PHIẾM THỦY ĐÀO HOA
Nếu đồng độ với Kình Dương, Đà La thì là người chủ về thích rượu chè, hút sách, cờ bạc, mê hoa luyến sắc, nếu ở cung Hợi, Tí thì gọi là cách Phiếm Thủy Đào Hoa.
PHONG LƯU THẢI TRƯỢNG

CỰC CƯ CHẤN ĐOÀI



Nếu đồng độ với Kình Dương, Đà La thì là người chủ về thích rượu chè, hút sách, cờ bạc, mê hoa luyến sắc, nếu ở cung Hợi, Tí thì gọi là cách Phiếm Thủy Đào Hoa.




(Tuvivietnam – siêu tầm)

(Đào hoa phạm chủ vi chí dâm) tức nhấn mạnh đặc tính “ham muốn dục tình” của chúng. Đây là cơ sở để căn cứ và nhận biết một cách cụ thể sự ảnh hưởng của cung tam phương đến hệ “Tử vi Tham lang”, theo xu thế thuận hay xu thế nghịch. Nếu đại vận đi thuận mà theo xu thế nghịch, hoặc đại vận đi nghịch mà theo xu thế thuận, thì có thể biết là bại vận.













(Tuvivietnam – siêu tầm)











(Tuvivietnam – siêu tầm)

















(Tuvivietnam – siêu tầm)

Phá Quân ở thế bình đồng tọa, Liêm Trinh và Thất Sát sẽ đồng nhập Quan Lộc cung tại Sửu hoặc Mùi. Tại Sửu hoặc Mùi Thất Sát điều miếu vượng, Liêm Trinh ở thế lợi. Do tử vi hội hợp với nhóm sao hành động Sát-Phá-Liêm-Tham nên tạo thành cục diện phân tranh giữa 2 thế lực chính và tà, phe nào thắng cần phải xem sự hội hợp của Tứ sát tinh, cát hóa và dâm tinh nhiều hay ít.






(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tham lang miếu ở Thìn Tuất Sửu Mùi, hãm ở Tỵ Hợi
Trong Đẩu Số, thì Tham lang và Liêm trinh là cặp “sao đôi“, tính chất của hai sao có chỗ tương đồng mà cũng có chỗ tương dị. Vì vậy cũng là sao đào hoa, nhưng Tham lang theo khuynh hướng dương cương, còn Liêm trinh thì có khuynh hướng âm nhu. Cũng có thể nói, đào hoa của Tham lang rõ nét sở tính đam mê tửu sắc, còn Liêm trinh sở tính ham thích thanh sắc và còn biết tự kiềm chế.

