bại. Tham lang ở Thân thì gặp bất lợi khi còn trẻ, nhưng đến trung niên thì phát đạt, nhưng sau khi phát đạt cũng cần phải đề phòng phá tán, thất bại. Tức là nói, Tham lang ở Dần chủ về phát sớm phá sớm, Tham lang ở Thân chủ về phát chậm phá chậm.
Tuy nói “phát” và “phá”, nhưng có thể vận dụng đạo “xu cát tị hung”, bản thân chúng cũng có mức độ khác nhau. Vì vậy cần nghiên cứu và thảo luận kỹ lương thêm về tính chất của Tham lang ở Dần và ở Thân.
Tham lang ở Dần hoặc ở Thân thuần túy chủ về “dục vọng”, nhưng ở Dần thì có khuynh hướng “sắc dục” (hay tình cảm), còn ở Thân có khuynh hướng “vật dục” (ham muốn vật chất), đây thuộc về tính chất cơ bản.
Tham lang thuộc loại “vật dục” mạnh, đời người có lực đốc thúc đấu chí rất mạnh. Tham lang thuộc loại “sắc dục” mạnh, chủ về nhuyễn hóa thành giao tế thù tạc trong sự nghiệp, hoặc theo những ngành nghề có tính chất “thanh sắc”, nên cũng không phải là xấu.
Khi Tham lang Hóa Lộc, chưa thể kết luận trực tiếp thuộc về “tình cảm” hay thuộc về “vật chất”, xem các sao hội hợp để định. Có Đà la đồng cung sẽ tăng khuynh hướng “tình cảm”, nên mới có cách “Phong lưu thái trượng”. Có Hỏa tinh đồng cung, sẽ làm tăng khuynh hướng “vật chất”, nên mới có cách “Hỏa Tham”.
Văn xương, Văn khúc, Long trì, Phượng các, và các sao đào hoa đều làm tăng khuynh hướng “tình cảm”; Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật và Hóa Quyền, thì có khuynh hướng làm tăng “vật chất” cũng như “vật dục”. Tổ hợp tinh hệ này, Tham lang không có Hóa Khoa, là do cổ nhân có thâm ý. Cho nên, Tham lang cũng không nên đến các cung hạn có sao Hóa Khoa, nếu đến, chủ về vì xuất đầu lộ diện mà chuốc lấy thất bại, hoặc xảy ra sự kiện mất danh sự mà thành “nổi tiếng”. Đây cũng là nguyên tắc thông thường khi luận đoán mà thôi. Nói một cách cụ thể hơn, nếu Tham lang đến cung hạn có Văn khúc Hóa Khoa, chủ về vì sắc mà bị tổn thất, đến cung hạn “Tử vi Thiên tướng” mà Tử vi Hóa Khoa lại có lưu Hóa Khoa xung khởi, thì càng không nên xuất đầu lộ diện, nếu không, ắt sẽ chuốc thất bại, danh dự phải chịu nhục không đúng với bản chất của mệnh tạo.
Tham lang đồng độ với sao Không hoặc Hóa Kị, thông thường chủ về giảm bớt “dục vọng” của nó, hoặc lợi về nhuyễn hóa “dục vọng”, để biết nhu cầu nào là cần thiết trước mắt, mà hình thành kế hoạch trình tự trước sau. Có điều, cần phải có Cát tinh hội hợp, thì mới đủ lực để nhuyễn hóa.
Phá quân hóa làm sao Quyền chủ về làm tăng khuynh hướng “vật dục”. Lúc Phá quân Hóa Quyền thì Tham lang cũng sẽ Hóa Kị, đây là điềm tượng đời người cố gắng phấn đấu, nên khuynh hướng “vật dục” thường mạnh hơn khuynh hướng “sắc dục”.
Cung hạn “Thiên cơ Cự môn” đồng độ, thông thường Tham lang không nên đến. Chỉ khi nào Cự môn Hóa Lộc, gặp Cát tinh thì mới có lợi, nhưng họa phúc vẫn khó lường, vận tuy thấy cát nhưng vẫn tiềm ẩn hung họa, phải xem xét kỹ hậu vận để nắm bắt được tiên cơ mà vận dụng đạo “xu cát tị hung”.
Tham lang thiên nặng về “vật dục”, khi đi đến niên hạn “Thiên cơ Cự môn”, cần phải thận trọng thủ thành. Nếu gặp các sao Sát Kị, đặc biệt không được rơi vào lưới tình, nếu không sự nghiệp sẽ lung lay nền tảng.
Cung hạn “Tử vi Thiên tướng” đồng độ, lợi cho Tham lang thiên nặng về “tình cảm” đến, mà bất lợi cho Tham lang thiên nặng về “vật dục” đến. Thông thường, trường hợp mệnh cách “tình cảm” chủ về hưng phát, còn trường hợp mệnh cách “vật dục” thường tự mình chủ động gây ra trở ngại xui xẻo.
Hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ, nếu Thiên tướng bị cách “Hình kị giáp ấn”, lại không có cách “Bách quan triều củng”, hoặc còn có lưu Sát, Hóa Kị xung hội, loại Tham lang thiên nặng về “tình cảm” đến cung hạn này, nếu quyến luyến chuyện trăng gió, ắt sự nghiệp sẽ bị phá tán, thất bại. Còn loại Tham lang thiên nặng về “vật dục” đến cung hạn này, nếu không cân nhắc xem xét kỹ tình thế khách quan, mà cứ mưu toan phát triển, sẽ gây ra thị phi oán trách.
Thông thường, Tham lang đến cung hạn “Tử vi Thiên tướng”, không nên mưu toan tiến thủ quá đáng, và cũng không nên chìm đắm trong thú vui sở thích cá nhân.
Cung hạn Thiên lương độc tọa, khá bất lợi đối với loại Tham lang thiên nặng về “tình cảm’ đến, ngoại trừ trường hợp có thể dùng hành động hậu thiên để nhuyễn hóa tính chất (tính chất gì ? kiểm !), nếu không sẽ gặp tai nạn hoặc bị trở ngại xui xẻo. Nhất là lúc Thái âm Hóa Kị, hoặc Thiên cơ Hóa Kị hội chiếu, còn cần phải đề phòng sự cố trong các mối quan hệ công việc (lúc này cần phải xem xét kỹ cung Huynh đệ và cung Giao hữu, có lúc cũng cần phải xem thêm cung Tử nữ).
Tham lang thiên nặng về “vật dục” mà đến cung hạn Thiên lương độc tọa, nếu gặp Sát tinh, chủ về đường đời gặp nhiều hiểm trở, gập gềnh, phải đợi đến lưu niên cát lợi mới có thể mưu toan tiến thủ.
Cung hạn Thất sát độc tọa, là vận hạn mang tính tiến thủ mà Tham lang thiên nặng “vật dục” ưa đến. Nếu Thất sát còn được Cát hóa và có Cát tinh, chủ về trong 10 năm cục diện sẽ thay đổi hoàn toàn theo hướng tốt.
Tham lang thiên nặng “tình cảm” mà đến cung hạn Thất sát độc tọa, thì không phải là vận tốt, nếu được Cát hóa và có Cát tinh, cũng chỉ chủ về thuận lợi toạn ý, không được đùng đùng sửa đổi loạn xạ một cách đột ngột. Dù ở lưu niên, tam phương tứ chính cũng phải thuần Cát tinh, thì mới có thể mưu toan thay đổi.
Cung hạn Liêm trinh độc tọa, có tính chất đào hoa, Tham lang thiên nặng “sắc dục” đến, đại vận hoặc lưu niên này là cực kỳ bất lợi, thường vì theo đuổi sắc tình mà dẫn đến bại hoại thất bại. Dù ở lưu niên cũng không thích hợp với Tham lang thiên nặng “tình cảm”, nhưng tính chất khuynh bại sẽ nhẹ hơn.
Ở lưu niên ưa Liêm trinh Hóa Lộc, xung hội Tham lang Hóa Lộc, hoặc Liêm trinh có sao Lộc trùng điệp, hay Tham lang có sao Lộc trùng điệp, đây là vận thế tiền tài và chuyện vui đến liên tiếp. Nếu trong thời kỳ này có thể nỗ lực, thì không những chỉ giới hạn trong năm đó. Tham lang thiên nặng về “vật dục” mà đến cung hạn này thì càng đúng.
Cung hạn Phá quân độc tọa, là đại vận hoặc lưu niên Tham lang thiên nặng “vật dục” ưa đến, dù không được Cát hóa và có các Cát tinh, cũng vẫn có thể thay đổi hoàn cảnh. Nhưng Tham lang thiên nặng “tình cảm” mà đến thì gặp bất lợi, thường vì ỷ vào người khác mà bị tổn thất hay gặp trắc trở. Cung hạn Phá quân độc tọa mà gặp các sao Sát Kị, ở lưu niên lại chủ về có quan hệ yêu đương với người đã có gia thất, nếu không cuộc đời sẽ có biến động, thay đổi quan trọng.
Phá quân Hóa Lộc ở đại vận, chủ về sự nghiệp có chuyển biến quan trọng theo hướng tốt, cho nên Tham lang thiên nặng “vật dục” ưa đến.
Cung hạn Thiên đồng độc tọa, Thiên đồng hóa Cát lại gặp Cát tinh, là vận thế đắc ý của Tham lang thiên nặng “vật dục”, thường tạo dựng sự nghiệp trong vận thế này. Dù ở lưu niên cũng là vận tốt. Tham lang thiên nặng “tình cảm” đến, dù gặp Cát tinh cũng không được thuần cát lợi, cần đề phòng vì say sưa đắc ý mà phá tán thất bại, ở lưu niên thì tính chất này nhẹ hơn.
Cung hạn Thiên đồng độc tọa, nếu có các sao Sát Kị Hình tụ tập, nhất là không có lưu Đà đồng độ với Thiên đồng, thì Tham lang thiên nặng “vật dục” phải trải qua phá tán thất bại trước, rồi mới hưng phát. Đối với Tham lang thiên nặng “tình cảm” dễ vì thích sống an nhàn, ngại va chạm mà chuốc phá tán thất bại.
Cung hạn “Vũ khúc Thiên phủ” đồng độ, nếu có sao Lộc, là vận thế cát lợi của Tham lang thiên nặng “vật dục”, đối với Tham lang thiên nặng “tình cảm” lại chủ về xảy ra sóng gió trắc trở trong hôn nhân, vì vậy mà ảnh hưởng đến sự nghiệp.
Nếu cung hạn “Vũ khúc Thiên phủ” có các sao Sát Kị Hình đồng cung, đối với Tham lang thiên nặng “vật dục”, chủ về vì tiền tài gây ra thị phi. Tham lang thiên nặng “tình cảm”, chủ về tình mà chuốc họa. Ở lưu niên cũng có tính chất này, không thể không cẩn thận đề phòng.
Cung hạn “Thái âm Thái dương” đồng độ, bản thân tính chất hai sao này đã không hợp nhau (không hợp ở góc độ nào ?). Tham lang thiên nặng “vật dục” đến đại vận hoặc lưu niên này, chủ về gặp trắc trở, đối với Tham lang thiên nặng “tình cảm” mà đến thì có lợi hơn, vì không gặp sóng gió trắc trở xảy ra.
Cung hạn “Thái âm Thái dương” khi Thái âm Hóa Kị, hoặc Thái dương Hóa Kị, đối với Tham lang thiên nặng “tình cảm” mà đến thì lại bất lợi, ắt sẽ bị đả kích nghiêm trọng. Nhất là đối với nữ mệnh phải đề phòng thất thân với người xấu ở vận hạn này. Cung hạn “Thái âm Thái dương” nếu có Cát hóa và các Cát tinh hội hợp, Tham lang thuộc tính chất nào cũng là vận tốt, riêng đối với Tham lang thiên nặng “tình cảm” thì có nhiều lợi thế hơn, chủ về hưởng thụ an nhàn, còn Tham lang thiên nặng “vật dục” chủ về bôn ba.
Đơn cử ví dụ: Tham lang ở cung Phu thê.
Cung mệnh là hệ “Tử vi Thiên tướng” ở Tuất, người sinh năm Bính có Kình Đà hội chiếu mệnh viên. Phu thê ở Thân địa, cung đối diện có Liêm trinh Hóa Kị, hơi có tính chất dào hoa nhưng không nặng.
Căn cứ vào tính chất của tinh hệ Tham lang ở cung Phu thê của đại vận là Thiên lương ở Hợi, có Cự môn hóa thành sao Lộc (cát hóa), Thái dương Hóa Quyền, lại hội với Thiên đồng nguyên cục Hóa Lộc. Hơn nữa, cát hóa ở cung Thê này lại tương đồng với ở cung Mệnh.
Cho nên, vào đại vận thì kết hôn, sau khi kết hôn vợ chồng cùng làm ăn lập nên sự nghiệp. Giai đoạn kết hợp này, sắc thái “vật dục” nặng hơn sắc thái “tình cảm”. Cảnh ngộ này có liên quan với tính chất “Tử vi Thiên tướng” ở cung mệnh nguyên cục.
ST

SAO THAM LANG

0

Sao Tham Lang

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
Tính: Âm
Hành: Thủy
Loại: Hung Tinh, Dâm Tinh
Đặc Tính: Họa phúc, uy quyền
Tên gọi tắt thường gặp: Tham
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 3 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung
Miếu địa ở các cung Sửu, Mùi.
Vượng địa ở các cung Thìn, Tuất.
Đắc địa ở các cung Dần, Thân.
Hãm địa ở các cung Tỵ, Hợi, Tí, Ngọ, Mão, Dậu.
Tướng Mạo
Cung Mệnh có Tham Lang miếu, vượng hay đắc địa thì có thân hình cao lớn, vạm vỡ, da trắng, mặt đầy đặn, nhiều lông, tóc, râu rậm rạp. Riêng trường hợp miếu địa, có nốt ruồi kín.
Còn Tham Lang hãm địa thì thân hình cao vừa tầm, hơi gầy, da thô, xấu, mặt dài nhưng không đầy đặn, tiếng nói vang, cổ cao.
Tính Tình
Sao Tham Lang ở các cung miếu địa, vượng địa, đắc địa là người thông minh, có nhiều tài khéo, làm nghề gì cũng có máu văn nghệ, nghệ thuật, thời trang, đa tình, thủ công tinh xảo, khéo léo, có tài tổ chức, ưa hoạt động, đôi khi có sự hiếu thắng hoặc tự đắc, nhưng cũng hay chán.
Sao Tham Lang ở cung hãm địa là người cô độc, dù có người thân cũng không hạp tánh nhau, tánh tình hay mưu cầu, mưu tính ngược xuôi, đôi khi có sự gian hiểm, dối trá, ích kỷ, có nhiều dục vọng, tham vọng, hay ghen tuông, cạnh tranh, rong chơi phiêu lãng. Nếu không thì có những thú vui giải trí về văn nghệ, cờ bạc, đánh cờ, săn bắn, đua ngựa. Hoặc hay vào ra, sinh sống ở những nơi phồn hoa đô hội, phong lưu tài tử. Hay làm liều, nên dễ sanh ra chuyện tham ô, lừa đảo, dối trá, trộm cắp, xấu máu về tiền bạc, tửu sắc.
Công Danh Tài Lộc
Sao Tham Lang ở cung đắc địa trở lên thì giàu sang. Nhưng vì Tham Lang là sao Bắc Đẩu nên càng về già càng thịnh vượng, an nhàn, sung sướng. Nếu có thêm cát tinh, thì mức tài lộc, công danh càng tăng. Nếu đồng cung với Kị thì buôn bán giàu có.
Sao Tham Lang ở hãm địa là người có óc kinh doanh thường chuyên kỹ nghệ, thương mại, thủ công, nhưng tài lộc, công danh chật vật. Nhưng dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kị hay Riêu đồng cung, thường bị giam cầm (nếu thiếu sao giải) hoặc hay bị tai nạn sông nước.
Sao Tham Lang ở cung vượng địa nếu có sao Hóa Kị đồng cung, hoặc xung chiếu, hoặc hợp chiếu, là người có óc kinh doanh, thích làm ăn buôn bán. Nếu có thêm Văn Xương, Văn Khúc, là người có tay nghề khéo, tinh vi, sắc sảo, có hoa tay, ưa thích văn chương, cây cảnh, nghệ thuật, nhưng hay chóng chán, hoặc hay bị phá ngang bỏ dở nửa chừng, nửa đời sau mới có danh phận, sự nghiệp.
Phúc Thọ Tai Họa
Sao Tham Lang ở cung đắc địa thì sống lâu, dù thiếu thời có vất vả. Nếu hãm địa thì nhiều bệnh, hay bị giam cầm nếu không bỏ quê hương cầu thực thì yểu, cô độc.
Riêng sao Tham Lang ở Mão, Dậu là người yếm thế, làm việc gì cũng thất bại và hay gặp sự chẳng lành. Người này chỉ có chí hướng đi tu. Nếu gặp thêm sát tinh hay Kị, Hình thì hay bị nạn khủng khiếp, giam cầm và yểu tử. Nói chung, Tham Lang đi cùng với ác tinh, sát tinh là phá cách, tai họa nhiều thêm.
Những Bộ Sao Tốt
Tham Lang, Hỏa Tinh đồng cung miếu địa hay Tham Lang, Linh Tinh đồng cung miếu địa: phú quí tột bậc, danh tiếng lừng lẫy. Rất hiển đạt về võ nghiệp. Rất tốt cho hai tuổi Mậu Kỷ vì ứng hợp với cách này.
Tham Lang, Trường Sinh ở Dần Thân: Sống rất lâu.
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung ở Tứ mộ: thì ngoài 30 tuổi công danh, sự nghiệp mới có sự tiến triển tốt đẹp, làm nên sự nghiệp nhưng phải có thêm cát tinh nhiều ở Mệnh. Nếu thêm cả Hỏa Linh thì rất quí hiển. Nhưng nếu cung Thân ở Tứ mộ có Tham Vũ thì lại là hạ cách, không quí hiển được, nhất là thiếu cát tinh.
Các cách trên nếu có thêm sao tốt như Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Tả, Hữu thì rất tốt cả về công danh, tài lộc, phúc thọ, tâm tính.
Những Bộ Sao Xấu
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung gặp Phá Quân: Lụy thân vì sa đọa tửu, sắc.
Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung ở Tỵ, Hợi: Con trai đàng điếm, du đãng, con gái dâm dật đĩ thõa, giang hồ. Chỉ có sao Hóa Kị hay Tuần Triệt mới hóa giải được bất lợi này.
Tham Lang, Liêm Trinh ở Dần Thân gặp Văn Xương đồng cung: Phải có phen bị tù hình khổ sở (nếu thiếu sao giải).
Tham Lang, Liêm, Tuyệt, Linh đồng cung: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Liêm, Kình, Kiếp Không, Hư Mã: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Kình (hay Đà đồng cung) ở Tí Hợi: Giang hồ, lãng tử, chơi bời lang thang hay hoang đàng. Nếu ở Dần thì còn bị đánh đập vì chơi bời.
Tham Lang, Thất Sát: Trai trộm cướp, gái giang hồ; nếu thêm hung tinh thì nguy hiểm càng tăng.
Tham Lang, Thất Sát, Tang Môn, Bạch Hổ ở Dần, Ngọ: Bị sét đánh, thú cắn.
Tham Lang, Không Kiếp ở Mão Dậu: Đi tu phá giới.
Tham Lang Đào, Tham Lang Hồng hay Tham Lang Liêm: Dâm đãng, lăng loàn. (Nếu gặp Tuần Triệt thì đoan chính).
Tham Lang Khi Vào Các Hạn
Nếu Tham Lang nhập hạn ở Tứ Mộ, thì hoạnh phát tài danh, nhất là khi có Linh Hỏa hội chiếu.
Tham Lang Vũ Lộc Mã: Được nhiều tiền và có danh chức.
Tham Lang Hồng Đào: Lập gia đình.
Nếu Tham Lang hãm địa thì hao tiền, phóng đãng, có thể bị tù hay họa. Gặp thêm sát tinh càng thêm nguy kịch.
Mặc dù, sao Tham Lang hóa khí là Đào Hoa, nhưng không phải người nào có sao Tham Lang giữ mệnh cũng hiếu sắc, đa tình, dục vọng thô bỉ. Để xác quyết được khi nào là Đào Hoa, khi nào ham mê rượu chè, khi nào ham mê văn chương thi phú, khi nào là thanh bạch, khi nào ưa tu hành thuật thần tiên, khi nào là cách tiền cao lộc hậu cần phải xét đến tổ hợp sao Tham Lang đi với các sao nào.
Khi Tham Lang hóa khí thành Lộc ( người tuổi Mậu) an mệnh thân cung thì là người hiếu động, lanh lẹ. Nếu Tham Lang gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt thì chủ về người thông minh, lanh lẹ, có năng khiếu nghệ thuật, văn chương. Nếu Tham Lang đồng độ với Thiên Không, Thiên Hình thì chủ về người có khí chất thanh bạch, cho dù có Kình Dương, Đà La, Đào Hoa, Mộc Dục, Thiên Dao xung phá đi nữa vẫn có khí chất thanh cao, nếu có chăng chỉ là những suy nghĩ tà dâm, chứ những suy nghĩ trên không thể hiện thành hành động. Nếu Tham Lang đồng độ với Địa Không, Địa Kiếp thì người có sở thích tu tiên, thích lánh xa mùi tục lụy nhiều phiền toái và ồn ào. Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh là cách Hỏa Tham (đồng độ với Hỏa Tinh) hoặc Linh Tham (Linh Tinh đồng độ) đây là cách tiền nhiều lộc cao….
Khi đến phần bình giải thì Tham Lang lại thành khuôn mặt của con người tửu sắc phiêu đãng. Con người như thế làm sao có thể là giải ách chi thần được? Đời sau tìm tòi mới hay rằng giải ách chi thần ở đây có nghĩa là khả năng đa diện tài hoa khả dĩ làm êm thấm mọi chuyện, nói khác đi là có tài thu xếp, điều giải, ngoại giao.
Ngoài ra Tham Lang nếu gặp được những cát tinh khác là số trường thọ, lại ưa học tu luyện thần tiên thì đây cũng kể là mặt khác của giải ách chi thần. Nếu Tham Lang hội với Hỏa Linh Tinh đóng ở Thìn Tuất Sửu Mùi hoặc đứng cùng Kình Dương ở Ngọ thì lại chủ về quyền thế, tựa vào quyền thế mà phú quí, khi đã quyền thế tất giải quyết được nhiều sự việc đáng kể như một giải ách chi thần vậy.
Tham Lang đắc địa nơi mộ cung Thìn Tuất Sửu Mùi. Ở vượng địa Tí Ngọ Mão Dậu không hay bằng mộ địa. Có giả thuyết khác cho rằng Tham Lang vốn hóa khí đào hoa, mà Tí Ngọ Mão Dậu lại là đất của Đào Hoa thì quá mức mà thành không hay. Tham Đào như vậy dễ dâm loạn. Giảo quyết trên hơi quá hóa.
Tính chất của Tham Lang có thiên hướng về vật dục, nếu vào vượng địa khuynh hướng ấy nặng hơn, luôn cả về mặt tình dục. Nhưng lời đoán bảo rằng Tử Tham gặp Đào Hoa trai thì trộm đạo, gái làm kỹ nữ không đúng, hãy chỉ coi như con người nặng về tình dục, vật dục thôi.
Cổ ca viết:”Tử Tham đồng cung tu Tả Hữu Xương Khúc hiệp chế” (Tử Tham đóng cùng cần có Tả Hữu và Xương Khúc hiệp để chế bớt đi). Hiệp là tam hợp chứ không phải giáp.
Tham Lang mộc nhưng căn thủy, dương mộc trôi trên sông nước là hình ảnh phiêu đãng, xông xáo hiếu động nhưng thiếu nhẫn nại. Lúc trẻ cân còn non chưa đủ sức, lớn lên cây già mới thành giường cột, cho nên tuổi thiếu niên thường lãng đãng hào hoa hăm hở vui sống. Lúc đứng tuổi nhiều kinh lịch tâm ý biến đổi hẳn sức phấn đấu cũng bền bỉ mạnh mẽ. Do vậy, Tham Lang ít tham công trong tuổi niên thiếu.
Hình thái của người Tham Lang thủ mệnh đắc địa vì là dương mộc nên cao lớn đẫy đà. Tuy nhiên hành động lanh lẹ không chậm rãi như Thiên Đồng hay Tử Phủ. Tham Lang độc tọa ở Tí Ngọ Dần Thân và Tuất Thìn. Tham Lang đứng ở Vũ Khúc ở Sửu Mùi, đứng với Liêm Trinh ở Tỵ Hợi, đứng với tử vi ở Mão Dậu.
Trước hết nói về cách Tham Lang đứng với Vũ Khúc ở Sửu và Mùi. Tham Vũ Sửu Mùi là một cách tốt nói nhiều trong tử vi khoa. Mệnh Tham Vũ thì tam hợp hội tụ tử vi Thất Sát và Liêm Trinh Phá Quân, một tinh hệ với tính chất biến hóa phức tạp, vì có đa số hung tinh nên sức biến hóa càng mãnh liệt.
Tham Vũ thủ Mệnh còn có Nhật Nguyệt giáp Mệnh, nếu được cả Tả Hữu Xương Khúc nữa thì cách Tham Vũ đồng hành kể như toàn bích để mà công danh phú quí. Tham Vũ đi với Linh Hỏa cũng hay, nhưng là con người thiếu đức hạnh so với đứng cùng Tà Hữu Xương Khúc. Tham Vũ Linh Hỏa ích kỷ gian tham. Với Hỏa Tinh còn bôn ba bươn chải trong tuổi niên thiếu nhiều hơn, qua cái nghĩa cổ nhân bảo:”Tham Vũ đồng hành bất phát thiếu niên nhân”
Tham Lang là Đào Hoa, tính chất đào hoa ấy có thể phát triển thành sảo nghệ như câu phú ghi:”Tham Vũ tứ sinh, tứ mộ cung, Phá Quân Kị Sát bách công thông” (Tham Vũ đóng ở các cung tứ sinh hay tứ mộ mà gặp Phá Quân Kị Sát thì tay làm đủ thứ nghề)
Tỉ dụ Tham Vũ Sửu Mùi gặp Kình Dương Đà La không Tả Hữu Xương Khúc hoặc Tham Lang độc thủ ở Thìn Tuất mà không được Tả Hữu Xương Khúc mà gặp Sát Kị thì rất tháo vát trong chuyện mưu sinh. Đóng Dần Thân hay Tỵ Hợi không hội cát tinh mà Thất Sát Kị thì cũng dùng sảo nghệ kiếm tiền. Nói tóm lại, Tham Vũ hay Tham Liêm đồng cung hoặc gặp nhau đều thuộc loại sảo nghệ. Vấn đề nghệ nào còn tùy thuộc kết cấu với các sao khác. Với Xương Khúc là người thiết kế giỏi. Với Đà La tinh thông máy móc. Ngoài ra khả dĩ qua quy xét mà tìm thấy những biến hóa phức tạp khác
Ở tử vi Đẩu Số Toàn Thư có cả quyết viết những câu:”Tham Nguyệt đồng Sát hội Cơ Lương, tham tái vô yểm tác kinh thương” (Tham Lang cùng Thái Âm hội sát tinh gặp Thiên Cơ Thiên Lương thì tham tiền luôn luôn tính chuyện bán buôn). Cơ Lương Tham Nguyệt đồng sát hội, đa bán kinh thương vô miên thụy (Những sao Cơ Lương Tham Nguyệt gặp sát tinh, suốt ngày đêm tần tảo không muốn nghỉ ngơi)
Những câu trên có thể vì tam sao thất bản ra chăng? Trên nguyên tắc các sao ấy chẳng bằng cách gì gặp nhau. Đệ tử của Trần Đoàn là Ngô Cảnh Loan có chú giải những câu tương tự trong bộ sách “Đẩu Số tử vi tinh quyết”, tiếc rằng tôi chưa đọc được nó để tìm hiểu.
Một cách cuộc đáng suy ngẫm: Tham Lang Mệnh rất kị Thân đóng nơi Thất Sát hay Phá Quân. Như vậy là con người sốc nổi phiêu bạt thăng trầm khó dừng lại mà an định.
Cổ nhân viết: Mệnh Tham Lang Thân Thất Sát con trai cử chỉ điếm đàng, con gái phong thái lẳng lơ dù có cát tinh cũng khó lòng giáng phúc, gặp hung tăng càng tăng vẻ gian không chân thực, sống hư hoa, giao thiệp người đáng tốt lại chơi xấu, người xấu lại đối tử tế, bởi vậy mới nói Thất Sát thủ Thân chung thị yểu, Tham Lang nhập mệnh tất vi sương (Trai mà Thân Thất Sát không thọ, gái mà mệnh Tham Lang tất đĩ thõa)
Nếu Thân là Phá Quân thì trai thích bài bạc du đãng, gái bỏ theo trai. Chỉ gặp Tuần hay Triệt thì Tham Lang mới đoan chính mà thôi. Câu trên đây của cổ nhân xét ra có phần quá đáng, không chính xác khi đoán về người Tham Lang Mệnh, mà Thất Sát hay Phá Quân thủ Thân.
Những cách cục ấy chỉ có thể bảo rằng con người quá ham muốn vật dục, tình dục lại ưa thay đổi và không có nghị lực để chịu đựng gian khổ mà làm nên việc không nhất thiết là kẻ lừa gạt hay đĩ điếm.
Tuy nhiên có một điểm đáng chú ý: Tham Lang hội sát tinh không nên gặp Văn Khúc, nếu Tham Lang thủ Thân mà Thất Sát thủ Mệnh lại cả Văn Khúc thì cuộc đời thường gặp tai họa bất ngờ. Chẳng chỉ Văn Khúc ngay cả Văn Xương cũng thế.
Tham Lang Xương Khúc thường là đa hư thiểu thực nói nhiều làm ít. Tham Lang cũng không hợp với Kình Dương Đà La. Gặp Kình Đà ở Tí hoặc Hợi cung thì thường ra con người phóng đãng lưu lạc trong tình trường. Gặp Kình ở Ngọ cung, cổ nhân gọi bằng:”Mã đầu đới tiễn”, gặp Đà La ở Dần cung cổ nhân gọi bằng:”phong lưu thái trượng”. Ở Tí cung và Hợi cung gọi bằng “Phiếm thủy đào hoa”.
Những cách kể trên dễ rơi vào họa sắc tình. Họa sắc tình gồm có: a) tù tội, đổ máu, mất cơ mất nghiệp vì tình hay bệnh tật b)lấy phải vợ quá dữ như kẻ bị cầm tù mà vợ là giám ngục.
Cùng các cách trên đây nếu được thêm các cát tinh phù trợ thì chỉ là con người phong hoa tuyết nguyệt, thi tửu cầm kỳ, chứ không đến nỗi tang thân, bại sản vì tình.
Tham Lang đứng cùng Hóa Quyền hoặc Hỏa Linh là tốt nhất, chủ quyền qúy. Tham Lang Hóa Lộc được thêm Hỏa Linh thì dễ làm nên giàu có hoạnh phát. Nói tóm lại, sao Tham Lang sự biến hóa giữa tốt và xấu rất rõ ràng và mãnh liệt.
Tham Lang đi cùng Không Kiếp hay đam mê bài bạc. Tham Lang đi cùng Đào Hồng đàn bà đam mê vui thú xác thịt. Tham Lang không sợ Tuần Triệt, Tuần Triệt khả dĩ chế giảm bớt vật dục vượng thịnh của Tham Lang.
Tham Lang sinh ra từ hào 2 quẻ Truân động biến thành quẻ Tiết.
Quẻ Truân là lúc sự sống bắt đầu, âm dương giao nhau để sinh sôi, nên mang nghĩa gian nan, khó khăn, yếu đuối. Lời thoán là “khởi đầu, chả làm gì được, tìm người có thực lực giúp mình” nên Tham Lang bị đốp sẵn cái tượng “vô dụng”, chả nên việc gì, phú đoán vì thế cho Tham Lang hãm địa là kẻ bỏ đi!
Lời hào 2 “khó khăn luẩn quẩn, muốn tới cầu hôn, nữ nhân ban đầu không chịu, sau mới đồng ý” nên Tham Lang ám chỉ sẵn cái việc mờ ám mà người nữ buộc phải làm khi khó khăn không còn cách nào khác. Ban đầu không ưng, sau rồi lại đồng ý nhắm mắt đưa chân, Dịch đã chuẩn bị sẵn cho những tình huống tiêu cực xã hội rồi !
Thường nghĩa thì ứng là có việc manh nha khởi đầu không tiến được, nữ nhân khéo léo, e dè, kiểu còn thăm dò tình hình đối tác nam giới. Tham Lang là sao có cái khó khăn bẩm sinh, lắm trở ngại trì trệ, nam thì vì mình còn chưa mạnh mà nữ e dè không tiến tới, nữ thì lúc nào cũng phải cẩn thận giữ mình giữa cảnh không thuận lợi.
Nạp giáp không có hào tài, lại có 2 hào huynh đệ, Tham Lang có tính nghèo bản chất. Tử tôn trì thế động mà hóa tiến, mục tiêu của Tham Lang là tiến lên để sinh tài, bù đắp cái thiếu hụt của mình, đây chính là căn gốc tính “ham muốn” của Tham Lang. Thiếu tiền thì tiền là mục tiêu hàng đầu, cần phải vơ vào, phải động bản thân hóa tiến mong sinh tài. Và quẻ biến có hào tài thật, nhưng tài hóa ra từ hào huynh đệ Tí vị thấp thì là ít tiền, vẫn là nghèo.
Tử tôn là sức sống, sinh khí, hóa tiến là làm tăng cái sinh khí cho môi trường, nên Tham Lang sở trường xã giao. Lời nói của sao này khiến tất cả đều cảm thấy dễ chịu, như được tăng sức sống, giảm cái âm ám trong mình. Tính giỏi giao tế còn do trong quẻ nhiều hào Tí thủy sinh thế chủ linh hoạt, nhanh nhẹn lợi thân. Hào Tí lại nằm ở hào 6, Tham Lang rất khéo dụng hoàn cảnh để sinh lợi cho mình, thường tỏ ra hăng hái, tích cực để lôi cuốn hoàn cảnh.
Tử tôn là con cái, sinh thực khí, hóa tiến có nghĩa là sức sống mạnh, ham muốn nhiều, Tham Lang là sao giàu sức sống, có bản năng tính dục mạnh. Những sao phát sinh từ hào tử tôn đều có bản năng tính dục mạnh, đó là Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Tướng và Tham Lang.
Tử tôn hóa tiến là cái sinh thực khí tiến lên, ham muốn tình dục tăng lên. Hào 1, 6 đều là Tí thủy sinh thế, trên thủy dưới cũng thủy là nước nôi tràn trề. Thủy tụ vượng, cô gái lẳng lơ, tính dâm của Tham Lang vì thế rất mạnh.
Quẻ biến Tiết, lời hào 2 là “không ra khỏi cửa thì xấu”. Thường nghĩa, lẽ ra không ra khỏi cửa thì có gì xấu được, nhưng do vị hào 2 dương đắc trung có hào 5 cũng dương ứng hợp, hành động tất có lợi, thế mà kìm mình không đi, nên xấu. Tham Lang vì nhu cầu tính dục “hóa tiến” mạnh quá mà không ra khỏi cửa, chỉ thích ở trong nhà để cùng nhau thỏa mãn cái sinh thực khí đang biểu tình ầm ầm. Đây là điều Dịch xem là thái quá, tiêu cực. Cổ nhân xưa rất khắc kỷ, cho cái dâm là xấu nên Tham Lang bị cho là hạ tiện, ăn xong rồi cương lên, sưng phồng lên khiến người ta không thể ra khỏi nhà làm gì được, chỉ có đàn áp cái sinh thực khí đã khổ rồi. Tham Lang vì thế bị xem là sao đào hoa, tham dâm, bản chất là động tình, xấu máu, dễ sa đọa.
Tử tôn động làm quan quỷ Thìn hóa thoái Sửu, nên giảm cái đen tối, cũng là giảm cái nam tính của đàn ông, nên kỳ quặc là Tham Lang là sao đã bị chụp cho đặc tính dùng cái tử tôn sinh thực khí làm giảm sức đàn ông từ bản chất, đây là điều hết sức kỳ lạ, khó nói nhưng là sự thực chỉ ra được. Tham Lang có năng lực kiểm soát đàn ông rất mạnh, nên là hay ghen, giàu dục tính.
Tử tôn cũng là đạo giáo, huyền bí, hóa tiến giữa thời Truân làm Tham Lang là sao sùng bái đạo thuật, có mê tín, thích xem số xem bói, tin ở đám huynh đệ Tí mù mờ, tăm tối.
Trong quẻ nhiều hào quan quỷ, Tham Lang là sao mà hoàn cảnh sinh ra có tới 4 hào quan quỷ, tức tối đa, quỷ lại lâm hào ứng vị 5 thống trị, đối tác đối phương mờ ám, uy quyền. Lời thoán quẻ Truân nói cần gặp kẻ bề trên có thực lực mới lợi, nhưng hào 5 thì quan quỷ, hào 6 thì Tí thủy mờ ám nên Tham Lang có thể coi là sao không may mắn, sinh lúc cái đen tối nắm quyền, hay bị buộc phải nương theo cái mờ ám để lợi thân, đó là điều không tốt.
Thủy vốn sẵn tính gian hiểm, lại thêm nhiều hào quan quỷ nên Tham Lang tuy tử tôn trì thế mà gian hiểm tà độc, có thể vì tiền mà quên mình, bất chấp thủ đoạn. Thủy tụ vượng sinh thân là hoàn cảnh hay thuận lợi cho những cái đen tối phát tác, dễ động tình theo hướng tiêu cực, bị sa đà tửu sắc không tránh được. Tham Lang vì thế là sao xấu, sinh vào thời gian khó, bẩm sinh dễ bị dính vào cái đen tối. Chỉ khi dụng đúng tử tôn sinh tài thì mới tốt, lúc đó năng lực sinh tài bộc phát, trở thành đại cách cục Hỏa Linh Tham tốt đẹp.