Tham lang ở cung Mệnh hay cung Thân, chủ về có sở trường giao tế, còn có thêm tài nghệ ở nhiều phương diện. hiếu động, khéo ăn khéo ở, nhưng lại dễ chìm đắm trong tính dục như: thị hiếu, sở thích, …
Nếu hội hợp với Xương Khúc, thì có sở thích cầm kỳ thi tửu, xét về phương diện vật dục là đam mê tửu sắc, nếu gặp thêm Hoa cái chủ về ưa thích khoa học huyền bí, xét về phương diện vật dục là ưa thích sự vật thần bí.
Có điều, nếu Tham lang hội hợp với Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la và Hóa Kị, thì tính vật dục rất sau nặng, dễ thành đam mê tửu sắc, cơ bạc, hút sách.
Cổ nhân đối với Tham lang, có thuyết “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham cư vượng cung, chung thân thử thiết), gọi là Tham cư vượng cung tức là:
– Người sinh năm Thân Tí Thìn, có Tham lang cư Tí
– Người sinh năm Dần Ngọ Tuất, có Tham lang cư Ngọ
– Người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu
– Người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang cư Mão
Đây là bí truyền của Trung Châu phái; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang cư Dậu không phải là cung vượng, đây là điều chưa có sách nào ghi chép, các phái cũng không lưu truyền.
Thuyết của cổ nhân là do tâm lý chấp trước vào câu “Tham cư vượng cung” suy diễn dễ phát triển thành dục vọng, chiếm hữu quá sâu, nên có luận đoán “suốt đời trộm cắp như chuột”. Đối với thuyết này cần phải xử lý thật cẩn thận, nhất là đối với người có cung Phúc đức hội hợp sao cát, không được khư khư luận là “suốt đời trộm cắp như chuột”. Nếu mà cung mệnh của con gái mà gặp cách cục này thì phải quản giáo cho khéo, để giảm bớt dục vọng chiếm hữu của nó.
Tham lang hội sao Cát, chủ về vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm đại quyền trong quân đội hay cảnh sát.
Tham lang gặp Hỏa tinh hay Linh tinh, là “Hỏa Tham cách” hoặc Linh Tham cách”, đều chủ về tài lộc dồi dào, phát triển có tính đột phá. Lấy Hỏa Tham làm thượng cách, Linh Tham làm kế đó. Lại còn lấy ở Thìn, Tuất làm thượng cách, hai cung Sửu Mùi là kế đó, các cung khác là sau nữa. Nhưng nếu gặp thêm Kình dương hoặc Đà la thì không hợp cách. Hợp cách là gặp Lộc tồn hoặc Hóa Lộc, đặc biệt sẽ có nguồn tiền tài bất ngờ, có thể giầu đột ngột.
Tham lang rất ghét Kình dương, Đà la, cũng sợ Hóa Kị, nhưng gặp Địa không, Địa kiếp thì trái lại, có thể thành người có hành động thiết thực. Cho nên, gặp Không Kiếp phần nhiều chủ về có nghề chuyên môn, nếu không gặp Hóa Kị thì có thể theo ngành nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nếu gặp Hóa Kị thì nên làm thợ.
Tham lang gặp Kình dương, Đà la, làm tăng sự trắc trở gập gềnh, bất đắc chí và vất vả trong đời người. Ở Hợi và Tí thì gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu vì sắc tình mà chuốc họa, có sao cát thì có thể chuyển hóa thành nho nhã thanh tao. Tham lang gặp Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng” chủ về vì ham sắc mà gặp họa.

Nữ mệnh Tham lang, đặc điểm lớn nhất là có sở thích riêng, đồng thời thích chuyện thần bí, có khuynh hướng sùng, tín ngưỡng bái tôn giáo. Thời Đường Tống, phụ nữ có mệnh này dễ làm “nữ đạo sĩ”, “nữ đạo sĩ” thời ấy tương đương với kỹ nữ cao cấp. Ở thời hiện đại, có thể thành người làm công việc giao tế, quan hệ công cộng, nhất là có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý họi hợp, nữ mệnh cũng có thể sang quý hoặc có địa vị xã hội. Nếu hội các sao Lộc, mà còn được Hỏa tinh, Linh tinh củng chiếu, đều chủ về giầu có. Mệnh tạo tính tình cương nghị, vương phu ích tử.
Cung Mệnh hoặc cung Phúc có Tham lang và Liêm trinh hội hợp, chủ về nhạy cảm với cái đẹp, cũng chủ về yêu thích nghệ thuật, nhất là ưa vận động hoặc khiêu vũ. Nếu Tham lang độc tọa, thì có khuynh hướng yêu thích vận động.
(Tuvivietnam – siêu tầm)

Sao Tham lang trong thuyết ngũ hành thuộc dương mộc. Ở trên trời thuộc chòm sao Bắc Đẩu, lại thuộc thủy, hóa làm đào hoa, là tinh diệu giải trừ tai nạn ở trên trời. Ở người thì chủ về hiếu động, lanh lẹ láu lỉnh, thơ riệu hút sách cờ bạc đủ trò, lại còn thích thuật tu luyện thần tiên.
Gặp cát diệu chủ về phú quý vinh hoa, tay nắm đại quyền quân chính, lừng danh thiên hạ. Gặp ác sát thì chủ về mê hoa luyến riệu, ưa thích uống riệu ham mê cờ bạc.
Gặp Hỏa tinh, Linh tinh, là cách Hỏa Tham, Linh Tham, chủ về tiền nhiều lộc cao. Nhưng lấy trường hợp ở Thìn và Tuất là thượng cách, ở Sửu và Mùi là thứ cách, còn các cung khác thì kế đó nữa.
Tham lang đồng độ với Kình dương, Đà la ở Hợi, Tí gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, tự nổi tiếng phong lưu, vì sắc mà thân bại danh liệt.