Về cái tên Tham Lang thì do tính ưa vơ vào, khát tình, khát tiền mà có chữ Tham. Do bản chất đa thủy, nhiều quỷ ám, gian hiểm tà độc mà thành chữ Lang. Chữ Lang còn có thể hiểu là người đàn ông, thèm đàn ông là sao Tham Lang, sinh thực khí hóa tiến nên nhiều ham mê.
Về ngũ hành, Tham Lang giàu sức sống, hào tử tôn Dần hóa tiến Mão đầy ham muốn vươn lên, đó là tính mộc. Nhưng do thời Truân gian khó luẩn quẩn, phải dùng cái linh hoạt khéo léo của thủy mà trợ thân, bản thân cũng đa thủy nhiều nước sẵn nên có thể coi ngũ hành sao này là Thủy đới Mộc.
Sao Tham lang trong thuyết ngũ hành thuộc dương mộc. Ở trên trời thuộc chòm sao Bắc Đẩu, lại thuộc thủy, hóa làm đào hoa, là tinh diệu giải trừ tai nạn ở trên trời. Ở người thì chủ về hiếu động, lanh lẹ láu lỉnh, thơ riệu hút sách cờ bạc đủ trò, lại còn thích thuật tu luyện thần tiên.
Gặp cát diệu chủ về phú quý vinh hoa, tay nắm đại quyền quân chính, lừng danh thiên hạ. Gặp ác sát thì chủ về mê hoa luyến riệu, ưa thích uống riệu ham mê cờ bạc.
Gặp Hỏa tinh, Linh tinh, là cách Hỏa Tham, Linh Tham, chủ về tiền nhiều lộc cao. Nhưng lấy trường hợp ở Thìn và Tuất là thượng cách, ở Sửu và Mùi là thứ cách, còn các cung khác thì kế đó nữa.
Tham lang đồng độ với Kình dương, Đà la ở Hợi, Tí gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, tự nổi tiếng phong lưu, vì sắc mà thân bại danh liệt.
Ở Thìn hay Tuất, đối diện có Vũ khúc xung chiếu, có cát diệu thì sau 30 tuổi có thể phát. Ở cung vị khác, Tham lang có Vũ khúc hội chiếu, trước nghèo sau giầu. Có sát tinh thì lúc nhỏ nhiều tai nạn, thọ mệnh không dài.
Tham lang ở cung Dần, gặp Kình dương, Thiên hình, có tai họa lao ngục, đồng độ với Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng”, chủ về túng dục tham sắc, hoặc vì sắc mà mang họa.
Tham lang ở cung mệnh, chủ về người sắc mặt xanh trắng, hoặc hơi kèm sắc vàng, mặt trái xoan hoặc nhiều xương. Nhập miếu thì thân người béo mập cao to. Lạc hãm thì thân hình nhỏ mà giọng nói cao.
Tính tình bất thường, nhưng đại lượng, hay thi ân giúp người. Khi có lỗi lầm, người ta thường giận thấu xương, nhưng về sau lại được người lượng thứ, tha thứ bỏ qua. Tác phong làm việc có tính gấp gáp, ưa thật khéo léo trải chuốt. Ưa nhiều đam mê, cờ bạc tửu sắc đều ham, không từ thứ gì.
Tham lang ở cung Mệnh, Thất sát ở cung Thân, gặp sát diệu thì có tác phong dâm bôn, trộm hoa bẻ liễu. Tham lang ở cung Mệnh, Phá quân ở cung Thân, gặp sát diệu, nam mệnh thì đam mê cờ bạc riệu chè, trọng sắc như mạng sống; nữ mệnh cũng chủ về dâm đãng, không yên gia thất, nhiều đam mê thích giao du.
Hội chiếu với các tinh diệu Văn xương, Văn khúc, Thiên hư, Âm sát, chủ về người không biết việc, làm việc chẳng ra sao, không thực tế, chỉ biết giỏi lừa dối, xảo trá.
Tham lang đồng độ với tử vi, gọi là “Đào hoa phạm Đế tọa”, chủ về rất dâm đãng.
Bất luận là nam hay nữ, phàm Tham lang thủ mệnh, có sao Không, Thiên hình, thì trái lại, chủ về thanh bạch đoan chính.
Tham lang thủ mệnh, tam phương tứ chính không có sát tinh, mà có cát diệu hội chiếu, đều chủ về là người trong giới quân nhân, cảnh sát hoặc chính giới.
Tham lang ở Dần địa, có cát tinh hội chiếu, chủ về người thông minh, còn trẻ đã nổi tiếng, có điều, tuy sáng lập được sự nghiệp, nhưng tai họa lao ngục và tai họa về sự nghiệp đều tới. Tham lang tọa mệnh, đến Thân địa, mộc gặp kim khắc chế, có thể lưu lại tiếng thơm trăm đời, nhưng cũng có thể để lại tiếng xấu vạn năm, vì sẽ có một số người chỉ trích phản đối, nhưng lại được một số người khác tôn kính sùng bái.
Sự nghiệp một đời là do gian khổ phấn đấu mà được, nếu chỉ lo hưởng thụ thì sự nghiệp sẽ mất đi trong sự khoái lạc. Không có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì từ tay trắng làm nên đại nghiệp. Gặp sát tinh thì tai họa lao ngục, cuộc đời lẩn đông trốn tây, nếm đủ mùi chua đắng cay.
Tham lang ở cung Ngọ, là mộc hỏa sáng thông nhau, giỏi kế mưu, hùng tài thao lược. Nếu tam phương tứ chính không có sát tinh ác diệu, thì sự nghiệp cực lớn, tay cầm đại quyền tài chính, phân định tình thế kinh tế trái phải. Nếu có sát diệu, thì nên tìm cách phát triển trong giới thương nghiệp.
Tham lang ở Tỵ, thì gặp sao Liêm trinh đồng độ, chủ về hoạt động sôi nổi, trong cuộc đời gặp tai nạn rất nhiều, có điều, đều có thể thoát nguy mà yên. Ở tam phương tứ chính không sát diệu ác tinh hội chiếu, tất uy chấn biến cương, làm tướng lĩnh tay nắm trăm vạn hùng binh. Nếu có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì chỉ nên hoạt động trong giới thương mại, song, những người giao du qua lại phần nhiều cũng trong giới quân nhân, cảnh sát hay chính giới. Có điều cuộc đời nhiều sóng gió. Phàm Tham lang tọa mệnh ở Tỵ, thì sao Thiên phủ đến cung Thê, có sao Vũ khúc vây chiếu, chủ về có vợ rồi lại lấy thêm vợ, vợ thứ hai tất sẽ thông minh đa tài, có thể giúp được chồng, giỏi chăm lo gia đình.
Phàm Tham lang tọa cung Mệnh, thì rất khác với các sao Cự môn, Thái dương nhập cung mệnh. Cự Nhật thủ mệnh, tuy không lỗi lầm cũng thường dễ bị người chỉ trích (Thiên lương thủ mệnh gặp Lộc tồn cũng vậy). Còn lại Tham lang tọa thủ mệnh, dù có lỗi lầm, rốt cuộc người ta cũng tha thứ bỏ qua, hơn nữa còn có tác phong đặc biệt, tức là có thể ở cùng với người oán thù mình, lâu dần có thể hóa giải mối oán thù này.
Nữ mệnh có Tham lang đến cung mệnh (cũng giống như nam mệnh, đều thuộc về cách “Hỏa kỳ lân”), chủ về hoặc là mê riệu, mê cờ bạc, mê hút sách, hoặc là hay thay đổi thị hiếu, hơn nữa còn có thị hiếu về tín ngưỡng tôn giáo. Nhập miếu thì đều phú quý, có các sao Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý, hội chiếu thì chủ về quý. Có Lộc tồn, Hóa Lộc, Hỏa tinh, Linh tinh vây chiếu thì chủ về phú. Phàm Tham lang thủ mệnh nữ, thường là người có chí trượng phu, tính tình cương nghị, trọng hình thức, vượng chồng ích con. Nhưng nếu lạc hãm thì nên làm vợ thất, vợ lẻ, nếu không sẽ tự hình khắc phá tài.
Lưu niên Đại hạn có sao Tham lang đến, không có sát diệu, thì chủ về hay bỏ cũ thay mới, thích thơ riệu thù tạc, tính tình vui vẻ, tài năng tiến triển muốn tự tác sự nghiệp mới, thêm nhân khẩu. Có tam hóa Lộc Quyền Khoa thì thăng quan tấn tước. Gặp Hỏa Linh thì được tiền của bất ngờ. Nếu hội chiếu sát tinh, ác diệu lạc hãm, và Hóa Kị, thì chủ về vì giao tế thù tạc mà sinh tai họa thị phi, hoặc vì đầu cơ, cờ bạc, mà khuynh gia bại sản. Gặp Hàm trì, Thiên diêu chủ về vì sắc mà sinh tai họa. Mừng nhất là thấy hỷ sự, hoặcmang thai sinh đẻ, nhờ đó mà tai họa biến thành cát tường.
Phàm, người sinh năm Thân Tí Thìn có Tham lang thủ mệnh cư Tí; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang thủ mệnh cư Ngọ; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang thủ mệnh cư Dậu; người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang thủ mệnh cư Mão, thảy đều chủ về người có tính tình tham lặt vặt, phẩm hạnh bất chính, nhiều đam mê mù quáng có thể xảy ra hành vi trộm cắp mặc dù tiền vẫn dư giả không thiếu. Hơn nữa, thường có đầu óc không trong sáng, không hiểu thị phi, điên đảo trắng đen, ân oán không minh bạch. Nếu có nhiều cát diệu hội tụ, thì những tình huống kể trên giảm thiểu đi nhiều.
Trong Đẩu Số, thì Tham lang và Liêm trinh là cặp “sao đôi”, tính chất của hai sao có chỗ tương đồng mà cũng có chỗ tương dị. Vì vậy cũng là sao đào hoa, nhưng Tham lang theo khuynh hướng dương cương, còn Liêm trinh thì có khuynh hướng âm nhu. Cũng có thể nói, đào hoa của Tham lang rõ nét sở tính đam mê tửu sắc, còn Liêm trinh sở tính ham thích thanh sắc và còn biết tự kiềm chế.
Tham lang ở cung Mệnh hay cung Thân, chủ về có sở trường giao tế, còn có thêm tài nghệ ở nhiều phương diện. hiếu động, khéo ăn khéo ở, nhưng lại dễ chìm đắm trong tính dục như: thị hiếu, sở thích, …
Nếu hội hợp với Xương Khúc, thì có sở thích cầm kỳ thi tửu, xét về phương diện vật dục là đam mê tửu sắc, nếu gặp thêm Hoa cái chủ về ưa thích khoa học huyền bí, xét về phương diện vật dục là ưa thích sự vật thần bí.
Có điều, nếu Tham lang hội hợp với Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la và Hóa Kị, thì tính vật dục rất sau nặng, dễ thành đam mê tửu sắc, cơ bạc, hút sách.
Cổ nhân đối với Tham lang, có thuyết “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham cư vượng cung, chung thân thử thiết), gọi là Tham cư vượng cung tức là:
– Người sinh năm Thân Tí Thìn, có Tham lang cư Tí
– Người sinh năm Dần Ngọ Tuất, có Tham lang cư Ngọ
– Người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu
– Người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang cư Mão
Đây là bí truyền của Trung Châu phái; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu không phải là cung vượng, đây là điều chưa có sách nào ghi chép, các phái cũng không lưu truyền.
Thuyết của cổ nhân là do tâm lý chấp trước vào câu “Tham cư vượng cung” suy diễn dễ phát triển thành dục vọng, chiếm hữu quá sâu, nên có luận đoán “suốt đời trộm cắp như chuột”. Đối với thuyết này cần phải xử lý thật cẩn thận, nhất là đối với người có cung Phúc đức hội hợp sao cát, không được khư khư luận là “suốt đời trộm cắp như chuột”. Nếu mà cung mệnh của con gái mà gặp cách cục này thì phải quản giáo cho khéo, để giảm bớt dục vọng chiếm hữu của nó.
Tham lang hội sao Cát, chủ về vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm đại quyền trong quân đội hay cảnh sát.
Tham lang gặp Hỏa tinh hay Linh tinh, là “Hỏa Tham cách” hoặc Linh Tham cách”, đều chủ về tài lộc dồi dào, phát triển có tính đột phá. Lấy Hỏa Tham làm thượng cách, Linh Tham làm kế đó. Lại còn lấy ở Thìn, Tuất làm thượng cách, hai cung Sửu Mùi là kế đó, các cung khác là sau nữa. Nhưng nếu gặp thêm Kình dương hoặc Đà la thì không hợp cách. Hợp cách là gặp Lộc tồn hoặc Hóa Lộc, đặc biệt sẽ có nguồn tiền tài bất ngờ, có thể giầu đột ngột.
Tham lang rất ghét Kình dương, Đà la, cũng sợ Hóa Kị, nhưng gặp Địa không, Địa kiếp thì trái lại, có thể thành người có hành động thiết thực. Cho nên, gặp Không Kiếp phần nhiều chủ về có nghề chuyên môn, nếu không gặp Hóa Kị thì có thể theo ngành nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nếu gặp Hóa Kị thì nên làm thợ.
Tham lang gặp Kình dương, Đà la, làm tăng sự trắc trở gập gềnh, bất đắc chí và vất vả trong đời người. Ở Hợi và Tí thì gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu vì sắc tình mà chuốc họa, có sao cát thì có thể chuyển hóa thành nho nhã thanh tao. Tham lang gặp Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng” chủ về vì ham sắc mà gặp họa.
Nữ mệnh Tham lang, đặc điểm lớn nhất là có sở thích riêng, đồng thời thích chuyện thần bí, có khuynh hướng sùng, tín ngưỡng bái tôn giáo. Thời Đường Tống, phụ nữ có mệnh này dễ làm “nữ đạo sĩ”, “nữ đạo sĩ” thời ấy tương đương với kỹ nữ cao cấp. Ở thời hiện đại, có thể thành người làm công việc giao tế, quan hệ công cộng, nhất là có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý họi hợp, nữ mệnh cũng có thể sang quý hoặc có địa vị xã hội. Nếu hội các sao Lộc, mà còn được Hỏa tinh, Linh tinh củng chiếu, đều chủ về giầu có. Mệnh tạo tính tình cương nghị, vương phu ích tử.
Cung Mệnh hoặc cung Phúc có Tham lang và Liêm trinh hội hợp, chủ về nhạy cảm với cái đẹp, cũng chủ về yêu thích nghệ thuật, nhất là ưa vận động hoặc khiêu vũ. Nếu Tham lang độc tọa, thì có khuynh hướng yêu thích vận động.
Cái tên Tham Lang (*) nghe lên rất e ngại, kỳ thật cũng không phải nghĩa sao Tham Lang là như thế, nguồn gốc (mục đích) chính của mệnh danh này là do cùng “Liêm Trinh” xung đối (**), một Liêm một Tham, trở thành một đôi “Đối tinh” trọng yếu trong Đẩu số.
Tham Lang tại Đẩu số xưng là “Chánh Đào Hoa”, Liêm Trinh xưng là “Thứ Đào Hoa”, nhưng hai sao cùng tính chất (lý tính) nhưng lại có rất nhiều điểm không giống, đại khái Liêm Trinh dường như thiên hướng vào âm nhu, Tham Lang lại thiên vào dương cương, bởi vậy cái Đào Hoa ở Tham Lang nổi rõ như kẻ gặp vận hội lớn phô trương ngựa hay, rượu ngon; mà Đào Hoa ở Liêm Trinh lại chỉ là len lén cái khuôn mẫu mang thanh sắc khuyển mã.
Vì lẽ đó Tham Lang thủ mệnh ngộ tai ách cũng ngộ một cách đường đường chánh chánh, như “Tham Lang Tỵ hợi cư hãm địa, bất vi đồ nhân diệc tao hình”; “Tham cư hợi vu ngộ Dương Đà, danh vi phiếm thủy Đào Hoa” (chú: nam nữ tham hoa mê tửu đến táng thân); “Tham Vũ Phá Quân ngộ cát diệu, mê luyến hoa tửu dĩ vong thân”. không giống Liêm Trinh đóng cung hãm phùng ác diệu, gặp phải tai hại dị thường như “Liêm Trinh Vũ Khúc hội vu thụ chế chi hương, khủng mộc áp xà thương”; “Liêm Trinh Hỏa Tinh đồng Không hãm, đầu hà bạch ải” (Liêm, Hỏa, Địa Không hãm đồng cung, thắt cổ hoặc đâm đầu xuống sông tự tử); “Liêm Trinh Phá Quân hội Kình Dương vu Thiên di, tử vu ngoại đạo”. – nhưng xin độc giả chú ý, suy đoán này cấn có rất nhiều điều kiện tiên quyết khác, hy vọng không gặp chuyện độc giả tự mình khởi lá số nhìn thấy cách cục vừa kể trên lại tự mình làm mình sợ hãi đến nổi không ăn được cơm.
Tính chất Tham Lang ở cung vị miếu vượng lợi hãm khi đi cùng các tinh diệu khác rất không giống nhau, đối với độc giả nghiên cứu “tử vi Đẩu số” điều này cần chú ý thêm.
Bình thường mà nói Tham Lang hỉ nhập miếu (cư thìn, tuất, sửu, mùi bốn cung), gọi là “Tham Lang nhập miếu năng tập chánh” nhưng mà vẫn phong lưu; “Tham Lang nhập miếu thọ nguyên trường”, nhưng đặc biệt không thích tọa vượng cung (Tí, ngọ, mão, dậu bốn cung). Phú rằng: “Tham Lang vượng cung, chung thân thử thiết”, “Tham Lang cư vu ngọ mão dậu thủ mệnh, chung thân bất năng hữu vi”. Song các thuyết pháp này lại cũng có rất nhiều điều kiện tiên quyết không thể một mực mà nói vậy được.
Tham Lang không thích lạc hãm, nhưng hỉ ngộ Không diệu; sẽ làm giảm bớt tửu sắc tài khí, nhưng ngộ Văn Xương Văn Khúc có thể trở thành kẻ vì phong lưu mà ô danh, đây là chính là chổ khác biệt lớn nhất giữa Tham Lang và Liêm Trinh, mặc dù “Liêm Trinh ngộ Văn Xương hảo lễ nhạc”; còn Liêm Trinh ngộ Không diệu, lại không thể giảm bớt tập tính thanh sắc khuyển mã.
Tham lang là bắc đẩu đệ nhất tinh, ngũ hành thuộc dương mộc đới thủy, hóa khí là đào hoa.
Tại tử vi đẩu số, tham lang cùng liêm trinh là đối tinh, một liêm một tham, tính chất có chỗ tương đồng mà khác biệt.Bởi vì liêm trinh, tham lang đều hóa khí là đào hoa, nhưng tham lang có khuynh hướng dương cương, liêm trinh có khuynh hướng âm nhu.Cho nên có thể nói , tính chất đào hoa của tham lang là tửu, sắc, tài, khí minh đao minh thương, trong khi đó, liêm trinh lại là tự kiềm chế thanh sắc thái mã.
Tham lang tại mệnh thân cung, chủ nhân có sở trưởng về giao tế, lại có tài nghệ về nhiều phương diện.Ứng xử linh hoạt, thủ đoạn khéo léo, nhưng lại dễ bị sa vào sở thích riêng
Nếu như văn xương văn khúc hội hợp, là ham mê thi tửu cầm kì, theo phương diện vật dục là tửu sắc tài khí. Nếu hội hoa cái tất chủ nhân ham mê triết học thần bí, theo phương diện vật dục đó là ham thích những sự vật thần bí.
Nhưng mà nếu tham lang hội hợp hỏa, linh, dương, đà, hóa kị chư diệu, tất tính chất vật dục càng nhiều, dễ dấn đến tham hoa hảo tửu, phục dược đổ bác.
Cổ nhân đối với tham lang có thuyết pháp “tham cư vượng cung, chung thân thử thiết”, tức là hạng trộm cắp gian xảo. Gọi là tham cư vượng cung tức là:
Người sinh năm thân tý thìn, tham lang cư tý cung.
Sinh năm dần ngọ tuất, tham lang cư ngọ cung.
Sinh năm hợi mão mùi, tham lang cư mão cung
Sinh năm tị dậu sửu, tham lang cư sửu cung.
Ở trên là bí truyền trung châu phái, đặc biệt là điểm : sinh năm tị dậu sửu , tham lang cư dậu không phải là vượng cung.
Đối với thuyết pháp này, cần phải xử lí cẩn thận, đặc biệt là đối với người có phúc đức cung hội hợp cát diệu, ngàn vạn lần không thể tùy tiện kết luận là hạng trộm cắp.Nếu như nữ nhân mệnh cung có cách cục này, rất nên quản giáo nghiêm túc, giảm thiểu ham muốn chiếm hữu.
Tham lang hội hợp cát diệu, chủ vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm giữ quân cảnh đại quyền.
Ngộ hỏa, linh, là hỏa tham cách hoặc linh tham cách, đều chủ tài lộc phong hậu, sự phát triển có tính đột phá.Nếu ở thìn tuất cung là thượng cách, ở sửu mùi là thứ cách, nhưng nếu cung vị đồng thời kiến kình dương đà la là bất hợp cách.Hợp cách là kiến lộc tồn hoặc hóa lộc, có thể giàu đột xuất.
Tham lang rất không hợp kình dương, đà la, cũng hiềm hóa kị, nhưng kiến không kiếp trái lại là người thực hành, kiên định. Cho nên cách kiến không kiếp, chủ người có chuyên môn kĩ nghệ, lại không kiến hóa kị, có thể làm trong ngành nghiên cứu khoa học công trình kĩ thuật, nếu kiến hóa kị , thích hợp làm thợ thủ công.
Tham lang ngộ dương đà, càng làm tăng cái vất vả lận đận.Tại tý hợi hai cung, gọi là phiếm thủy đào hoa, chủ nhân tự cho là phong lưu, vì sắc mà rước họa, có cát diệu tất có thể thành ra phong tao nho nhã.Tại dần cung, tham lang ngộ đà la, cũng chủ vì tham sắc mà bị họa.
Nữ mệnh tham lang, đặc điểm lớn nhất là dễ bị đam mê, đồng thời tính thích thần bí, dẫn đến có tôn giáo tín ngưỡng.Tại thời Đường, Tống, nữ nhân cách này dễ làm nữ đạo sĩ, nhưng tại thời ấy địa vị nữ đạo sĩ bị coi như những ca kỹ nữ, cho nên cổ nhân có thuyết pháp : tham lang nhân mệnh tất vi xướng.Tại hiện đại, khả năng là công quan, nhân tài giao tế, đặc biệt là có tả phù hữu bật, thiên khôi thiên việt, thiên phúc, thiên quan, thiến quý hội hợp, nữ mệnh cũng rất quý, hoặc có địa vị xã hội tương đương ;nếu hội lộc diệu ,lại đắc hỏa linh củng chiếu, chủ sung túc giàu có.Tính tình cương nghị, vượng phu ích tử.
Mệnh cung hoặc phúc đức cung kiến tham lang liêm trinh hội hợp, chủ nhân có sắc thái cảm xúc, cũng chủ yêu thích nghệ thuật, rất thích vận động hoặc khiêu vũ.N ếu tham lang độc tọa, tất có khuynh hướng yêu thích vận động.
ST