Ở Thìn hay Tuất, đối diện có Vũ khúc xung chiếu, có cát diệu thì sau 30 tuổi có thể phát. Ở cung vị khác, Tham lang có Vũ khúc hội chiếu, trước nghèo sau giầu. Có sát tinh thì lúc nhỏ nhiều tai nạn, thọ mệnh không dài.
Tham lang ở cung Dần, gặp Kình dương, Thiên hình, có tai họa lao ngục, đồng độ với Đà la ở cung Dần, gọi là “Phong lưu thái trượng”, chủ về túng dục tham sắc, hoặc vì sắc mà mang họa.
Tham lang ở cung mệnh, chủ về người sắc mặt xanh trắng, hoặc hơi kèm sắc vàng, mặt trái xoan hoặc nhiều xương. Nhập miếu thì thân người béo mập cao to. Lạc hãm thì thân hình nhỏ mà giọng nói cao.
Tính tình bất thường, nhưng đại lượng, hay thi ân giúp người. Khi có lỗi lầm, người ta thường giận thấu xương, nhưng về sau lại được người lượng thứ, tha thứ bỏ qua. Tác phong làm việc có tính gấp gáp, ưa thật khéo léo trải chuốt. Ưa nhiều đam mê, cờ bạc tửu sắc đều ham, không từ thứ gì.
Tham lang ở cung Mệnh, Thất sát ở cung Thân, gặp sát diệu thì có tác phong dâm bôn, trộm hoa bẻ liễu. Tham lang ở cung Mệnh, Phá quân ở cung Thân, gặp sát diệu, nam mệnh thì đam mê cờ bạc riệu chè, trọng sắc như mạng sống; nữ mệnh cũng chủ về dâm đãng, không yên gia thất, nhiều đam mê thích giao du.
Hội chiếu với các tinh diệu Văn xương, Văn khúc, Thiên hư, Âm sát, chủ về người không biết việc, làm việc chẳng ra sao, không thực tế, chỉ biết giỏi lừa dối, xảo trá.
Tham lang đồng độ với Tử vi, gọi là “Đào hoa phạm Đế tọa”, chủ về rất dâm đãng.
Bất luận là nam hay nữ, phàm Tham lang thủ mệnh, có sao Không, Thiên hình, thì trái lại, chủ về thanh bạch đoan chính.
Tham lang thủ mệnh, tam phương tứ chính không có sát tinh, mà có cát diệu hội chiếu, đều chủ về là người trong giới quân nhân, cảnh sát hoặc chính giới.
Tham lang ở Dần địa, có cát tinh hội chiếu, chủ về người thông minh, còn trẻ đã nổi tiếng, có điều, tuy sáng lập được sự nghiệp, nhưng tai họa lao ngục và tai họa về sự nghiệp đều tới. Tham lang tọa mệnh, đến Thân địa, mộc gặp kim khắc chế, có thể lưu lại tiếng thơm trăm đời, nhưng cũng có thể để lại tiếng xấu vạn năm, vì sẽ có một số người chỉ trích phản đối, nhưng lại được một số người khác tôn kính sùng bái.

Sự nghiệp một đời là do gian khổ phấn đấu mà được, nếu chỉ lo hưởng thụ thì sự nghiệp sẽ mất đi trong sự khoái lạc. Không có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì từ tay trắng làm nên đại nghiệp. Gặp sát tinh thì tai họa lao ngục, cuộc đời lẩn đông trốn tây, nếm đủ mùi chua đắng cay.
Tham lang ở cung Ngọ, là mộc hỏa sáng thông nhau, giỏi kế mưu, hùng tài thao lược. Nếu tam phương tứ chính không có sát tinh ác diệu, thì sự nghiệp cực lớn, tay cầm đại quyền tài chính, phân định tình thế kinh tế trái phải. Nếu có sát diệu, thì nên tìm cách phát triển trong giới thương nghiệp.
Tham lang ở Tỵ, thì gặp sao Liêm trinh đồng độ, chủ về hoạt động sôi nổi, trong cuộc đời gặp tai nạn rất nhiều, có điều, đều có thể thoát nguy mà yên. Ở tam phương tứ chính không sát diệu ác tinh hội chiếu, tất uy chấn biến cương, làm tướng lĩnh tay nắm trăm vạn hùng binh. Nếu có sát tinh ác diệu hội chiếu, thì chỉ nên hoạt động trong giới thương mại, song, những người giao du qua lại phần nhiều cũng trong giới quân nhân, cảnh sát hay chính giới. Có điều cuộc đời nhiều sóng gió. Phàm Tham lang tọa mệnh ở Tỵ, thì sao Thiên phủ đến cung Thê, có sao Vũ khúc vây chiếu, chủ về có vợ rồi lại lấy thêm vợ, vợ thứ hai tất sẽ thông minh đa tài, có thể giúp được chồng, giỏi chăm lo gia đình.
Phàm Tham lang tọa cung Mệnh, thì rất khác với các sao Cự môn, Thái dương nhập cung mệnh. Cự Nhật thủ mệnh, tuy không lỗi lầm cũng thường dễ bị người chỉ trích (Thiên lương thủ mệnh gặp Lộc tồn cũng vậy). Còn lại Tham lang tọa thủ mệnh, dù có lỗi lầm, rốt cuộc người ta cũng tha thứ bỏ qua, hơn nữa còn có tác phong đặc biệt, tức là có thể ở cùng với người oán thù mình, lâu dần có thể hóa giải mối oán thù này.
Nữ mệnh có Tham lang đến cung mệnh (cũng giống như nam mệnh, đều thuộc về cách “Hỏa kỳ lân“), chủ về hoặc là mê riệu, mê cờ bạc, mê hút sách, hoặc là hay thay đổi thị hiếu, hơn nữa còn có thị hiếu về tín ngưỡng tôn giáo. Nhập miếu thì đều phú quý, có các sao Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên phúc, Thiên quan, Thiên quý, hội chiếu thì chủ về quý. Có Lộc tồn, Hóa Lộc, Hỏa tinh, Linh tinh vây chiếu thì chủ về phú. Phàm Tham lang thủ mệnh nữ, thường là người có chí trượng phu, tính tình cương nghị, trọng hình thức, vượng chồng ích con. Nhưng nếu lạc hãm thì nên làm vợ thất, vợ lẻ, nếu không sẽ tự hình khắc phá tài.

Lưu niên Đại hạn có sao Tham lang đến, không có sát diệu, thì chủ về hay bỏ cũ thay mới, thích thơ riệu thù tạc, tính tình vui vẻ, tài năng tiến triển muốn tự tác sự nghiệp mới, thêm nhân khẩu. Có tam hóa Lộc Quyền Khoa thì thăng quan tấn tước. Gặp Hỏa Linh thì được tiền của bất ngờ. Nếu hội chiếu sát tinh, ác diệu lạc hãm, và Hóa Kị, thì chủ về vì giao tế thù tạc mà sinh tai họa thị phi, hoặc vì đầu cơ, cờ bạc, mà khuynh gia bại sản. Gặp Hàm trì, Thiên diêu chủ về vì sắc mà sinh tai họa. Mừng nhất là thấy hỷ sự, hoặc mang thai sinh đẻ, nhờ đó mà tai họa biến thành cát tường.
Phàm, người sinh năm Thân Tí Thìn có Tham lang thủ mệnh cư Tí; người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Tham lang thủ mệnh cư Ngọ; người sinh năm Tỵ Dậu Sửu có Tham lang thủ mệnh cư Dậu; người sinh năm Hợi Mão Mùi có Tham lang thủ mệnh cư Mão, thảy đều chủ về người có tính tình tham lặt vặt, phẩm hạnh bất chính, nhiều đam mê mù quáng có thể xảy ra hành vi trộm cắp mặc dù tiền vẫn dư giả không thiếu. Hơn nữa, thường có đầu óc không trong sáng, không hiểu thị phi, điên đảo trắng đen, ân oán không minh bạch. Nếu có nhiều cát diệu hội tụ, thì những tình huống kể trên giảm thiểu đi nhiều.
(Tuvivietnam – siêu tầm)
Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang là dương mộc (khí – bên ngoài), là âm thủy (thể – bên trong), là ngôi sao thứ nhất trong chòm Bắc Đẩu. Hóa khí là đào hoa, chủ về họa phúc, dục vọng. 
Trong lá số, sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân luôn nằm ở cung vị tam phương hội chiếu, nên được gọi chung là Sát Phá Lang – đây chính là điểm chuyển ngoặt đánh dấu những biến động lớn trong vận mệnh. Nếu vận hạn gặp sao này, lại gặp sát tinh hay bị sát tinh hội chiếu, sẽ là “Trúc la tam hạn” chủ về đại hung. Nhưng tính chất biến động của sao Tham lang là yếu hơn, so với Thất sát và Phá quân, chủ yếu thiên về “tửu sắc tiền tài“.
Tham lang là một ngôi sao chủ về đa tài đa nghệ, mang tính đào hoa, phạm vi tài nghệ rất rộng, không những có tài nghệ thuật, còn có sở trường về ngôn ngữ, là nam giới tinh thông cầm kỳ thi họa, là nữ giới khéo nữ công gia chính, đều am hiểu lễ nghĩa, có chừng có mực, vì yêu cầu của công việc nên thường xuyên phải tham gia tiệc tùng ngoại giao, khó tránh khỏi sa đà vào sắc dục.
Sao Tham lang là thần dục vọng, là sao đào hoa, có thể ban phúc, cũng có thể giáng họa, nên thiện ác lẫn lộn, gặp Cát sẽ chủ về quý, gặp Hung sẽ chủ về phù phiếm giả tạo, lúc thì thao thao nhân nghĩa đạo đức, lúc lại bị cuốn theo sắc dục mà không còn biết đến lễ nghĩa liêm sỉ, tính tình phóng đãng. Trạng thái họa phúc của sao Tham lang có liên quan đến khái niệm nhân quả, tức gieo mầm thiện được phúc báo, gieo mầm ác gặp quả báo.

Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang thuộc Giáp mộc, Giáp đứng đầu mười thiên can, nên mang nghĩa “mở đầu”; Mộc chứa sinh khí, có xu thế phát triển, bởi vậy ranh giới giữa thiện và ác của sao Tham lang thường rất mỏng manh. Lại vì Tham lang tuy thuộc Mộc, nhưng gốc lại thuộc Thủy, nên tại Số khí hóa là Đào Hoa, khiến cho tính chất của sao Tham lang có xu hướng đào hoa, ưa thích chuyện phóng đãng dâm dật, thường xuyên thay đổi, tính thích so bì kèn cựa, nhiều tham vọng, quá thông minh khôn khéo mà bị mang vạ. Nếu Tham lang nằm cùng cung với Văn Xương (sao Giờ) và Vũ khúc, chủ về phù phiếm giả dối, đào hoa, một đời liên tục vấp phải các rắc rối về tình cảm.
Sao Tham lang khi làm sao Thiên Tài, thì tiền của đấy là trong thành có bại, trong được có mất. Bởi vậy, khi Tham lang gặp sao Chính tài là Vũ Khúc, sẽ không thành tựu cho người trẻ tuổi, thành đạt sớm sẽ phá sản sớm, sau năm 35 tuổi phát tài mới có thể giữ được.
Sao Tham lang cũng chủ về tính hưởng thụ, thiên về những hưởng thụ cao cấp về mặt vật chất, thích tiêu pha nên dễ thành hoang phí, điều này nhiều khi do môi trường sống tạo thành, nên có khác với tính chất hưởng phúc của sao Thiên đồng.
Trong số các ngôi sao của Tử Vi Đẩu Số, thì sao Tham lang ưa được Sát tinh xung phá nhất. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Hỏa tinh hay Linh tinh, thì hành Hỏa của hai sao Hỏa Linh sẽ khắc chế hành Thủy ở gốc của Tham lang, mà được Mộc tương sinh. Đặc biệt là dương Hỏa của Hỏa tinh sẽ khắc chế được âm Thủy của sao Tham lang, khắc một cách hữu tình, tạo thành cách “Hỏa Tham” hoặc “Linh Tham“, nên trong cuộc đời sẽ có những biểu hiện mang tính đột phá, tăng cường sức mạnh của sao Tham lang, theo nghiệp Võ sẽ hiển đạt. Nếu Thân lại ở Hóa Lộc sẽ phát tài chóng vánh. Nếu sao Tham lang rơi vào cung Không Vong, hoặc gặp sao Hóa Kị, sẽ lại trở thành đoan chính, ức chế được các đặc tính đào hoa, như tửu, sắc, tiền, tài, và phát huy được những tài năng nghệ thuật. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Địa không, Địa kiếp, chủ về có những kỹ năng, kỹ thuật chuyên sâu sở trường.
Sao Tham lang tuy ưa gặp được Sát tinh xung phá, nhưng lại khó chống đỡ nổi sát khí của các sao Đà la, Kình dương. Nếu như Tham lang đồng cung với Đà la hay Kình dương, lại gặp các sao Địa không, Địa kiếp, Hỏa tinh, Linh tinh, Hóa Kị, sẽ khiến cho Tham lang khó phát huy được tiềm năng, nên chủ về vất vả lao lực, nhờ vào tài khéo, kỹ nghệ để mưu sinh, dễ trở thành kẻ tiểu nhân hèn kém.
Sao Tham lang gặp Phá quân, dễ mất mạng vì ham mê tửu sắc. Nếu gặp Lộc tồn chủ về cát lợi. Gặp ám (Cự môn), hao (Phá quân), chủ về phù phiếm giả tạo. Gặp tù (Liêm trinh) chủ về không trong sạch. Gặp sát cô (Thất sát) dễ mắc hình ngục tù đầy. Gặp Kình Đà dễ mắc bệnh trĩ. Gặp hình (Kình dương), kị (hóa Kị) trên người có vết chàm.