TỬ THAM MÃO DẬU

0

Tử Tham Mão Dậu

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Giới nghiên cứu tử vi và các vị hành nghề tử vi hầu như ai cũng cũng thuộc nằm lòng câu phú: “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng, thập nhân chi mạng cửu nhân tăng”. Như vậy, cách cục tử vi Tham Lang đồng cư Chấn Đoài có gì ghê gớm mà có tồn tại câu phú trên. Tiếp theo chuyên mục của sao Tham Lang, trong phạm vi bài phân tích này tôi muốn gửi đến các bạn đã và đang nghiên cứu mệnh lý tử vi có một cái nhìn chi tiết và sâu sắc hơn về cách cục Tử Tham Mão Dậu (Cực Cư Chấn Đoài).

Sao tử vi khi nhập vào 2 cung Mão Dậu thủ mệnh là ở thế vượng địa, lúc bấy giờ Tham Lang tinh ở thế lợi địa đồng tọa thủ. Tài Bạch cung sẽ tọa ở Tỵ hoặc Hợi có Vũ Khúc,

Phá Quân ở thế bình đồng tọa, Liêm Trinh và Thất Sát sẽ đồng nhập Quan Lộc cung tại Sửu hoặc Mùi. Tại Sửu hoặc Mùi Thất Sát điều miếu vượng, Liêm Trinh ở thế lợi. Do tử vi hội hợp với nhóm sao hành động Sát-Phá-Liêm-Tham nên tạo thành cục diện phân tranh giữa 2 thế lực chính và tà, phe nào thắng cần phải xem sự hội hợp của Tứ sát tinh, cát hóa và dâm tinh nhiều hay ít.

Kết cấu này nếu không có gặp tứ sát tinh như Kình Dương-Đà La, Địa Không- Địa Kiếp và Hóa Kị xung phá hoặc dâm tinh như Hàm Trì, Mộc Dục, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Dao thì về cơ bản là cách cục khá tốt. Tại sao? Vì sao Tham Lang là sao đa tài đa nghệ, mà tử vi ở Mão Dậu là thế vượng, nên sẽ chế phục được Tham Lang, khiến cho tính đào hoa của Tham Lang không có đất dụng võ, không thể lôi kéo tử vi vào cảnh tình phong lưu hiếu sắc. Mệnh tạo là người có tính tình hào phóng, có cuộc sống khá sung túc và chủ về sống thọ. Tuy nhiên, khi so sánh 2 cung Mão và Dậu, thì kết cấu này ở cung Dậu sẽ có phần cát lợi hơn cung Mão khá nhiều. Vì khi tử vi, Tham Lang ở Dậu, lúc bấy giờ sao Thái Dương sẽ ở thế miếu địa nhập Tử Tức cung ( cung Li), gọi là Nhật Lệ Trung Thiên, sao Thái Âm cùng Thiên Cơ nhập Thân cung, tại Thân cung sao Thái Âm được gọi là Thiên Hoàng, như vậy cả 2 vầng Nhật Nguyệt điều hữu quang chiếu vào Điền Trạch cung tại Tí có Thiên Lương miếu địa độc tọa. Vũ Khúc, Phá Quân ở Tỵ cung, cho dù ở Tỵ hay ở Hợi, thì kết cấu Vũ Khúc-Phá Quân điều có lực khá yếu, khó thành thượng cách. Kết cấu này chủ về có ý tưởng, suy nghĩ, hành động đột phá mà sinh ra tiền tài. Tài vật khi vào thì khá nhiều, nhưng tiêu tán cũng rất lớn, rất khó tích lũy được. Nhưng kết cấu Vũ Khúc-Phá Quân tọa Tỵ có phần cát lợi hơn ở Hợi. Vì sao? Vũ Khúc là Tài Bạch chủ, ngũ hành thuộc ( -Kim). Tỵ là đất của mùa hạ, Vũ Khúc ở đây được Hỏa rèn luyện, nên mặc dù đi cùng Phá Quân là không được cát lợi, nhưng tính kiếm tiền của Vũ Khúc được Hỏa của Tỵ cung nung rèn, nên trong gian lao sẽ có thành tựu. Trong khi Vũ Khúc đến Hợi cung là Kim gặp Thủy, nên kết cấu Vũ Khúc- Phá Quân tại Tỵ cát lợi hơn tại Hợi cung khá nhiều khi chúng ta xét về mặt kiếm tiền.
Nếu không hội tụ tứ sát tinh, thì cách Tử Tham Mão Dậu sẽ khá tốt cho 3 tuổi sau: Giáp, Mậu, Kỷ. Đối với tuổi Giáp, do Liêm Trinh Hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Kị. Đây là mệnh cách tam kỳ gia hội, phú quý tột bực, trong đó, tuổi Giáp Dần và Giáp Ngọ là đệ nhất cách. Đối với mệnh nam tuổi Giáp, ra ngoài được nhiều người khác phái yêu thích, lấy vợ ở xa quê hương, nhưng khi đi vào giữa đại vận thứ ba, dễ bị phụ nữ ruồng bỏ, lâm vào cảnh thất tình, làm cho ngọc đá điều tan nát.
Đối với người tuổi có hàng thiên can là Mậu, do có Lộc Tồn tại Tỵ, Tham Lang Hóa Lộc, nếu mệnh cung an tại Dậu thì là mệnh cách Song Lộc Triều Viên hay còn có tên gọi khác là Lộc Hợp Uyên Ương, nguồn tiền tài bất tận, nếu không là người giàu sang giữa thiên hạ thì cũng hơn rất nhiều người khác trong xã hội kim tiền hiện nay. Tại sao như vậy? Trong bất cứ xã hội nào, phong kiến hay xã hội hiện đại, thì đồng tiền đi trước luôn được gọi là đồng tiền khôn, người có Tham Lang Hóa Lộc thì sẽ rất lanh lợi, lém lĩnh, bản chất Tham Lang là sao có tài ngoại giao khá tốt. Khi Tham Lang Hóa Lộc là người biết dụng Tài để tạo ra Tài, hoặc dụng Tài để tạo ra Quyền. Nên nếu mệnh cách của người tuổi Mậu có mệnh an tại Dậu đi vào chính giới hay thương mại điều có sự thành tựu lớn. Trong các tuổi có hàng thiên can là Mậu, thì người tuổi Mậu Tí Dương nữ mệnh an tại Dậu hay Mão điều đạt được cách tốt, nhưng mệnh an tại Dậu sẽ đạt được cách tốt của Song Lộc Triều Viên trọn vẹn, thành đạt từ đại vận thứ 3, nếu mệnh an tại cung Mão thì từ đại vận thứ 4 mới phát lên. Nhưng đối với mệnh cách này, khá đa tình, nếu Phúc Đức cung mà hội nhiều sát tinh, thì từ đại vận thứ ba, sẽ đỗ vỡ tình cảm vợ chồng vì chuyện tình nam nữ với người đàn ông khác bên ngoài. Đối với tuổi Mậu Dần, mệnh an tại Dậu, thì Tuần Không vây mệnh và Triệt Không tọa Quan Lộc cung, Hàm Trì chiếu mệnh. Do là người tuổi Dương, nên tác dụng của Tuần Không và Triệt Không khá mạnh. Mệnh cách vẫn hưởng phú quý, ra đời luôn gặp người khác phái yêu thích, để ý theo đuổi nhưng vẫn luôn giữ được sự thanh bạch trong tâm hồn, thường hay suy nghĩ về đạo, tôn giáo, tâm linh, về già thường hay tìm chỗ tu hành, có thể tu tại gia. Người tuổi Mậu Thìn, có mệnh an tại Dậu, do Thiên Không đồng độ với Lộc Tồn tại Tỵ (Thiên Không đóng ở đất tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi là đúng vị Không Vong) nên phá đi Lộc Tồn, khiến cho tiền tài từ sao này sẽ trở thành hư không. Lúc bấy giờ Phúc Đức có Thiên Tướng ngộ Tuần Không, mệnh cung có Hàm Trì tọa thủ. Tuổi Mậu Thìn sẽ gặp nhiều gian lao, vất vả, tiền đến tiền đi, đời sống tinh thần gặp nhiều phiền não, gặp nhiều rắc rối về tình cảm, hôn nhân dễ gẫy đỗ giữa chừng.
Người tuổi Kỷ có Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, đây là mệnh cách vừa có tiền vừa có quyền, nếu đi kinh thương cũng rất phát đạt. Trong các tuổi có hàng thiên can là Kỷ, thì tuổi Kỷ Mùi Âm nam sẽ đạt được sự thành công rực rỡ từ việc kinh doanh buôn bán. Nguyên do, tuổi Kỷ Mùi có Thiên Mã tại Tỵ, phối kết với Hóa Lộc tạo thành cách Lộc Mã giao trì. Đối với tuổi Kỷ Hợi thì Thiên Mã ngộ Không Vong, nên không phát huy hoàn toàn cách Lộc Mã giao trì trái lại còn làm cho cuộc đời nhiều thăng trầm, mệt mõi. Tuổi Kỷ Mão nếu mệnh an tại Dậu thì Tuần Không và Triệt Không đồng vây chiếu mệnh cung tại Dậu, nên cuộc đời không có gì đột phá. Tuổi Kỷ Tỵ nếu mệnh an tại Dậu hay Mão điều không hưởng được cách Lộc Mã giao trì ( khi mệnh cung an tại Dậu thì Thiên mã tại Hợi xung chiếu, nhưng mã ở đây ngộ Không Vong, nếu mệnh an tại Mão thì Thiên mã Hóa Lộc tại Hợi, gặp Tuần Không vây chiếu).
Ngoài ra, những người sinh vào tháng 8, tháng 12 có mệnh tọa thủ tại cung Mão, hoặc sinh vào tháng 2, tháng 6 có mệnh an tại Dậu, đều có 2 sao Tả Phù, Hữu Bật hợp chiếu. Đây là mệnh cách Phù Bật Củng Chủ, ra đời lập nghiệp gặp nhiều quý nhân tương trợ, tài nghệ xuất chúng, sự nghiệp có thể thành tựu.
Trên đây là chúng ta vừa xem xét kết cấu tử vi Tham Lang ở mặt tích cực. Bây giờ chúng ta xét đến kết cấu Tử Tham Mão Dậu hội tứ sát tinh và Hóa Kị.
Khi tử vi đồng cung với Tham Lang, thì quyền uy của tử vi ít nhiều bị hạn chế đi. Mà hóa khí của Tham Lang là Chính Đào Hoa, tức là bấy giờ vị vua đang sống bên cạnh người đàn bà đầy nhan sắc nhưng có tâm tính phức tạp. Trường hợp này nếu hội thêm Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Hàm Trì, Thiên Dao, Mộc Dục thì trở thành cách cục khá thấp. Bởi vì Văn Khúc, Văn Xương chủ về văn chương, nghệ thuật, nhưng khi gặp Tham Lang thì tính nghệ thuật kia chuyển thành lãng mạn đa tình, lúc bấy giờ vị vuatử vi kia chỉ lo ăn chơi, xa đọa, trác táng, rơi vào vũng lầy của trụy lạc. Nếu như mệnh cung an tại Dậu thì sự tác họa, sa đọa còn tệ hơn cung Mão. Bởi vì Dậu là đất của Đào Hoa, tử vi lúc bấy giờ không thể nào thoát khỏi vùng bại địa của cung Đoài. Trường hợp này nếu như không gặp Thiên Không, Thiên Hình, Tuần Không, Triệt Không tọa thủ đồng cung, chắc chắn sẽ là người vì sắc, vì tình mà đánh mất bản thân mình, nhưng ngược lại nếu gặp Thiên Không, Thiên Hình, Triệt Không, Tuần Không lại là người có tính cách thanh bạch. Đào Hoa chính là Tham Lang tinh, tử vi chính là vua, là chủ tinh của chòm sao Bắc Đẩu, vua bị nhan sắc phụ nữ làm cho si, bi lụy, nên cách này giới mệnh lý gọi là Đào Hoa phạm chủ.
Khi Tử Tham Mão Dậu đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp thì lại khác. Bản thân tử vikhi đơn thủ tại Tí hay Ngọ cung giữ mệnh mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, Hoa Cái là người đã có khuynh hướng xuất thế. Xuất thế ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, tức là người có mệnh cách này có khả năng và đam mê nghiên cứu tinh thông về các môn huyền học, tôn giáo, tâm linh, chứ không phải nhất thiết xuất thế là phải cắt tóc vào chùa làm ni, sư. Vì vậy, khi đồng cung với Tham Lang tại Mão, Dậu, có Địa Không, Địa Kiếp, Hoa Cái, Thiên Không thì khuynh hướng tu hành, xuất gia hoặc nghiên cứu tâm linh, tôn giáo của kết cấu này càng thể hiện rõ nét. Nguyên nhân? Khi sao Tham Lang giữ mệnh, tất tam phương của Tham Lang sẽ là Sát-Phá-Lang, đây là nhóm sao chủ về hành động, biến động, tức là cách cục không thể ngồi yên. Mà khi Tham Lang đồng tọa với tử vi, lại gia thêm Địa Không, Địa Kiếp. Bản thân tử vi khi gặp Không, Kiếp, Song Hao là sẽ bị khó khăn về kinh tế. Do đó, Tử Tham khi gặp Địa Không, Địa Kiếp là do biến động, thay đổi nhưng tiền tại không tụ được, kinh tế theo chiều hướng càng ngày càng suy vi. Thông thường, khi con người ta lâm vào cảnh khó khăn, làm ăn thất bại, thường tìm niềm an ủi tinh thần ở các môn tâm linh, huyền học, tôn giáo. Tức là tìm lối thoát cho tinh thần của mình ở thế giới tâm linh, đạo giáo. Cũng là có khuynh hướng xuất thế, nhưng tùy theo sự hội chiếu của Tử Tham với những sao nào mà lý giải nguyên nhân.
Tình huống 1: tử vi, Tham Lang cùng Địa Kiếp, Địa Không, Song Hao là do làm ăn kinh tế khó khăn, thất bại mà đẩy đương số vào con đường nghiên cứu các môn huyền bí, đạo giáo, thậm chí xuất gia làm tăng, ni. Lúc bấy giờ câu phú “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng” sẽ phát huy tác dụng mạnh.
Tình huống 2: tử vi, Tham Lang đồng cung với Thiên Không, Hoa Cái, Thiên Hình là ngay khi mới sinh ra đã có khuynh hướng, năng khiếu đặc biệt về tâm linh, tôn giáo. Mệnh tạo này có tính cách thanh bạch, thường nhìn đời hư ảo, xem nhẹ những thứ vô vị của thế tục. Nên nếu mệnh tạo này gặp tình huống xấu hoặc bất mãn một điều gì đó trên đường đời là ngay lập tức sẽ tìm đường đến các môn tâm linh, tôn giáo, nếu tình huống quá nặng thì có thể xuất gia làm ni, sư hoặc tu tại gia. Nếu dấn thân vào nghiên cứu các môn huyền học, tôn giáo, thì loại mệnh tạo này sẽ có thành tựu rất lớn. Tức là sẽ đạt được cái Có trong cái Không có. Đây là mệnh tạo của những nhà Nghiên cứu Huyền học có tiếng tăm, các vị Đại đức, Hòa thượng có tiếng tăm thường hay đi thuyết giảng tôn giáo ở các nơi.
Tình huống 3: tử vi, Tham Lang đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp gia hội Hồng Loan, Mộc Dục, Thiên Dao, Hàm Trì, Thiên Hỉ thì loại mệnh tạo này thì quá thê thảm. Do tình cảm nam nữ, tửu sắc, cờ bạc mà dẫn đến phá tán sự nghiệp, danh dự, cuộc đời không còn lối thoát, đường cùng phải tìm sự giải thoát ở thế giới tâm linh, xuất gia làm ni, sư. Lúc bấy giờ câu phú “Tử Tham Mão Dậu gia Kiếp Không đa vi thoát tục chi tăng” sẽ phát huy tác dụng mạnh.
Khi tử vi, Tham Lang đồng cung với Hàm Trì, Thiên Hỉ, Hồng Loan, Mộc Dục, Thiên Dao mà không có Thiên Không, Tuần Không, Triệt Không đồng cung, thì loại mệnh tạo này đích thị là Đào Hoa phạm chủ. Ăn chơi trác táng, phong lưu hiếu sắc, ngoại tìnhhoặc có quan hệ tình cảm thiên về nhục dục với nhiều thành phần khác nhau. Nếu có Hóa Lộc hay Lộc Tồn tọa thủ hay hợp chiếu thì sẽ chế giảm được tính trăng hoa phần nào, nhưng mệnh tạo vẫn là người thiên về lối sống phong lưu, không trân trọng tình cảm.
Trong tình huống tử vi, Tham Lang đồng độ với Hàm Trì, Thiên Hỉ, Hồng Loan, Mộc Dục, Thiên Dao nếu gia thêm Đà La, Kình Dương thì khỏi cần phải bàn. Lúc bấy giờ đương số sẽ sở hữu đồng thời cả 2 cách “ Đào Hoa phạm chủ và Phiếm Thủy Đào Hoa”, vì phong lưu hiếu sắc, cờ bạc, rượu chè mà gặp tai họa, số sẽ đoản thọ, lúc này Kình Dương sẽ phát huy rất mạnh uy lực của câu phú “Kình Dương Tí Ngọ Mão Dậu, phi yểu chiết nhi hình thương”.
Trường hợp tử vi, Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì sao? tử vi ở thế miếu và vượng địa, có khả năng chế hóa được sát tinh Linh, Hỏa. Tham Lang khi gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh là thuộc cách phát tài đột ngột, tiền tài đến bất ngờ do đầu cơ hay trúng số, cờ bạc, nhìn chung nguồn tiền tài do Tham Hỏa hay Tham Linh đem đến là tiền tài hoạnh phát. Tuy nhiên, khi tử vi đồng cung với Tham Lang, do Tham Lang đã bị tử vichế ngự một phần, nên tính đột ngột, bất ngờ và khả năng sinh tài sẽ bị giảm đi. Vì vậy, kết cấu tử vi, Tham Lang với Linh Hỏa ở Mão Dậu cũng phát đột ngột, nhưng mức độ phát bị giảm đi nhiều, không còn được như Tham Linh hay Tham Hỏa ở tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Do Dậu cung Linh Hỏa ở thế hãm địa, nếu Tử Tham đi với Linh Hỏa ở Dậu, thì tiền tài sau khi phát sẽ không giữ được lâu bền, tức là sẽ phải mất đi. Khi Tử Tham đi với Linh, Hỏa ở Mão thì sẽ cát lợi hơn Dậu, do Mão là cung ban ngày nên Linh và Hỏa ở thế đắc địa.
Đối với người tuổi có hàng thiên can là Mậu, do có Lộc Tồn tại Tỵ, Tham Lang Hóa Lộc, nếu mệnh cung an tại Dậu thì là mệnh cách Song Lộc Triều Viên hay còn có tên gọi khác là Lộc Hợp Uyên Ương, nguồn tiền tài bất tận, nếu không là người giàu sang giữa thiên hạ thì cũng hơn rất nhiều người khác trong xã hội kim tiền hiện nay. Tại sao như vậy? Trong bất cứ xã hội nào, phong kiến hay xã hội hiện đại, thì đồng tiền đi trước luôn được gọi là đồng tiền khôn, người có Tham Lang Hóa Lộc thì sẽ rất lanh lợi, lém lĩnh, bản chất Tham Lang là sao có tài ngoại giao khá tốt. Khi Tham Lang Hóa Lộc là người biết dụng Tài để tạo ra Tài, hoặc dụng Tài để tạo ra Quyền. Nên nếu mệnh cách của người tuổi Mậu có mệnh an tại Dậu đi vào chính giới hay thương mại điều có sự thành tựu lớn. Trong các tuổi có hàng thiên can là Mậu, thì người tuổi Mậu Tí Dương nữ mệnh an tại Dậu hay Mão điều đạt được cách tốt, nhưng mệnh an tại Dậu sẽ đạt được cách tốt của Song Lộc Triều Viên trọn vẹn, thành đạt từ đại vận thứ 3, nếu mệnh an tại cung Mão thì từ đại vận thứ 4 mới phát lên. Nhưng đối với mệnh cách này, khá đa tình, nếu Phúc Đức cung mà hội nhiều sát tinh, thì từ đại vận thứ ba, sẽ đỗ vỡ tình cảm vợ chồng vì chuyện tình nam nữ với người đàn ông khác bên ngoài. Đối với tuổi Mậu Dần, mệnh an tại Dậu, thì Tuần Không vây mệnh và Triệt Không tọa Quan Lộc cung, Hàm Trì chiếu mệnh. Do là người tuổi Dương, nên tác dụng của Tuần Không và Triệt Không khá mạnh. Mệnh cách vẫn hưởng phú quý, ra đời luôn gặp người khác phái yêu thích, để ý theo đuổi nhưng vẫn luôn giữ được sự thanh bạch trong tâm hồn, thường hay suy nghĩ về đạo, tôn giáo, tâm linh, về già thường hay tìm chỗ tu hành, có thể tu tại gia. Người tuổi Mậu Thìn, có mệnh an tại Dậu, do Thiên Không đồng độ với Lộc Tồn tại Tỵ (Thiên Không đóng ở đất tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi là đúng vị Không Vong) nên phá đi Lộc Tồn, khiến cho tiền tài từ sao này sẽ trở thành hư không. Lúc bấy giờ Phúc Đức có Thiên Tướng ngộ Tuần Không, mệnh cung có Hàm Trì tọa thủ. Tuổi Mậu Thìn sẽ gặp nhiều gian lao, vất vả, tiền đến tiền đi, đời sống tinh thần gặp nhiều phiền não, gặp nhiều rắc rối về tình cảm, hôn nhân dễ gẫy đỗ giữa chừng.
ST