Sao Tham lang gặp Hóa Lộc Hóa Quyền, chủ về phát tài đột ngột, có tiền của bất ngờ. Kị nhập cung Thủy (Hợi Tí), sẽ là tượng “Phiếm thủy đào hoa” (đào hoa trôi nổi), nếu lại gặp thêm các sao đào hoa khác như Hồng loan, Thiên hỷ, Thiên diêu, đường tình duyên càng thêm phức tạp. Sao Tham lang nếu nhập Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, gọi là “Tài nhập khố vị” (Của nhập vào kho), không bị Thiên la Địa võng khống chế, hơn nữa còn có được khả năng giải trừ tai ách.
Sao Vũ khúc và sao Tham lang gặp miếu, trấn mệnh tại Sửu, Mùi, là cách “Tham Vũ đồng hành“, chủ về thành tựu muộn, gặp được thời cơ tốt đẹp sẽ thành công nhanh chóng (nếu như Thái dương và Thái âm lại kèm ở hai bên cung Mệnh, là cách “Nhật Nguyệt giáp mệnh” chủ về giầu có suốt đời).
Nếu sao Tham lang nhập miếu, trấn mệnh tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại nằm cùng cung với Hỏa tinh (hoặc Linh Tinh) là cách “Hỏa Tham” (hoặc “Linh Tham“), sẽ là người trợ tá đắc lực, thành tựu nhanh chóng.
Sao Liêm trinh nhập miếu, trấn mệnh tại Thân, Dần, lại có sao Tham lang tại cung đối diện chầu chiếu, là cách “Hùng tú triều nguyên“, sẽ đảm nhiệm chức vụ quan trọng.
Sao Tử vi và sao Tham lang trấn mệnh tại Mão, Dậu, lại gặp Địa không, Địa kiếp, bốn sát tinh hoặc Hóa Kị, là cách “Cực cư Mão Dậu“, muôn sự bất lợi, là mệnh tăng ni thoát tục.
Sao Tham lang trấn mệnh tại Hợi Tí, lại gặp hình (Kình dương), Hóa Kị, là cách “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu đa tình.
Tham lang và Kình dương cùng đóng tại cung Mệnh, là cách “Phong lưu thái trượng“, là người thông minh nhưng rất phong lưu.
Sao Tham Lang tại Khí là dương Mộc, tại Thể là âm Thủy, là thọ tinh, thiên tài tinh, hóa khí thành đào hoa chủ về họa phúc, là quỷ đa dục, là sao đào hoa bậc nhất.
SAO THAM LANG TỌA THỦ CUNG MỆNH

Dung mạo và tính cách
Người có sao Tham Lang tọa thủ cung Mệnh, là người mắt thành mày tú, ắt mắt linh hoạt, lời nói tự nhiên, có sức hấp dẫn với người khác giới. Khi nhập miếu thì người to béo, lạc hãm người thấp bé.
Cá tính thô bạo chủ về hướng ngoại hiếu động, túc trí đa mưu mà biết cách hòa đồng với người khác. Tính cách hỷ nộ thất thường lại hay kỳ vọng vào bản thân. Biết nghĩ sâu xa mà dám nói dám làm, thích cái mới ghét cái cũ, yêu hận khó định, nội tính giỏi che lấp mưu kế để thuận lòng người. Làm việc chăm chỉ, có sức mạnh tác phong nhanh nhẹn, không sợ vất vả.
Đa tài đa nghệ, học rộng nhưng không tinh thông. Thích đầu tư mạo hiểm nên không chịu đứng yên. Tính phóng đãng, giỏi ăn nói lại có duyên với người khác giới, giao tiếp ứng biến mà hiểu ý người, biểu hiện tính dục mạnh lại thường gian tà nham hiểm. Tửu, sắc, cờ bạc đều tinh thông, tính thích tiêu xài hưởng thụ, cuộc sống muôn mầu muôn vẻ.
Mệnh nữ dung mạo xinh đẹp, nho nhã hoạt bát, có duyên với người khác giới, giác quan thứ sáu nhạy bén, sau khi kết hôn thích làm việc bên ngoài, thích giao tiếp xã hội, đa số không chịu lo việc nhà.
Suy đoán tính mệnh
| Tham lang + 2
Liêm trinh + 2 |
Tham lang + 3 | Tham lang + 4
Vũ khúc + 4 |
Tham lang = 0 |
| Tham lang + 4 | Tử vi + 3
Tham lang + 1 |
||
| Tử vi + 3
Tham lang + 1 |
Tham lang + 4 | ||
| Tham lang = 0 | Tham lang + 4
Vũ khúc + 4 |
Tham lang + 3 | Tham lang + 2
Liêm trinh + 2 |
Độ sáng của sao Tham lang tọa thủ 12 cung
Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Tham Lang.
Mối quan hệ của chúng như sau:
– Miếu = + 4
– Vượng = + 3
– Địa = + 2
– Lợi = + 1
– Bình hòa = 0
– Không đắc địa = – 1
– Hãm địa = – 2
Sao Tham lang tại Khí thuộc dương mộc, đại diện cây cao to, cây cao vì vậy mà nhìn được rất xa, cũng khá thực tế và thực dụng.

Sao Tham lang tại Thể thuộc âm thủy, vì vậy nhiều dục vọng, hư vinh, tham lam, thích hưởng thụ. Lại vì sao Tham lang là sao Đào hoa bậc nhất nên bản thân rất có sức hấp dẫn với người khác giới, nên thường ứng biến theo hoàn cảnh tự nhiên, hoặc thường bước chân đến nơi thanh sắc, âm nhạc; đồng thời có khả năng giao tiếp ứng biến linh hoạt khéo léo.
Sao Tham lang chủ về phúc họa, thường ở giữa thiện và ác, thông thường gieo nhân thiện thì được quả phúc, giao nhân ác thì được quả họa.
Sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân trong mệnh bàn thường tam phương hội chiếu, là mấu chốt thay đổi cuộc đời, cùng hiển thị tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh. Nhưng sự thay đổi biến động của sao Tham lang không chỉ nhỏ hơn sao Thất sát, mà lại càng nhỏ hơn so với sao Phá quân, tính chất thiên về tửu, sắc, tài, khí. Sự thay đổi của sao Thất sát trong cô độc có dũng, có mưu. Sự thay đổi của sao Phá quân thì bất chấp tất cả để tiến về phía trước. Sự thay đổi của sao Tham lang là để có được tiền đồ đem lại sự cạnh tranh với người khác là động lực để thay đổi.
Người có sao Tham lang tọa thủ cung Mệnh, thường có những hiện tượng:
1)- Tự tin đồng thời giỏi bộc lộ sở trường của bản thân, có thể dũng cảm đối mặt với cạnh tranh, thích ứng với mọi sự thay đổi, có chí tiến thủ và sáng tạo.
2)- Có khả năng đánh giá, kiểm nghiệm được – mất trong cuộc cạnh tranh đã qua, vì vậy không ngừng tiến bộ và phát triển, thông qua đó nắm được thành – bại của cuộc cạnh tranh trong tương lai, đồng thời yêu cầu sự hoàn mỹ.
3)- Ham mê tửu sắc, đồ ăn ngon, dùng tiền bạc để thúc đẩy mối quan hệ, đồng thời có thể hóa giải được tiềm năng của tai họa.
4)- Có quan niệm theo đuổi cái mới, có thể thúc đẩy trào lưu mới, thu hút sự chú ý của người khác mà hành vi lại xuất chúng.
5)- Dũng cảm thử nghiệm với những điều mới mẻ, nắm bắt thông tin rộng.
6)- Để kiên trì ý kiến của bản thân thường không nhận thua, cũng vì không chịu nổi cảm giác mình sẽ bị thua mà thiếu đi sự sáng suốt khi nhìn nhận bản thân.
7)- Thường có lòng cạnh tranh, trong công việc cũng hay gặp phải cạnh tranh, trong cạnh tranh lại đắc ý đắc thắng, vì vậy mà rất biết tính toán được mất, đồng thời thường hay có được có mất, khi trong lòng mất cân bằng thường trút giận lên người khác.