SAO THAM LANG – VƯƠNG ĐÌNH CHI

0

Sao Tham lang – Vương Đình Chi

(Tuvivietnam – siêu tầm)

      Tham lang miếu ở Thìn Tuất Sửu Mùi, hãm ở Tỵ Hợi

Trong Đẩu Số, thì Tham lang và Liêm trinh là cặp “sao đôi“, tính chất của hai sao có chỗ tương đồng mà cũng có chỗ tương dị. Vì vậy cũng là sao đào hoa, nhưng Tham lang theo khuynh hướng dương cương, còn Liêm trinh thì có khuynh hướng âm nhu. Cũng có thể nói, đào hoa của Tham lang rõ nét sở tính đam mê tửu sắc, còn Liêm trinh sở tính ham thích thanh sắc và còn biết tự kiềm chế.

Tham lang ở cung Mệnh hay cung Thân, chủ về có sở trường giao tế, còn có thêm tài nghệ ở nhiều phương diện. hiếu động, khéo ăn khéo ở, nhưng lại dễ chìm đắm trong tính dục như: thị hiếu, sở thích, …
Nếu hội hợp với Xương Khúc, thì có sở thích cầm kỳ thi tửu, xét về phương diện vật dục là đam mê tửu sắc, nếu gặp thêm Hoa cái chủ về ưa thích khoa học huyền bí, xét về phương diện vật dục là ưa thích sự vật thần bí.
Có điều, nếu Tham lang hội hợp với Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la và Hóa Kị, thì tính vật dục rất sau nặng, dễ thành đam mê tửu sắc, cơ bạc, hút sách.

Cổ nhân đối với Tham lang, có thuyết “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham cư vượng cung, chung thân thử thiết), gọi là Tham cư vượng cung tức là:
– Người sinh năm Thân Tí Thìn, có Tham lang cư Tí
– Người sinh năm Dần Ngọ Tuất, có Tham lang cư Ngọ
– Người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu
– Người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang cư Mão
Đây là bí truyền của Trung Châu phái; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu không phải là cung vượng, đây là điều chưa có sách nào ghi chép, các phái cũng không lưu truyền.

Thuyết của cổ nhân là do tâm lý chấp trước vào câu “Tham cư vượng cung” suy diễn dễ phát triển thành dục vọng, chiếm hữu quá sâu, nên có luận đoán “suốt đời trộm cắp như chuột”. Đối với thuyết này cần phải xử lý thật cẩn thận, nhất là đối với người có cung Phúc đức hội hợp sao cát, không được khư khư luận là “suốt đời trộm cắp như chuột”. Nếu mà cung mệnh của con gái mà gặp cách cục này thì phải quản giáo cho khéo, để giảm bớt dục vọng chiếm hữu của nó.
Tham lang hội sao Cát, chủ về vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm đại quyền trong quân đội hay cảnh sát.

Tham lang gặp Hỏa tinh hay Linh tinh, là “Hỏa Tham cách” hoặc Linh Tham cách”, đều chủ về tài lộc dồi dào, phát triển có tính đột phá. Lấy Hỏa Tham làm thượng cách, Linh Tham làm kế đó. Lại còn lấy ở Thìn, Tuất làm thượng cách, hai cung Sửu Mùi là kế đó, các cung khác là sau nữa. Nhưng nếu gặp thêm Kình dương hoặc Đà la thì không hợp cách. Hợp cách là gặp Lộc tồn hoặc Hóa Lộc, đặc biệt sẽ có nguồn tiền tài bất ngờ, có thể giầu đột ngột.

Tham lang rất ghét Kình dương, Đà la, cũng sợ Hóa Kị, nhưng gặp Địa không, Địa kiếp thì trái lại, có thể thành người có hành động thiết thực. Cho nên, gặp Không Kiếp phần nhiều chủ về có nghề chuyên môn, nếu không gặp Hóa Kị thì có thể theo ngành nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nếu gặp Hóa Kị thì nên làm thợ.

Tham lang gặp Kình dương, Đà la, làm tăng sự trắc trở gập gềnh, bất đắc chí và vất vả trong đời người. Ở Hợi và Tí thì gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu vì sắc tình mà chuốc họa, có sao cát thì có thể chuyển hóa thành nho nhã thanh tao. Tham lang gặp Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng” chủ về vì ham sắc mà gặp họa.

Nữ mệnh Tham lang, đặc điểm lớn nhất là có sở thích riêng, đồng thời thích chuyện thần bí, có khuynh hướng sùng, tín ngưỡng bái tôn giáo. Thời Đường Tống, phụ nữ có mệnh này dễ làm “nữ đạo sĩ”, “nữ đạo sĩ” thời ấy tương đương với kỹ nữ cao cấp. Ở thời hiện đại, có thể thành người làm công việc giao tế, quan hệ công cộng, nhất là có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý họi hợp, nữ mệnh cũng có thể sang quý hoặc có địa vị xã hội. Nếu hội các sao Lộc, mà còn được Hỏa tinh, Linh tinh củng chiếu, đều chủ về giầu có. Mệnh tạo tính tình cương nghị, vương phu ích tử.

Cung Mệnh hoặc cung Phúc có Tham lang và Liêm trinh hội hợp, chủ về nhạy cảm với cái đẹp, cũng chủ về yêu thích nghệ thuật, nhất là ưa vận động hoặc khiêu vũ. Nếu Tham lang độc tọa, thì có khuynh hướng yêu thích vận động.

ST

SAO THAM LANG – LỤC BÂN TRIỆU

0

Sao Tham lang – Lục Bân Triệu

(Tuvivietnam – siêu tầm)

      Sao Tham lang trong thuyết ngũ hành thuộc dương mộc. Ở trên trời thuộc chòm sao Bắc Đẩu, lại thuộc thủy,  hóa làm đào hoa, là tinh diệu giải trừ tai nạn ở trên trời. Ở người thì chủ về hiếu động, lanh lẹ láu lỉnh, thơ riệu hút sách cờ bạc đủ trò, lại còn thích thuật tu luyện thần tiên.

Gặp cát diệu chủ về phú quý vinh hoa, tay nắm đại quyền quân chính, lừng danh thiên hạ. Gặp ác sát thì chủ về mê hoa luyến riệu, ưa thích uống riệu ham mê cờ bạc.

Gặp Hỏa tinh, Linh tinh, là cách Hỏa Tham, Linh Tham, chủ về tiền nhiều lộc cao. Nhưng lấy trường hợp ở Thìn và Tuất là thượng cách, ở Sửu và Mùi là thứ cách, còn các  cung khác thì kế đó nữa.

Tham lang đồng độ với Kình dương, Đà la ở Hợi, Tí gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, tự nổi tiếng phong lưu, vì sắc mà thân bại danh liệt.

Ở Thìn hay Tuất, đối diện có Vũ khúc xung chiếu, có cát diệu thì sau 30 tuổi có thể phát. Ở cung vị khác, Tham lang có Vũ khúc hội chiếu, trước nghèo sau giầu. Có sát tinh thì lúc nhỏ nhiều tai nạn, thọ mệnh không dài.

Tham lang ở cung Dần, gặp Kình dương, Thiên hình, có tai họa lao ngục, đồng độ với Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng”, chủ về túng dục tham sắc, hoặc vì sắc mà mang họa.

Tham lang ở cung mệnh, chủ về người sắc mặt xanh trắng, hoặc hơi kèm sắc vàng, mặt trái xoan hoặc nhiều xương. Nhập miếu thì thân người béo mập cao to. Lạc hãm thì thân hình nhỏ mà giọng nói cao.

Tính tình bất thường, nhưng đại lượng, hay thi ân giúp người. Khi có lỗi lầm, người ta thường giận thấu xương, nhưng về sau lại được người lượng thứ, tha thứ bỏ qua. Tác phong làm việc có tính gấp gáp, ưa thật khéo léo trải chuốt. Ưa nhiều đam mê, cờ bạc tửu sắc đều ham, không từ thứ gì.

Tham lang ở cung Mệnh, Thất sát ở cung Thân, gặp sát  diệu thì có tác phong dâm bôn, trộm hoa bẻ liễu. Tham lang ở cung Mệnh, Phá quân ở cung Thân, gặp sát diệu, nam mệnh thì đam mê cờ bạc riệu chè, trọng sắc như mạng sống; nữ mệnh cũng chủ về dâm đãng, không yên gia thất, nhiều đam mê thích giao du.

Hội chiếu với các tinh diệu Văn xương, Văn khúc, Thiên hư, Âm sát, chủ về người không biết việc, làm việc chẳng ra sao, không thực tế, chỉ biết giỏi lừa dối, xảo trá.

Tham lang đồng độ với Tử vi, gọi là “Đào hoa phạm Đế tọa”, chủ về rất dâm đãng.

Bất luận là nam hay nữ, phàm Tham lang thủ mệnh, có sao Không, Thiên hình, thì trái lại, chủ về thanh bạch đoan chính.

Tham lang thủ mệnh, tam phương tứ chính không có sát tinh, mà có cát diệu hội chiếu, đều chủ về là người trong giới quân nhân, cảnh sát hoặc chính giới.

Tham lang ở Dần địa, có cát tinh hội chiếu, chủ về người thông minh, còn trẻ đã nổi tiếng, có điều, tuy sáng lập được sự nghiệp, nhưng tai họa lao ngục và tai họa về sự nghiệp đều tới. Tham lang tọa mệnh, đến Thân địa, mộc gặp kim khắc chế, có thể lưu lại tiếng thơm trăm đời, nhưng cũng có thể để lại tiếng xấu vạn năm, vì sẽ có một số người chỉ trích phản đối, nhưng lại được một số người khác tôn kính sùng bái.

Sự nghiệp một đời là do gian khổ phấn đấu mà được, nếu chỉ lo hưởng thụ thì sự nghiệp sẽ mất đi trong sự khoái lạc. Không có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì từ tay trắng làm nên đại nghiệp. Gặp sát tinh thì tai họa lao ngục, cuộc đời lẩn đông trốn tây, nếm đủ mùi chua đắng cay.

Tham lang ở cung Ngọ, là mộc hỏa sáng thông nhau, giỏi kế mưu, hùng tài thao lược. Nếu tam phương tứ chính không có sát tinh ác diệu, thì sự nghiệp cực lớn, tay cầm đại quyền tài chính, phân định tình thế kinh tế trái phải. Nếu có sát diệu, thì nên tìm cách phát triển trong giới thương nghiệp.

Tham lang ở Tỵ, thì gặp sao Liêm trinh đồng độ, chủ về hoạt động sôi nổi, trong cuộc đời gặp tai nạn rất nhiều, có điều, đều có thể thoát nguy mà yên. Ở tam phương tứ chính không sát diệu ác tinh hội chiếu, tất uy chấn biến cương, làm tướng lĩnh tay nắm trăm vạn hùng binh. Nếu có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì chỉ nên hoạt động trong giới thương mại, song, những người giao du qua lại phần nhiều cũng trong giới quân nhân, cảnh sát hay chính giới. Có điều cuộc đời nhiều sóng gió. Phàm Tham lang tọa mệnh ở Tỵ, thì sao Thiên phủ đến cung Thê, có sao Vũ khúc vây chiếu, chủ về có vợ rồi lại lấy thêm vợ, vợ thứ hai tất sẽ thông minh đa tài, có thể giúp được chồng, giỏi chăm lo gia đình.

Phàm Tham lang tọa cung Mệnh, thì rất khác với các sao Cự môn, Thái dương nhập cung mệnh. Cự Nhật thủ mệnh, tuy không lỗi lầm cũng thường dễ bị người chỉ trích (Thiên lương thủ mệnh gặp Lộc tồn cũng vậy). Còn lại Tham lang tọa thủ mệnh, dù có lỗi lầm, rốt cuộc người ta cũng tha thứ bỏ qua, hơn nữa còn có tác phong đặc biệt, tức là có thể ở cùng với người oán thù mình, lâu dần có thể hóa giải mối oán thù này.

Nữ mệnh có Tham lang đến cung mệnh (cũng giống như nam mệnh, đều thuộc về cách “Hỏa kỳ lân“), chủ về hoặc là mê riệu, mê cờ bạc, mê hút sách, hoặc là hay thay đổi thị hiếu, hơn nữa còn có thị hiếu về tín ngưỡng tôn giáo. Nhập miếu thì đều phú quý, có các sao Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý, hội chiếu thì chủ về quý. Có Lộc tồn, Hóa Lộc, Hỏa tinh, Linh tinh vây chiếu thì chủ về phú. Phàm Tham lang thủ mệnh nữ, thường là người có chí trượng phu, tính tình cương nghị, trọng hình thức, vượng chồng ích con. Nhưng nếu lạc hãm thì nên làm vợ thất, vợ lẻ, nếu không sẽ tự hình khắc phá tài.

Lưu niên Đại hạn có sao Tham lang đến, không có sát diệu, thì chủ về hay bỏ cũ thay mới, thích thơ riệu thù tạc, tính tình vui vẻ, tài năng tiến triển muốn tự tác sự nghiệp mới, thêm nhân khẩu. Có tam hóa Lộc Quyền Khoa thì thăng quan tấn tước. Gặp Hỏa Linh thì được tiền của bất ngờ. Nếu hội chiếu sát tinh, ác diệu lạc hãm, và Hóa Kị, thì chủ về vì giao tế thù tạc mà sinh tai họa thị phi, hoặc vì đầu cơ, cờ bạc, mà khuynh gia bại sản. Gặp Hàm trì, Thiên diêu chủ về vì sắc mà sinh tai họa. Mừng nhất là thấy hỷ sự, hoặc mang thai sinh đẻ, nhờ đó mà tai họa biến thành cát tường.

Phàm, người sinh năm Thân Tí Thìn có Tham lang thủ mệnh cư Tí; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang thủ mệnh cư Ngọ; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang thủ mệnh cư Dậu; người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang thủ mệnh cư Mão, thảy đều chủ về người có tính tình tham lặt vặt, phẩm hạnh bất chính, nhiều đam mê mù quáng có thể xảy ra hành vi trộm cắp mặc dù tiền vẫn dư giả không thiếu. Hơn nữa, thường có đầu óc không trong sáng, không hiểu thị phi, điên đảo trắng đen, ân oán không minh bạch. Nếu có nhiều cát diệu hội tụ, thì những tình huống kể trên giảm thiểu đi nhiều.

ST

Tham lang tinh – Toàn thư

0

Tham lang tinh – Toàn thư

(Tuvivietnam – siêu tầm)

      Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang là dương mộc (khí – bên ngoài), là âm thủy (thể – bên trong), là ngôi sao thứ nhất trong chòm Bắc Đẩu. Hóa khí là đào hoa, chủ về họa phúc, dục vọng. 

Trong lá số, sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân luôn nằm ở cung vị tam phương hội chiếu, nên được gọi chung là Sát Phá Lang – đây chính là điểm chuyển ngoặt đánh dấu những biến động lớn trong vận mệnh. Nếu vận hạn gặp sao này, lại gặp sát tinh hay bị sát tinh hội chiếu, sẽ là “Trúc la tam hạn” chủ về đại hung. Nhưng tính chất biến động của sao Tham lang là yếu hơn, so với Thất sát và Phá quân, chủ yếu thiên về “tửu sắc tiền tài“.

Tham lang là một ngôi sao chủ về đa tài đa nghệ, mang tính đào hoa, phạm vi tài nghệ rất rộng, không những có tài nghệ thuật, còn có sở trường về ngôn ngữ, là nam giới tinh thông cầm kỳ thi họa, là nữ giới khéo nữ công gia chính, đều am hiểu lễ nghĩa, có chừng có mực, vì yêu cầu của công việc nên thường xuyên phải tham gia tiệc tùng ngoại giao, khó tránh khỏi sa đà vào sắc dục.

Sao Tham lang là thần dục vọng, là sao đào hoa, có thể ban phúc, cũng có thể giáng họa, nên thiện ác lẫn lộn, gặp Cát sẽ chủ về quý, gặp Hung sẽ chủ về phù phiếm giả tạo, lúc thì thao thao nhân nghĩa đạo đức, lúc lại bị cuốn theo sắc dục mà không còn biết đến lễ nghĩa liêm sỉ, tính tình phóng đãng. Trạng thái họa phúc của sao Tham lang có liên quan đến khái niệm nhân quả, tức gieo mầm thiện được phúc báo, gieo mầm ác gặp quả báo.

Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang thuộc Giáp mộc, Giáp đứng đầu mười thiên can, nên mang nghĩa “mở đầu”; Mộc chứa sinh khí, có xu thế phát triển, bởi vậy ranh giới giữa thiện và ác của sao Tham lang thường rất mỏng manh. Lại vì Tham lang tuy thuộc Mộc, nhưng gốc lại thuộc Thủy, nên tại Số khí hóa là Đào Hoa, khiến cho tính chất của sao Tham lang có xu hướng đào hoa, ưa thích chuyện phóng đãng dâm dật, thường xuyên thay đổi, tính thích so bì kèn cựa, nhiều tham vọng, quá thông minh khôn khéo mà bị mang vạ. Nếu Tham lang nằm cùng cung với Văn Xương (sao Giờ) và Vũ khúc, chủ về phù phiếm giả dối, đào hoa, một đời liên tục vấp phải các rắc rối về tình cảm.

Sao Tham lang khi làm sao Thiên Tài, thì tiền của đấy là trong thành có bại, trong được có mất. Bởi vậy, khi Tham lang gặp sao Chính tài là Vũ Khúc, sẽ không thành tựu cho người trẻ tuổi, thành đạt sớm sẽ phá sản sớm, sau năm 35 tuổi phát tài mới có thể giữ được.

Sao Tham lang cũng chủ về tính hưởng thụ, thiên về những hưởng thụ cao cấp về mặt vật chất, thích tiêu pha nên dễ thành hoang phí, điều này nhiều khi do môi trường sống tạo thành, nên có khác với tính chất hưởng phúc của sao Thiên đồng.

Trong số các ngôi sao của Tử Vi Đẩu Số, thì sao Tham lang ưa được Sát tinh xung phá nhất. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Hỏa tinh hay Linh tinh, thì hành Hỏa của hai sao Hỏa Linh sẽ khắc chế hành Thủy ở gốc của Tham lang, mà được Mộc tương sinh. Đặc biệt là dương Hỏa của Hỏa tinh sẽ khắc chế được âm Thủy của sao Tham lang, khắc một cách hữu tình, tạo thành cách “Hỏa Tham” hoặc “Linh Tham“, nên trong cuộc đời sẽ có những biểu hiện mang tính đột phá, tăng cường sức mạnh của sao Tham lang, theo nghiệp Võ sẽ hiển đạt. Nếu Thân lại ở Hóa Lộc sẽ phát tài chóng vánh. Nếu sao Tham lang rơi vào cung Không Vong, hoặc gặp sao Hóa Kị, sẽ lại trở thành đoan chính, ức chế được các đặc tính đào hoa, như tửu, sắc, tiền, tài, và phát huy được những tài năng nghệ thuật. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Địa không, Địa kiếp, chủ về có những kỹ năng, kỹ thuật chuyên sâu sở trường.

Sao Tham lang tuy ưa gặp được Sát tinh xung phá, nhưng lại khó chống đỡ nổi sát khí của các sao Đà la, Kình dương. Nếu như Tham lang đồng cung với Đà la hay Kình dương, lại gặp các sao Địa không, Địa kiếp, Hỏa tinh, Linh tinh, Hóa Kị, sẽ khiến cho Tham lang khó phát huy được tiềm năng, nên chủ về vất vả lao lực, nhờ vào tài khéo, kỹ nghệ để mưu sinh, dễ trở thành kẻ tiểu nhân hèn kém.

Sao Tham lang gặp Phá quân, dễ mất mạng vì ham mê tửu sắc. Nếu gặp Lộc tồn chủ về cát lợi. Gặp ám (Cự môn), hao (Phá quân), chủ về phù phiếm giả tạo. Gặp tù (Liêm trinh) chủ về không trong sạch. Gặp sát cô (Thất sát) dễ mắc hình ngục tù đầy. Gặp Kình Đà dễ mắc bệnh trĩ. Gặp hình (Kình dương), kị (hóa Kị) trên người có vết chàm.

Sao Tham lang gặp Hóa Lộc Hóa Quyền, chủ về phát tài đột ngột, có tiền của bất ngờ. Kị nhập cung Thủy (Hợi Tí), sẽ là tượng “Phiếm thủy đào hoa” (đào hoa trôi nổi), nếu lại gặp thêm các sao đào hoa khác như Hồng loan, Thiên hỷ, Thiên diêu, đường tình duyên càng thêm phức tạp. Sao Tham lang nếu nhập Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, gọi là “Tài nhập khố v” (Của nhập vào kho), không bị Thiên la Địa võng khống chế, hơn nữa còn có được khả năng giải trừ tai ách.

Sao Vũ khúc và sao Tham lang gặp miếu, trấn mệnh tại Sửu, Mùi, là cách “Tham Vũ đồng hành“, chủ về thành tựu muộn, gặp được thời cơ tốt đẹp sẽ thành công nhanh chóng (nếu như Thái dương và Thái âm lại kèm ở hai bên cung Mệnh, là cách “Nhật Nguyệt giáp mệnh” chủ về giầu có suốt đời).
Nếu sao Tham lang nhập miếu, trấn mệnh tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại nằm cùng cung với Hỏa tinh (hoặc Linh Tinh) là cách “Hỏa Tham” (hoặc “Linh Tham“), sẽ là người trợ tá đắc lực, thành tựu nhanh chóng.
Sao Liêm trinh nhập miếu, trấn mệnh tại Thân, Dần, lại có sao Tham lang tại cung đối diện chầu chiếu, là cách “Hùng tú triều nguyên“, sẽ đảm nhiệm chức vụ quan trọng.
Sao Tử vi và sao Tham lang trấn mệnh tại Mão, Dậu, lại gặp Địa không, Địa kiếp, bốn sát tinh hoặc Hóa Kị, là cách “Cực cư Mão Dậu“, muôn sự bất lợi, là mệnh tăng ni thoát tục.
Sao Tham lang trấn mệnh tại Hợi Tí, lại gặp hình (Kình dương), Hóa Kị, là cách “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu đa tình.
Tham lang và Kình dương cùng đóng tại cung Mệnh, là cách “Phong lưu thái trượng“, là người thông minh nhưng rất phong lưu.

Sao Tham Lang tại Khí là dương Mộc, tại Thể là âm Thủy, là thọ tinh, thiên tài tinh, hóa khí thành đào hoa chủ về họa phúc, là quỷ đa dục, là sao đào hoa bậc nhất.

SAO THAM LANG TỌA THỦ CUNG MỆNH

 

      Dung mạo và tính cách
Người có sao Tham Lang tọa thủ cung Mệnh, là người mắt thành mày tú, ắt mắt linh hoạt, lời nói tự nhiên, có sức hấp dẫn với người khác giới. Khi nhập miếu thì người to béo, lạc hãm người thấp bé.
Cá tính thô bạo chủ về hướng ngoại hiếu động, túc trí đa mưu mà biết cách hòa đồng với người khác. Tính cách hỷ nộ thất thường lại hay kỳ vọng vào bản thân. Biết nghĩ sâu xa mà dám nói dám làm, thích cái mới ghét cái cũ, yêu hận khó định, nội tính giỏi che lấp mưu kế để thuận lòng người. Làm việc chăm chỉ, có sức mạnh tác phong nhanh nhẹn, không sợ vất vả.
Đa tài đa nghệ, học rộng nhưng không tinh thông. Thích đầu tư mạo hiểm nên không chịu đứng yên. Tính phóng đãng, giỏi ăn nói lại có duyên với người khác giới, giao tiếp ứng biến mà hiểu ý người, biểu hiện tính dục mạnh lại thường gian tà nham hiểm. Tửu, sắc, cờ bạc đều tinh thông, tính thích tiêu xài hưởng thụ, cuộc sống muôn mầu muôn vẻ.

Mệnh nữ dung mạo xinh đẹp, nho nhã hoạt bát, có duyên với người khác giới, giác quan thứ sáu nhạy bén, sau khi kết hôn thích làm việc bên ngoài, thích giao tiếp xã hội, đa số không chịu lo việc nhà.

Suy đoán tính mệnh

Tham lang + 2

Liêm trinh + 2

Tham lang + 3 Tham lang + 4

Vũ khúc + 4

Tham lang = 0
Tham lang + 4 Tử vi + 3

Tham lang + 1

Tử vi + 3

Tham lang + 1

Tham lang + 4
Tham lang = 0 Tham lang + 4

Vũ khúc + 4

Tham lang + 3 Tham lang + 2

Liêm trinh + 2

Độ sáng của sao Tham lang tọa thủ 12 cung

Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Tham Lang.
Mối quan hệ của chúng như sau:

– Miếu = + 4
– Vượng = + 3
– Địa = + 2
– Lợi = + 1
– Bình hòa = 0
– Không đắc địa = – 1
– Hãm địa = – 2

Sao Tham lang tại Khí thuộc dương mộc, đại diện cây cao to, cây cao vì vậy mà nhìn được rất xa, cũng khá thực tế và thực dụng.

Sao Tham lang tại Thể thuộc âm thủy, vì vậy nhiều dục vọng, hư vinh, tham lam, thích hưởng thụ. Lại vì sao Tham lang là sao Đào hoa bậc nhất nên bản thân rất có sức hấp dẫn với người khác giới, nên thường ứng biến theo hoàn cảnh tự nhiên, hoặc thường bước chân đến nơi thanh sắc, âm nhạc; đồng thời có khả năng giao tiếp ứng biến linh hoạt khéo léo.

Sao Tham lang chủ về phúc họa, thường ở giữa thiện và ác, thông thường gieo nhân thiện thì được quả phúc, giao nhân ác thì được quả họa.

Sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân trong mệnh bàn thường tam phương hội chiếu, là mấu chốt thay đổi cuộc đời, cùng hiển thị tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh. Nhưng sự thay đổi biến động của sao Tham lang không chỉ nhỏ hơn sao Thất sát, mà lại càng nhỏ hơn so với sao Phá quân, tính chất thiên về tửu, sắc, tài, khí. Sự thay đổi của sao Thất sát trong cô độc có dũng, có mưu. Sự thay đổi của sao Phá quân thì bất chấp tất cả để tiến về phía trước. Sự thay đổi của sao Tham lang là để có được tiền đồ đem lại sự cạnh tranh với người khác là động lực để thay đổi.

Người có sao Tham lang tọa thủ cung Mệnh, thường có những hiện tượng:
1)- Tự tin đồng thời giỏi bộc lộ sở trường của bản thân, có thể dũng cảm đối mặt với cạnh tranh, thích ứng với mọi sự thay đổi, có chí tiến thủ và sáng tạo.
2)- Có khả năng đánh giá, kiểm nghiệm được – mất trong cuộc cạnh tranh đã qua, vì vậy không ngừng tiến bộ và phát triển, thông qua đó nắm được thành – bại của cuộc cạnh tranh trong tương lai, đồng thời yêu cầu sự hoàn mỹ.
3)- Ham mê tửu sắc, đồ ăn ngon, dùng tiền bạc để thúc đẩy mối quan hệ, đồng thời có thể hóa giải được tiềm năng của tai họa.
4)- Có quan niệm theo đuổi cái mới, có thể thúc đẩy trào lưu mới, thu hút sự chú ý của người khác mà hành vi lại xuất chúng.
5)- Dũng cảm thử nghiệm với những điều mới mẻ, nắm bắt thông tin rộng.
6)- Để kiên trì ý kiến của bản thân thường không nhận thua, cũng vì không chịu nổi cảm giác mình sẽ bị thua mà thiếu đi sự sáng suốt khi nhìn nhận bản thân.
7)- Thường có lòng cạnh tranh, trong công việc cũng hay gặp phải cạnh tranh, trong cạnh tranh lại đắc ý đắc thắng, vì vậy mà rất biết tính toán được mất, đồng thời thường hay có được có mất, khi trong lòng mất cân bằng thường trút giận lên người khác.

Sao Tham Lang giỏi về giao thiệp ứng biến, nhưng lại có những điểm khác với sao Thiên cơ và sao Liêm trinh:
– Sao Thiên cơ giỏi sách lược và phân tích, đồng thời thiên về thay đổi; về phương diện được mất, có thể tùy duyên. Sự giao thiệp của sao Liêm trinh khéo léo, có chỗ khuếch trương, đồng thời thiên về tính chất đào hoa, do tự biết mình nên thường giữa được và mất có thể hiểu được. Còn sao Tham lang vốn đa tài đa nghệ, giỏi cầm kỳ thư họa, ca hát khiêu vũ, mọi việc đều tinh thông, có tài nghệ trong giao tiếp ứng biến, thường có thể đứng ngoài hiểu được sự tình, nghe 1 biết 10, dễ dàng học hỏi, lại thêm khả năng đánh giá đặc biệt về được và mất, vì vậy mà tự đòi hỏi và yêu cầu bản phải trở thành nhân vật nỏi bật trong giao tiếp.
– Sao Tham lang nếu có thể chính diện vận dụng đặc tính thích tính toán, đánh giá được – mất để thay đổi tập tính không tốt của bản thân, mở rộng tấm lòng mình hơn thì có thể phát huy được tài năng giao tiếp ứng phó của bản thân. Vận dụng tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh, không ngừng tiến bộ và phát triển, tự nhiên có thể phát huy được tiềm năng để đột phá. Có lúc chủ động tránh cạnh tranh, đồng thời bồi dưỡng tài nghệ về văn học, nghệ thuật, thì có thể dễ dàng tích lũy được nhiều thành công.

Sao Tham lang không hợp với mệnh nữ, vì Tham lang là sao đào hoa bậc nhất, lại là Thiên tài tinh, mệnh nữ gặp Tham lang thủ mệnh thì đa phần có tiền mà lại thanh nhàn, lại thêm tính hướng ngoại hiếu động, nhiều dục vọng thích hưởng thụ, kết bạn rộng rãi nên khó tránh khỏi không chịu được cô đơn, không ở yên trong nhà. Nên tu thân dưỡng tính, đồng thời nên giữ mình trong sạch.

Sao Tham lang nhập tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là tài nhập khố, lại thuộc thế miếu, nên không những được trường thọ, mà còn có thể giảm bớt tệ tửu, sắc, tài, khí, lại có thể phát huy tài nghệ.

Sao Tham lang thích nhất gặp Hỏa tinh, Linh tinh khi nhập cung mệnh, dương hỏa của Hỏa tinh khắc chế âm thủy gốc của Tham lang, dương khắc âm là “hữu tình khắc“, trong khắc có sinh, nếu không gặp Kình Đà đồng cung thì cấu thành mệnh cách Hỏa Tham hoặc Linh Tham, phát huy sức mạnh, có tướng làm tướng, uy quyền giầu có, có thể được phong vương hầu. Nếu có thêm Hóa Lộc và Hỏa tinh hoặc Linh tinh đồng cung thì đa phần có hoạch tài đột phá.

Sao Tham lang gặp Tiệt lộ, có thể làm cho thiên hướng tửu, sắc, tài, khí của Tham lang giảm thiểu, đồng thời làm cho tài nghệ được phát huy. Sao Tham lang nhập miếu đồng cung với Hóa Kị, Địa kiếp, Địa không đa phần là có kỹ thuật chuyên môn, nên yên thân với kỹ nghệ.

Tham lang nhiều dục vọng, lại là sao đào hoa bậc nhất, khi gặp Hóa Kị thì có nhiều ảo tưởng, có phúc mà không biết hưởng, chỉ mơ tưởng đến những điều không thể thành hiện thực, thành ra lại sinh nhiều chuyện thị phi đào hoa. Tham lang tuy thích 4 sát tinh Hỏa Linh Không Kiếp, nhưng lại kị 2 sát tinh Kình dương và Đà la, dễ vì sắc mà gặp họa.

Tham lang gặp Văn xương, Văn khúc đồng cung, do Xương Khúc đều là sao thời hệ, làm cho dục vọng của Tham lang ngày càng thay đổi, tài nghệ chủ về hư mà không thực, chuyện đào sắc thị phi là vô cùng.

Tất cả các sao đều sợ sao Hóa Kị, đặc biệt là ba sao Liêm trinh, Tham lang và Thiên cơ càng sợ sao Hóa Kị. Sao Liêm trinh là sao “tù”, khi Hóa Kị thành bị thắt chặt, không thể mở ra, thân và trái tim bị đóng chặt, hàng ngàn khó khăn, tai họa không nhẹ. Sao Thiên cơ chủ về lo xa, chu đáo, sao Thiên cơ hóa Kị thì mọi việc đều có sai xót, càng lo lắng thì càng có vấn đề. Sao Tham lang là quỷ dục vọng, sao Tham lang Hóa Kị thì dục vọng quá cao nên mọi cố gắng cuối cùng cũng bằng không.

ST

Tham lang tổng luận

0

Tham lang tổng luận

(Tuvivietnam – siêu tầm)

      Tham lang là sao thứ nhất của Bắc Đẩu, trong ngũ hành thuộc dương Mộc, khí của nó thuộc Thủy. Trong Đẩu Số, Tham lang là sao ham muốn vật chất, đồng thời cũng chủ theo đuổi ham muốn dục tình, do đó hóa khí làm “đào hoa”.

Luận đoán về Tham lang, phải xem cấu tạo tinh hệ của nó thiên nặng về ham muốn vật chất, hay thiên nặng về ham muốn dục tình, để làm sự đánh giá toàn thể, mà không thể gọi chung chung là “đào hoa”.

Hệ “Sát Phá Tham” là then chốt của “biến hóa thay đổi”, nên Tham lang cũng chủ về “biến hóa thay đổi”, động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang xuất phát từ sự theo đuổi ham muốn vật chất, hay theo đuổi ham muốn dục tình.

Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo không được tốt, thì lòng ham muốn vật chất tăng nặng, có thể dùng câu nói “quá đáng” để hình dung. Mệnh cách thường thường vì tư lợi bản thân mà dễ dàng thay đổi quan hệ giao tế, cho đến thích trang điểm cho mình.

Cổ nhân nói “Tính của nó thì quyền biến, nhiều mưu kế, hay thừa nước đục thả câu, yêu cái ác một cách bất định, gian trá gạt người” (Chủ kỳ tính tắc cơ quan, tất đa kế giảo, tùy ba trục lãng, ái ác vô định, gian trá man nhân). Đây là nói về bản chất động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang, hoàn toàn khác với sự “biến hóa thay đổi” của Thất sát và Phá quân.

Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo tốt, chủ về người “biến hóa thay đổi” một cách tích cực, thậm chí có thể nhìn thấy đó là biểu hiện của tài nghệ. Sự “biến hóa thay đổi” của Tham lang lúc này chẳng phải là “quá đáng”, mà là thủ pháp khéo ăn khéo ở, tác động trong vô hình, khiến có lợi cho bản thân; hoặc đây là sự “biến hóa thay đổi” nhằm phát huy tài nghệ, khiến bản thân được người ta hoan nghênh.

Cấu tạo tinh hệ Tham lang trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn vật chất ? trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn tình dục ?

Tham lang ở bốn cung Vượng, tức bốn cung độ Tý Ngọ Mão Dậu, có cấu tạo tinh hệ ham muốn vật chất rất nặng. Nhưng phải là người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Mệnh ở Ngọ, người sinh năm Thân Tý Thìn có mệnh ở Tý, người sinh năm Hợi Mão Mùi có mệnh ở Mão, người sinh năm Tị Dậu Sửu có mệnh ở Dậu, vậy mới đúng, nếu không, thì lại là cách “đào hoa phạm chủ” là tổ hợp chủ về ham muốn tình dục.

Ở bốn cung vượng này, hoặc Tham lang độc tọa đối nhau với Tử vi, hoặc hợp thành hệ “Tử vi Tham lang” đồng độ. Cổ nhân nói “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham lang cư vượng, chung thân thử thiết), “Tham lang và Tử vi đồng cung, nếu không có kềm chế, là người vô ích” (Tham lang Tử vi đồng cung, như vô chế thị vi vô ích chi nhân), tức là nói ham muốn vật chất quá nặng, nói “chế” là ám chỉ “bách quan triều củng”.

Tham lang và Vũ khúc đồng cung hoặc đối củng, cũng thiên nặng về ham muốn vật chất. Cổ nhân nói “Tham lang và Vũ khúc đồng cung, là người xu nịnh gian tham, tự tư tự lợi” (Tham lang Vũ khúc đồng cung, vi nhân sưu nịnh gian tham, tự tư tự lợi). Nếu có Lộc tồn đồng độ, thì làm mạnh thêm tính tự tư ích kỷ của Tham lang, nếu Tham lang Hóa Lộc thì ham muốn vật chất càng nặng, cần phải có Hỏa tinh hoặc Linh tinh chế hóa, thì tài năng của Tham lang mới hiển lộ được, nếu không, chỉ là chìm đắm trong ham muốn vật chất.

Hệ “Liêm trinh Tham lang” đồng độ ở Tị hoặc ở Hợi, về cơ bản đây là cấu tạo chủ về ham muốn dục tình, gặp các sao đào hoa hội hợp, từ ham muốn biến thành hành động cụ thể về dục tình, nhu cầu nhục dục rất cao. Cổ nhân nói “Liêm trinh và Tham lang đồng cung, nam thì phóng đãng, nữ thì tham dâm, vì tửu sắc mà chôn thân” (Liêm trinh Tham lang đồng cung, nam lãng đãng, nữ tham dâm, tửu sắc táng thân), “Tham lang và Liêm trinh cùng ở Tị hoặc Hợi, đã không trong sạch mà còn bị hình khắc” (Tham lang Liêm trinh đồng Tị Hợi, bất thuần khiết thả tao hình).

Phàm, Tham lang thủ mệnh, bất kể là độc tọa hay có sao khác đồng độ, mà có Kình dương, Đà la cùng đến, hoặc giao hội ở tam phương, cũng chủ về ham muốn dục tình của nó nặng thêm, trường hợp có Hỏa tinh, Linh tinh cùng đến hoặc giao hội ở tam phương là kế đó. Cổ nhân nói “Tham lang mà thêm sát tinh đồng cung, nữ thì trộm điểm trang còn nam thì trộm như chuột” (Tham lang gia sát đồng hương, nữ thâu hương nhi nam thử thiết), “Kình dương và Đà la giao nhau với nó, ắt làm quỷ phong lưu” (Dương Đà giao tinh, tất tác phong lưu chi quỷ).

Phàm chế hóa Tham lang, phải gặp Thiên hình và sao Không.

Hiểu rõ những phân biệt này, mới biết được trong tình huống nào thì Tham lang ưa gặp các sao Hình Sát, và trong tình huống nào thì Tham lang không ưa gặp các sao Sát Hình; trong tình hình nào thì Tham lang ưa gặp sao Lộc, và trong tình hình nào thì Tham lang không ưa gặp sao Lộc.

Tham lang phân bố trong 12 cung, sẽ đồng độ hoặc đối nhau với ba sao Vũ khúc, Tử vi và Liêm trinh, cho nên ba sao này có mối quan hệ rất sâu sắc với Tham lang.

Ở Tý hoặc ở Ngọ, Tham lang độc tọa, đối củng với Tử vi, ở Mão hoặc ở Dậu thì Tham lang đồng độ với Tử vi. Cho nên ở bốn cung vượng Tý Ngọ Mão Dậu đều cấu tạo thành hệ “Tử vi Tham lang”.

Ở Thìn hoặc ở Tuất, Tham lang độc tọa, đối củng với Vũ khúc, ở Sửu hoặc ở Mùi, thì Tham lang đồng độ với Vũ khúc. Cho nên, ở bốn cung “mộ” Thìn Tuất Sửu Mùi đều cấu tạo thành hệ “Tham lang Vũ khúc”.

Ở Dần hoặc ở Thân, Tham lang độc tọa, đối củng với Liêm trinh, ở Tị hoặc ở Hợi thì Tham lang đồng độ với Liêm trinh. Cho nên, ở bốn cung “sinh” Dần Thân Tị Hợi được cấu tạo thành hệ “Tham lang Liêm trinh”.

Trong Đẩu Số, có hai cách rất nổi tiếng là “Hỏa Tham” và “Linh Tham”, chủ về phát đạt rất nhanh (hoạch phát). Hai cách này thuộc hệ “Tham lang Vũ khúc” là tối cao, còn ở các cung khác là kế đó.

Ngoài ra còn có cách “Đào hoa phạm chủ”, trường hợp “Tham lang Tử vi” đồng độ là chính cách, còn trường hợp “Tham lang Tử vi” đối củng là kế đó.

Các cách này, trừ trường hợp “Tham lang tọa cung Vượng” chủ về ham muốn vật chất, các tình hình khác đều thuộc về ham muốn dục tình, thảy đều phải gặp Thiên hình và sao Không mới là cách “thanh bạch”.

Ngoài những tình huống trên, Tham lang còn có một số cấu tạo đặc thù, như:

–      Tham lang ở Ngọ, gọi là “Mộc hỏa sáng thông nhau” (Mộc hỏa thông minh).

–      Tham lang ở Thân, gọi là “Mộc bị Kim khống chế” (Mộc phùng Kim chế)

–       Tham lang ở Tý có Kình dương đồng độ, hoặc ở Hợi có Đà la đồng độ, gọi là “Phiếm thủy đào hoa” (Phiếm thủy đào hoa).

–      Tham lang ở Dần có Đà la đồng độ, hoặc hội với hệ “Thiên hình Kình dương”, gọi là “Cầm gậy phong lưu” (Phong lưu thái trượng).

Nói về tính ưa ghét, Tham lang rất ghét Văn xương, Văn khúc. Bởi vì bản thân Tham lang đã thông minh tài trí, nếu gặp thêm Văn xương Văn khúc, thì biến thành tính không thiết thực, sốc nổi bốc đồng, Tham lang không ưa Hóa Kị cũng vì lý do này, cổ nhân nói “Có Văn xương Văn khúc đồng độ, ắt nhiều giả mà ít thực” (Xương Khúc đồng độ, tất đa hư nhi thiểu thực), thậm chí nói “Văn xương và Tham lang ở mệnh, thân tan xương nát” (Xương Tham cư mệnh, phấn thân toát cốt).

Phàm luận đoán về sao Tham lang thủ mệnh, cần đồng thời xem kèm cung Thân. Tham lang thủ cung Mệnh còn Thất sát thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; hoặc giả Tham lang thủ cung Mệnh còn Phá quân thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; Thảy, đều có cấu tạo không cát tường, chủ về ưa thích riệu chè cờ bạc trai gái, hoặc hiếu sắc, đều là tổ hợp tinh hệ có cấu tạo thiên nặng về ham muốn dục tình lẫn ham muốn vật chất. Nếu không gặp các sao Không, sao Hình, mà lại gặp Văn xương Văn khúc, thì tình hình càng đúng.

ST

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 70

0

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Chương 20 X

PHẦN MỘ

坟墓

MỒ MẢ

葬埋之理乃先王之所定,
风水之因特后世之所兴. 虽为送尸而然,
祸福吉凶攸系. 故坟占三代, 穴有定爻.
一世二世, 子孙出王侯将相之英;
三世四世, 后世主富贵繁华之茂.
绝嗣无人, 端为世居五六;
为商外出, 只因世在游魂.
八纯凶兆, 归魂亦作凶推.
吉兆相生相合, 凶兆相克相冲 .
Táng mai chi lý nãi tiên vương chi sở định,
Phong thủy chi nhân đặc hậu thế chi sở hưng.
Tuy vi tống thi nhi nhiên, họa phúc cát hung du hệ.
Cố phần chiêm tam đại, huyệt hữu định hào.
Nhất thế nhị thế, tử tôn xuất vương hầu tương tương chi anh
Tam thế tứ thế, hậu thế chủ phú quý phồn hoa chi mậu.
Tuyệt tự vô nhân, đoan vi thế cư ngũ lục;
Vi thương ngoại xuất, chích nhân thế tại du hồn.
Bát thuần hung triệu, quy hồn diệc tác hung thôi.
Cát triệu tương sinh tương hợp, hung triệu tương khắc tương trùng
Nguyên tắc mai táng, được định ra bởi tiên vương ;
Quy luật phong thủy, được hưng khởi nhờ hậu thế,
Tuy là tống tiễn thi hài ; phúc đức cát hung bởi đó.
Nên xem bia mộ ba đời, huyệt có hào định.
Nhất thế, Nhị Thế con cháu đều nên khanh tướng, vương hầu :
Tam Thế, Tứ Thế, hậu thế chủ về vinh hoa phú quý.
Tuyệt tự không người, là do Thế hào Ngũ Lục ;
Ra ngoài buôn bán, chỉ vì Thế ở du hồn ;
Bát thuần là hung hại ; quy hồn cũng là hung hại .
Điềm cát tương sinh tương hợp ; Điềm hung tương khắc tương xung.


Quẻ nội là sơn đầu, quẻ Ngoại là triều hướng, Thế hào là huyệt tràng. Thế lâm hào sơ, hào nhị huyệt tràng, là được sinh khí sơn đầu , đời sau được vương hầu khanh tướng chi anh; Thế huyệt tràng lâm hào tam hào tứ hào, là được dư khí sơn đầu, việc đòi sau cực kỳ phú quý phồn hoa; Thế lâm hao hào ngũ lục, là sinh khí sơn đầu đã bỏ đi, sơn hình địa thế không phù hợp, chủ tuyệt tự. Du hồn hiếu động là thương buôn, quy hồn khí trệ không tốt . Thế đắc tương sinh tương hợp, tự nhiên vòng quanh đa tình; nếu gặp tương khắc tương xung, tự nhiên cát bay nước quay lưng chảy.

1. 穴骑龙, 龙入穴, 穴嫡龙真
Huyệt kị long, long nhập huyệt, huyệt đích long chân.
Huyệt cưỡi long, long nhập huyệt, huyệt tốt long thực ;
Lấynạp âm bổn mạng người chết là huyệt, hoặc Thế lâm huyệt hào, hoặc Thế huyệt tương sinh tương hợp, hoặc động hào nhật nguyệt sinh hợp Thế hào huyệt hào, gọi là “Huyệt cỡi rồng, long nhập huyệt, huyệt đích long chân” .

2. 山带水, 水连山, 山环水抱
Sơn đái thủy, thủy liên sơn, sơn hoàn thủy bão
Sơn mang thủy, thủy liền sơn, núi bọc sông ôm.
Nội cung là Sơn đầu , thủy là hào Hợi và Tí . Như Hợi Tí thủy lâm tài phúc cát thần tại nội cung, tương sinh tương hợp với Thế hào, hoặc tương sinh tương hợp cùng huyệt hào, gọi là sơn hoàn thủy bão.

3. 交重逢旺气, 闻鸡鸣犬吠之声
Giao trùng phùng vượng khí, Văn kê minh khuyển phệ chi thanh .
Phát động gặp vượng khí, thường nghe thấy tiếng gà gáy chó sủa.
Thế hào vượng tướng phát động, lâm thủy hỏa, là gần dân cư, nên nói “thường nghe tiếng gà gáy chó sủa ” .

4. 世应拱穴爻, 有虎踞龙蟠之势
Thế ứng củng huyệt hào, hữu hổ cứ long bàn chi thế .
Thế Ứng giúp huyệt vị, có được thế rồng cuộn hổ ngồi.
Thế ứng sinh phù củng phù hợp huyệt hào, hoặc long hổ sinh hợp ở huyệt hào, hoặc huyệt cư ở giữa thế ứng, hoặc huyệt nhận Thế ứng long hổ phù củng, đều là thế được hổ cứ long bàn.

5. 三合更兼六合, 聚气藏风
Tam hợp canh kiêm lục hợp, tụ khí tàng phong .
Tam hợp lại kiêm Lục hợp, tụ khí tàng phong ;
Thế là chủ sơn, ứng là khách sơn, Thế ứng và huyệt hào tam hợp thành cục, hoặc được lục hợp quẻ, hoặc hai hào long hổ cùng huyệt hào thành tam hợp cục , đều là nơi tụ khí tàng phong.

6. 来山番作朝山, 回头顾祖
Lai sơn phiên tác triêu sơn, hồi đầu cố tổ.
Núi đến đổi thành núi chầu, ngoảnh đầu nhìn Tổ
Lai sơn là hào thế, quẻ nội ; triều sơn là hào ứng, quẻ Ngoại . Như hào lâm Thế và hào ứng đồng, gọi là hồi đầu cố tổ.

7. 死绝之鬼边有荒坟, 长生之爻中有寿穴
Tử tuyệt chi quỷ, biên hữu hoang phần, trường sinh chi hào trung hữu thọ huyệt .
Quỷ tại Tử Tuyệt bên có mộ phần ; Hào gặp trường sinh giữa có huyệt thọ.
Trong quẻ hào quan hưu tù tử tuyệt, biết cạnh huyệt bàng có hoang mộ cổ lăng. Như quỷ hào gặp trường sinh ở nhật, hoặc hóa trường sinh , biết có sinh phần.

8. 合处与应爻隔断, 内外之向不同
Hợp xử dữ ứng hào cách đoạn, nội ngoại chi hướng bất đồng.
Chỗ hợp và hào Ứng cách đoạn , trong ngoài phương hướng bất đồng ;
Nạp âm bản mạng người chết là huyệt, mộ của nạp âm là mộ,địa chi hợp với nạp âm là hướng. Giả như Kỷ Mùi nạp âm thuộc thổ, chính là lấy thổ là huyệt; thổ kho ở Thìn, chính là lấy Thìn là mộ; Ngọ hợp Mùi, nên lấy Ngọ là hướng; Thìn hợp Dậu, Dậu cũng là hướng. Như Thìn thân nhị nhật, hoặc ứng lâm Thìn thân, gọi là ngăn cách Ngọ. Hoặc Mùi Hợi nhị nhật, hoặc ứng lâm Mùi Hợi, gọi là ngăn cách Dậu. Khi cùng kim Tỉnh mộ cửa chi hướng không có cùng.

9. 穴中为世日冲开, 左右之穴相反
Huyệt trung vi thế nhật xung khai, tả hữu chi huyệt tương phản.
Trong huyệt bị Thế, nhật xung khai, phải trái huyệt vị tương phản.
Ví dụ huyệt lâm hai hào Tỵ Mùi , Thế đồng thời nhật thần lâm Ngọ hào, Ngọ ở giữa Tỵ Mùi , gọi là phân khai Tỵ Mùi huyệt, biết trái phải chi không tương phản.

 

10. 穴道得山形之正, 重逢本象之生
Huyệt đạo đắc sơn hình chi chính, trọng phùng bản tượng chi sinh.
Huyệt đạo được chỗ chính của hình núi , là được bản tượng tương sinh ;
Huyệt chính là nạp âm của bản mạng người chết, lâm nội cung Thế hào, đều được sơn hình chi chính. Như huyệt hào lâm thủy gặp nội cung thuộc kim, hoặc thủy hào ở cung nội kim, đều gọi là được bản tượng tương sinh.

11. 世应把山水之关, 宜见有情之合
Thế ứng bả sơn thủy chi quan, nghi kiến hữu tình chi hợp .
Thế Ứng nắm chỗ yếu điểm của núi sông, cần gặp chỗ hợp hữu tình.
Hào sáu là hào Thủy khẩu , Thế ứng lâm ở đó, nếu đới hợp, tất thủy khẩu được khóa, hoặc hào sáu và hào Thế tương hợp cũng vậy.

12. 坐山有气, 怕穴逢空废之爻
Tọa sơn hữu khí, phạ huyệt phùng không phế chi hào.
Tọa sơn hữu khí, sợ huyệt gặp phải hào không phế;
Giả như Khảm sơn thuộc thủy, Khảm là sơn đầu thì Khảm là nội cung ; được huyệt phùng hào Thân, mà Khảm trường sinh ở Thân, sợ nhất thân hào phùng tuần không và nguyệt phá .

13. 本命逢生, 忌运入刑伤之地.
Bản mệnh phùng sinh, kị vận nhập hình thương chi địa.
Bản mệnh gặp sinh, kị vận gặp phải chốn hình thương.
Phàm chiêm sinh mộ, muốn xem tự mình tuổi thọ, cũng đem bản thân niên mệnh nạp âm là huyệt. Vận chính là huyệt hào, kị huyệt hào và nội cung cùng quẻ hào hình khắc. Như huyệt hào đắc sinh có khí là cát , nếu gặp tuần không, mà người chết kị không, người sống không sợ không, ngược lại là cát .

14. 青龙摆尾, 就中逢滞气子孙; 白虎昂头, 落处生身父母.
Thanh long bãi vĩ, tựu trung phùng trệ khí tử tôn;
Bạch hổ ngang đầu, lạc xử sinh thân phụ mẫu .
Thanh long quẫy đuôi , gặp được Tử tôn có khí ;
Bạch hổ ngẩng đầu, giáng lâm phụ mẫu sinh thân.

Được Thanh Long Tử tôn có khí sinh huyệt, gọi là vẫy đuôi đa tình; như Bạch Hổ lâm Phụ mẫu sinh huyệt, gọi là Bạch hổ ngẩng đầu có thế.

15. 后来龙余气未尽, 有玄武吐舌之形; 前朝案动爻逢冲, 为朱雀开口之象 .
Hậu lai long dư khí vị tẫn, hữu huyền vũ thổ thiệt chi hình;
Tiền triêu án động hào phùng trùng, vi chu tước khai khẩu chi tượng,
Lai long phía sau dư khí chưa tận, có hình huyền vũ thè lưỡi ;
Núi chầu phía trước hào động gặp xung, là tượng chu tước mở miệng.

Nhật thần nhập huyệt lâm Huyền vũ, là dư khí chưa hết, có hình thể le lưỡi ; phía sau là Huyền vũ . Thế tiền một vị là án, được nhật thần nguyệt kiến xung phá, Chu Tước lâm ở đó, có khai khẩu chi tượng; phía trước là Chu Tước

16. 世坐勾陈之土局, 破坎田园; 应临玄武之水爻, 沟坑池井 .
Thế tọa câu trần chi thổ cục, phá khảm điền viên;
Ứng lâm huyền vũ chi thủy hào, câu khanh trì tỉnh .
Thế tại Thổ cục Câu trần, bờ bãi ruộng vườn ;
Ứng lâm hào Thủy Huyền vũ, ngòi rãnh ao giếng.

Thế ở huyệt hào, đồng thời lâm Câu trần trị Thìn tuất Sửu Mùi thổ cục, hoặc được khắc xung, là chỗ ruộng vườn bằng phẳng . Ứng lâm Hợi Tí thủy hào, gia lâm Huyền vũ hội thủy cục, là chỗ mương rãnh ao giếng.

17. 白虎在破耗之位, 古墓坟茔; 螣蛇临父母之爻, 交加产业 .
Bạch hổ tại phá háo chi vị, cổ mộ phần oanh;
Đằng xà lâm phụ mẫu chi hào, giao gia sản nghiệp .
Bạch hổ tại chỗ phá không, huyệt nơi mộ cổ ;
Đằng xà lâm hào phụ mẫu, sản nghiệp chất chồng.

Nếu Bạch Hổ lại thêm nguyệt phá trì Thế, trì huyệt, trì Thân, biết là mả cũ, tha ma ; ở quẻ quy hồn hoặc quỷ bay vào huyệt, là đất hoàn hồn. Đằng xà là thần tranh chấp, Phụ mẫu là công văn hợp đồng, không chôn trùng bán lặp, cũng là tách nhập sản nghiệp.

18. 勾陈土鬼塚墓累累 .
Câu trần thổ quỷ trủng mộ luy luy ,
Quỷ Thổ tại Câu trần, mộ phần trùng trùng ;
Câu trần lâm hào Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thổ quỷ, phùng tử tuyệt, là cổ mộ du hồn. Quỷ động phùng xung không, bên cạnh nơi mộ cải táng; nhật thần đi khắc Bạch Hổ huyệt hào, có mồ mả bại hoại suy sụp; Thanh Long lâm thổ quỷ, chủ có mả mới; nếu quẻ quy hồn hoặc thổ quỷ bay vào huyệt hào, là nơi có mộ cải táng.

19. 玄武金神, 岩泉滴滴 —
Huyền vũ kim thần, nham tuyền tích tích .
Thần Kim tại Huyền vũ, suối nước giọt giọt.
Kim là thạch, Huyền vũ là thủy, chủ nước suối đầm đìa tự chảy ra; lâm huyệt hào, hoặc phục dưới huyệt hào, hoặc Bạch Hổ lâm kim, đều chủ có đá là có nước.

20. 青龙发动临子孙, 决主新迁; 朱雀飞来带官鬼, 必然争讼 .
Thanh long phát động lâm tử tôn, quyết chủ tân thiên;
Chu tước phi lai đái quan quỷ, tất nhiên tranh tụng .
Thanh long phát động lâm Tử tôn., chủ về thiên di ;
Chu tước bay đến hào quan quỷ, ắt sẽ tranh chấp
Nếu Thanh Long phát động, hoặc gặp Tử tôn, tất chủ chuyển chỗ ở; Chu Tước Quan quỷ đồng thời nhật thần động hào bay vào huyệt, là tranh tụng đất đai.

21. 应爻加木临玄武, 前有溪桥; 日辰冲土镇螣蛇, 边通道路
Ứng hào gia mộc lâm huyền vũ, tiền hữu khê kiều;
Nhật thần trùng thổ trấn đằng xà, biên thông đạo lộ.
Ứng hào tại Mộc lâm Huyền vũ, trước có cây cầu.
Nhật thần xung Thổ trấn Đằng xà, bên canh đường đi.

Nếu ứng hào đồng thời mộc hào lâm Huyền vũ, chủ trước mộ chắc chắn có cầu qua suối. Đằng xà là lộ, lâm Thìn tuất Sửu Mùi chi hào, có nhật thần động hào xung khắc, chủ gần đường. Đằng xà thổ hào bay vào huyệt hào, hoặc tương xung huyệt hào, là có đường xuyên mộ phần..

22. 朱雀火发动爻, 厨庭炊衅之旁; 青龙财库相生, 店肆仓库之畔 .
Chu tước hỏa phát động hào, trù đình xuy hấn chi bàng;
Thanh long tài khố tương sinh, điếm tứ thương khố chi bạn.
Chu tước tại Hỏa phát động, ở bên phòng bếp nhà ăn ;
Thanh long Tài khố tương sinh, nằm cạnh cửa hàng kho bãi.

Chu Tước hỏa hào phát động lâm tài, tất gần chỗ nhà ăn, lò bếp. Thanh Long lâm tứ mộ, phùng tài tương sinh có khí, tất gần cửa hàng tửu quán; nếu gặp Canh Thân Quý Dậu Đinh Dậu kim, là chỗ nhà kho..

23. 玄武世龙入穴, 暗地偷埋; 勾陈土动落空, 依山浅葬 .
Huyền vũ thế long nhập huyệt, ám địa thâu mai;
Câu trần thổ động lạc không, y sơn thiển táng .
Huyền vũ lâm Thế nhập huyệt, lén lút chôn cất ;
Câu trần Thổ động gặp không, chôn nông bên non.

Huyền vũ Thế hào đồng thời nhật thần động bay vào huyệt, chủ lén chôn trộm táng, hoặc bí mật đưa tang; Câu trần thổ động bị không , tất dựa vào núi. đào huyệt nông mai táng .

24. 日合鬼爻有气, 近神庙社坛之旁 .
Nhật hợp quỷ hào hữu khí, cận thần miếu xã đàn chi bàng .
Nhật hợp hào Quỷ hữu khí, nằm bên miếu mạo đàn thờ ;
Quỷ vượng có khí, hoặc lâm Thanh Long quý thần và nhật thần tương hợp, chủ gần thần miếu hoặc đàn tế cổ.

25. 动临华盖逢空, 傍佛塔琳宫之所 .
Động lâm hoa cái phùng không, bàng phật tháp lâm cung chi sở .
Động gặp Hoa cái lâm không, ở cạnh chùa Phật nhà thợ.
Hoa Cái huyệt hào đồng thời quỷ động phùng không, thừa vượng có khí, chủ gần chùa chiền, bằng không thì là nhà thợ khéo tay, có tiếng tăm.

26. 应逼左右之山欺穴, 龙虎磕头 —
Thế ứng bức tả hữu chi sơn khi huyệt, long hổ khái đầu .
Thế Ứng gặp núi tả núi hữu khắc tuyệt, Long Hổ dập đầu ;
Thế ứng phùng Thanh Long Thìn hào, Bạch Hổ Dần hào, là long hổ chạm trán, khắc huyệt tắc hung.

27. 交重并旬内之水伤身, 沟河插脚 .
Giao trọng tịnh tuần nội chi thủy thương thân, câu hà sáp cước .
Phát động gặp Thủy trong tuần hại thân (thế), sông ngòi đâm xen.
Thủy hào động ở nhật thần tuần trung, ở trước huyệt , có nước sông suối sát chân huyệt.

28. 生生福合三传上, 百子千孙; 重重墓在一爻中, 三坟四穴 .
Sinh sinh phúc hợp tam truyện thượng, bách tử thiên tôn;
Trùng trùng mộ tại nhất hào trung, tam phần tứ huyệt .
Phúc sinh hợp tại tuế, nguyệt, nhật cháu đống con đàn ;
Mộ lớp lớp cùng trong một hào, ba mộ bốn huyệt.

Tam truyện chính là năm, tháng, ngày… tam kiến . Hoặc phúc đức ở huyệt hào, thêm ở tam truyện tương sinh tương hợp, chủ con đàn cháu đống. Lục thân, Thế ứng, nhật thần, động hào trùng điệp cùng mộ ở một hào trong, là có tam mộ tứ huyệt ; ứng hào quỷ hào cùng nhập mộ trong một hào, chủ có người ngoài cùng táng chung.

29. 神不入墓, 游魂之鬼逢空;
鬼已归山, 本命之爻逢合 .
Thần bất nhập mộ, du hồn chi quỷ phùng không;
Quỷ dĩ quy sơn, bản mệnh chi hào phùng hợp .
Thân không nhập mộ, Quỷ tại Du hồn gặp không ;
Quỷ đã về núi, hào thuộc bản mệnh gặp hợp.

Vong mệnh đồng thời quỷ hào phùng không, huyệt hào hóa quỷ phùng không cùng lâm quẻ du hồn , đều chủ quỷ không vào mộ du hồn. Thế cư quẻ ngoại huyệt trống không mộ, là không nơi mai táng hoặc táng tha hương. Nếu đới hung thần khắc quái thân , tất là ác tử. Địa chi người chết, huyệt hào tương sinh tương hợp, hoặc quỷ hào phùng mộ, là quỷ đã về núi. Nếu tại quẻ ngoại ứng hào, cũng biết là táng bồi thêm .

30. 日带应爻劫煞入穴, 劫塚开棺; 用并世象动爻克应, 侵入作穴 .
Nhật đái ứng hào kiếp sát nhập huyệt, kiếp trủng khai quan;
Dụng tịnh thế tượng động hào khắc ứng, xâm nhập tác huyệt .
Nhật cùng hào Ứng kiếp sát nhập huyệt, cướp mộ bật quan tài ;
Dụng cùng hào Thế hào động khắc Ứng, xâm chiếm làm huyệt mộ.

Nhật thần đồng thời Huyền vũ, ứng hào đới sát bay vào huyệt, hoặc động hào phá huyệt phá mộ, chủ phá mộ bung quan tài; xung khắc vong mệnh, là vất bỏ thi hài. Thế ứng đồng thời nhật thần, sát, động phá huyệt hào, nếu Thế hào nhật thần động hào khắc ứng, chủ ta xâm lấn mồ mả làm huyệt; ứng hào đồng nhật thần khắc huyệt, chủ người khác xâm nhập mồ mả ta chôn.

31. 客土动而墓爻合, 担土为坟; 朝山尊而穴法空, 贪峰失穴 .
Khách thổ động nhi mộ hào hợp, đam thổ vi phần;
Triêu sơn tôn nhi huyệt pháp không, tham phong thất huyệt .
Đất khách động mà hào mộ hợp, gánh đất đắp mộ ;
Núi chầu cao mà phép huyệt không, tham núi mất huyệt.

Khách thổ, là thổ ở hào Ứng, thổ ở quẻ ngoại ; cùng huyệt hào mộ hào phát động tương hợp tương sinh, là gánh đất đắp làm mộ phần, hoặc đất bên cạnh là tả hữu tí. Triều sơn ở trường sinh quý nhân vị, chủ phía trước có quý ngọn núi cao đẹp; nếu huyệt không, là tương tham ngọn núi mất huyệt, nếu không không, chính là triều sơn cao đẹp.

32. 子孙空在日辰之后, 穴在平阳; 兄弟爻落世应之间, 坟迁两界 .
Tử tôn không tại nhật thần chi hậu, huyệt tại bình dương;
Huynh đệ hào lạc thế ứng chi gian, phần thiên lưỡng giới.
Tử tôn gặp không sau nhật thần , huyệt tại đất bằng;
Huynh đệ nằm giữa hào Thế Ứng, mộ dời hai chốn.

Tử tôn ở phía sau nhật thần phùng không, hoặc Câu trần lâm Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hào, hoặc hào minh đường rộng lớn, thường là đất bằng phẳng làm huyệt. Thế ứng đồng lâm huyệt hào, thêm lâm Huynh đệ, hoặc trì tại hào giữa thế ứng, đều chủ mộ phần di chuyển hai nơi, nếu ở tiền hậu nhật thần, lưỡng gian chi hào cũng thế vậy..

33. 日辰与动爻破穴破墓, 定合重埋; 世应并穴道冲尸冲棺, 当行改葬 .
Nhật thần dữ động hào phá huyệt phá mộ, định hợp trọng mai;
Thế ứng tịnh huyệt đạo trùng thi trùng quan, đương hành cải táng .
Nhật thần và hào động phá huyệt phá mộ, ắt gặp mộ trùng ;
Thế Ứng cùng huyệt vị xung thi xung quan, phải nên cải táng.

Nhật thần phát động xung phá mộ hào, Thế ứng xung thi xung quan, hoặc phụ hóa phụ, huynh hóa huynh, quỷ hóa quỷ, tài hóa tài, đều chủ chôn lại cải táng. Lại nói “Kim là thi thể, mộc là quan tài, thổ là mộ cần nhìn kỹ” ” .

34. 重交生穴, 经营非一日之功; 龙德临财, 迁造为万年之计 —
Trùng giao sinh huyệt, kinh doanh phi nhất nhật chi công;
Long đức lâm tài, thiên tạo vi vạn niên chi kế .
Hào động sinh huyệt, xây dựng không phải việc một ngày ;
Long đức lâm tài, thiên tạo là kế sách ngàn năm.

Giao trùng hai hào phát động, đồng thời nhật thần đều sinh huyệt hào, chủ gia công dụng sự không phải một ngày mà thành. Mừng long lâm tài hào, Tử tôn sinh vượng có khí, tương sinh tương hợp với huyệt, trời đã tạo thành mộ phần tốt đẹp từ lâu.

35. 应飞入穴, 必葬他人, 煞动临爻, 凶逢小鬼 .
Ứng phi nhập huyệt, tất táng tha nhân,
Sát động lâm hào, hung phùng tiểu quỷ .
Ứng phi nhập huyệt, ắt chôn người khác ;
Sát động tại hào, hung gặp tiểu quỷ.

Như ứng hào bay vào huyệt hào, chủ người ngoài cùng táng, hoặc là mộ cũ người khác bên cạnh. Hung thần phạm vong nhân bản mạng, hoặc vong nhân bản mạng lâm tử tuyệt, chủ vong nhân chết dữ.

36. 犯天地六空亡之煞, 骸骨不明; 穴遇三传刑刃之空, 尸首损伤 .
Phạm thiên địa lục không vong chi sát, hài cốt bất minh;
Huyệt ngộ tam truyện hình nhận chi không, thi thủ tổn thương .
Phạm phải sát không vong của trời đất, hài cốt thất lạc ;
Huyệt tại hình, Nhận tại tuế, nguyệt, nhật ; đầu lâu tổn thương.

Lục không, chính là lục giáp tuần không . Tam truyện, là thái tuế, nguyệt kiến, nhật thần, tam hình Dương Nhận. Giả như ngày Kỷ Mão chiếm được Khôn quẻ, người chết tuổi Giáp Tí, huyệt lâm thượng lục Quý Dậu kim, là giáp tuất tuần trung không kim, đồng thời Giáp Dần tuần chi không, Giáp Tí tam truyện đới hình nhận hung thần hại khắc mộc mệnh huyệt hào, hoặc có ở nhật thần tuần chi không vong, chủ hài cốt không rõ, thi thể bị tổn hại.

37. 逢冲逢克怕犯凶神, 相合相生真为吉兆 .
Phùng xu ng phùng khắc phạ phạm hung thần,
Tương hợp tương sinh chân vi cát triệu .
Gặp xung gặp khắc, sợ gặp hung thần ;
Tương hợp tương sinh, thực là điềm tốt.

Dụng hào phùng hung thần tương khắc, tương xung, tương hình, là hung ác hiện ra; Thanh Long phúc đức là cát thần, sinh hợp củng phù, là cát tường hiện ra..

38. 爻生之子孙逢官逢贵, 临三传必作官人 .
Hào sinh chi tử tôn phùng quan phùng quý, lâm tam truyện tất tác quan nhân .
Tử tôn trong quẻ gặp Quan gặp Quý gặp tam truyền; ắt được làm quan;
Huyệt sinh chi hào lâm Tử tôn, phùng quan tinh Quý Nhân, lâm tam truyện sinh bản mạng tác Ấn Thụ, chủ quan chức chi quang vinh.

39. 穴中之象数合禄合财, 若两金当为财主 .
Huyệt trung chi tượng sổ hợp lộc hợp tài, nhược lưỡng kim đương vi tài chủ .
Tượng số trong huyệt hợp lộc hơp tài, được hai Kim sẽ là tài chủ.
Huyệt lâm vượng khí, có Tử tôn tài quan hào ở dưới hào năm, nếu Tử tôn tương sinh tương hợp, như tài lộc lưỡng toàn, đương tích kim bảo chi nhân, là con của giới phú gia.

40. 游魂福德空冲, 主流荡逃移; 恶鬼凶神变动, 见死亡凶横 .
Du hồn phúc đức không trùng, chủ lưu đãng đào di;
Ác quỷ hung thần biến động, kiến tử vong hung hoành .
Du hn Phúc đc không xung, ch v di di thiên chuyn ;
Ác qu
 hung thn biến đng, gp t vong tai ương,
Tử tôn phùng không xung ở quẻ du hồn, là người đi trốn tránh; không vong chủ phiêu bạt không trở về quê hương; Bạch Hổ Đằng xà hung thần đồng thời quỷ khắc thân thế, chủ gặp tử vong hung ác.

41. 损父母子孙之财鬼, 鳏寡孤独 .
Tổn phụ mẫu tử tôn chi tài quỷ, quan quả cô độc .
Qu Tài hi Ph mu, T tôn, mô côi góa ba ;
Trong quẻ hào phụ bị tổn thương và không hiện trên quẻ, con cháu mồ côi; Tử tôn bị tổn thương và không hiện trên quẻ, không người nối dõi; tài hào bị thương và không hiện trên quẻ, ra người không vợ; quỷ hào thụ thương và không hiện trên quẻ, ra quả phụ. Phải chỉ dẫn minh bạch, không được nói chung chung
.
42. 叠刃刑鬼破之劫亡, 疲癃残疾 .
Điệp nhận hình quỷ phá chi kiếp vong, bì lung tàn tật .
Kiếp vong kèm Nhận hình Quỷ phá, tàn tật ốm đau.
Quỷ lâm nguyệt phá, và tam hình lục hại cùng khắc dụng hào. Cung Kiền chủ bệnh tật ở đầu, thở dốc, ho, ruột non chi, cung Khảm bệnh hai lỗ tai, tiểu tiện, khí huyết, đau lưng, sườn tâm , Cấn cung chủ bênh tật viêm mũi, ngón tay, chân , Chấn cung chủ bệnh tật cốt, chân, gan, cẳng, tam tiêu, điên cuồng , Tốn cung chủ bệnh tật trán, tóc mai, đầu gối, huyết khí, phong tà, cung Ly chủ bệnh tật tỳ vị, ung độc, mắt, đau lòng, chứng nhiệt, thang hỏa, Khôn cung chủ bệnh tật bụng, nôn mửa dữ máu tả lỵ, hoàng sưng, Đoài cung chủ bệnh tật mồm miệng thiếu, môi khấm, da . Kim quỷ lao thấu, mộc quỷ phong tà, hỏa quỷ chứng nhiệt, thủy quỷ thổ tiết, thổ quỷ hoàng sưng chi bệnh tật, trung gian bất khả nói hết, y theo lý nói rõ tìm ra..

43. 玄武遇咸池之劫煞, 既盗且娼; 青龙临华盖之空亡, 非僧则道 .
Huyền vũ ngộ hàm trì chi kiếp sát, ký đạo thả xướng;
Thanh long lâm hoa cái chi không vong, phi tăng tắc đạo.
Huyền vũ gặp Kiếp sát tại Hàm trì, trộm cướp gian dâm ;
Thanh long gặp không vong Hoa cái, không sư thì đạo.

Huyền vũ tuế phá nguyệt phá cộng lâm Thế hào, ở Khảm ra kẻ gian trộm, hoặc bởi vì trộm dẫn đến tử vong; Huyền vũ hàm trì đới hợp, chủ gái đọa phong trần, dâm bôn bại hóa; nếu Thế hào đồng thời thai thần bị khắc, chủ có tai nạn sẩy thai khó sinh. Thanh Long Hoa Cái cô thần trị không vong có khí, là các loại tăng đạo.

44. 月卦勾陈之土鬼, 瘟疫相侵; 阳宫朱雀之兄神, 火灾烦数.
Nguyệt quái câu trần chi thổ quỷ, ôn dịch tương xâm;
Dương cung chu tước chi huynh thần, hỏa tai phiền sổ .
Quẻ âm Quỷ thổ tại Câu trần, dịch bệnh xâm nhập ;
Cung Dương Huynh đệ tại Chu tước, hỏa hoạn triền miên.

Nguyệt quái là nguyệt tướng Câu trần thổ quỷ lâm Thế thân hào, chủ tai vạ ôn dịch tương xâm ; Chu Tước phạ phùng hỏa, thêm ở hỏa vị, chủ có hoả hoạn.

45. 父母临子孙之绝气, 后嗣伶仃; 福德临兄弟之旺宫, 假枝兴旺 .
Phụ mẫu lâm Tử tôn chi tuyệt khí, hậu tự linh đinh;
Phúc đức lâm Huynh đệ chi vượng cung, giả chi thịnh vượng.
Phụ mẫu tại Tử tôn tuyệt khí, con cái hiếm hoi;
Phúc đức tại Huynh đệ vượng tướng con nuôi nối nghiệp.

Thường thì Phụ mẫu là cô sát, nếu như Tử tôn hào thuộc hỏa, hỏa tuyệt ở Hợi, nếu Phụ mẫu lâm Hợi hào động, chủ hậu tự linh đinh; nếu Tử tôn lâm vong mệnh, hoặc Huynh đệ hào lâm vượng tướng, từ giả cung đến, cho nên trở thành thịnh vượng .

46. 动并旬中之凶煞, 立见灾危; 穴临日下之进神, 当臻吉庆 .
Động tịnh tuần trung chi hung sát, lập kiến tai nguy;
Huyệt lâm nhật hạ chi tiến thần, đương trăn cát khánh .
Động tại hung sát trong tuần, thấy liền tai họa.
Huyệt gặp tiến thần trước mắt, sẽ gặp cát tường.

Sát là kiếp nhận, hình hại, nguyệt phá vv.. Sát ở nhật thần tuần trung phát động, nếu hình xung khắc hại thân mệnh, chủ gặp tai họa cướp của giết người. Huyệt gặp nhật thần tiến thần trị tài phúc, chủ được may mắn an khang, như ngày Mậu Dần chiêm, đắc Kỷ Mão huyệt hào phùng long đức tài phúc là may mắn.

47. 看已形知既往, 察过去知未来 .
Khán dĩ hình tri ký vãng, sát quá khứ tri vị lai .
Thấy hiện tại như quá khứ, nhìn quá khứ như tương lai.
Xem dĩ vãng có thể thấy hình thế đất ; xét cát hung quá khứ, vị lai hiện ra, tất cả đều nghiệm đúng. .

48. 事与世应互同, 可见卦中之体用 .
Sự dữ thế ứng hỗ đồng, khả kiến quái trung chi thể dụng.
Việc tương ứng với Thế, Ứng ; thấy thể, dụng ở trong quẻ.
Thế làm thể, ứng là dụng, xem thể dụng phát động, nối liền ở sự thể làm sao, mới khá phán đoán suy luận.

49. 动与日辰相应, 方知爻内吉凶 .
Động dữ nhật thần tương ứng, phương tri hào nội cát hung .
Đng mà tương ng vi nht thn ; Mi biết cát hung hào qu.
Động hào dữ nhật thần lẫn nhau phó ứng là sự việc cát hung hối lận có thể thấy được. Không được câu nệ cố chấp mà đoạn ý thánh nhân ; không thể phát minh, hiền giả càng nên cân nhắc đắn đo, thì không có sai lầm vậy.

Hết chương Phần mộ.

 

PS : Bài viết được siêu tầm lại bởi Maphuong trên tvls

- Advertisement -