Sao Tham Lang giỏi về giao thiệp ứng biến, nhưng lại có những điểm khác với sao Thiên cơ và sao Liêm trinh:
– Sao Thiên cơ giỏi sách lược và phân tích, đồng thời thiên về thay đổi; về phương diện được mất, có thể tùy duyên. Sự giao thiệp của sao Liêm trinh khéo léo, có chỗ khuếch trương, đồng thời thiên về tính chất đào hoa, do tự biết mình nên thường giữa được và mất có thể hiểu được. Còn sao Tham lang vốn đa tài đa nghệ, giỏi cầm kỳ thư họa, ca hát khiêu vũ, mọi việc đều tinh thông, có tài nghệ trong giao tiếp ứng biến, thường có thể đứng ngoài hiểu được sự tình, nghe 1 biết 10, dễ dàng học hỏi, lại thêm khả năng đánh giá đặc biệt về được và mất, vì vậy mà tự đòi hỏi và yêu cầu bản phải trở thành nhân vật nỏi bật trong giao tiếp.
– Sao Tham lang nếu có thể chính diện vận dụng đặc tính thích tính toán, đánh giá được – mất để thay đổi tập tính không tốt của bản thân, mở rộng tấm lòng mình hơn thì có thể phát huy được tài năng giao tiếp ứng phó của bản thân. Vận dụng tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh, không ngừng tiến bộ và phát triển, tự nhiên có thể phát huy được tiềm năng để đột phá. Có lúc chủ động tránh cạnh tranh, đồng thời bồi dưỡng tài nghệ về văn học, nghệ thuật, thì có thể dễ dàng tích lũy được nhiều thành công.
Sao Tham lang không hợp với mệnh nữ, vì Tham lang là sao đào hoa bậc nhất, lại là Thiên tài tinh, mệnh nữ gặp Tham lang thủ mệnh thì đa phần có tiền mà lại thanh nhàn, lại thêm tính hướng ngoại hiếu động, nhiều dục vọng thích hưởng thụ, kết bạn rộng rãi nên khó tránh khỏi không chịu được cô đơn, không ở yên trong nhà. Nên tu thân dưỡng tính, đồng thời nên giữ mình trong sạch.
Sao Tham lang nhập tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là tài nhập khố, lại thuộc thế miếu, nên không những được trường thọ, mà còn có thể giảm bớt tệ tửu, sắc, tài, khí, lại có thể phát huy tài nghệ.
Sao Tham lang thích nhất gặp Hỏa tinh, Linh tinh khi nhập cung mệnh, dương hỏa của Hỏa tinh khắc chế âm thủy gốc của Tham lang, dương khắc âm là “hữu tình khắc“, trong khắc có sinh, nếu không gặp Kình Đà đồng cung thì cấu thành mệnh cách Hỏa Tham hoặc Linh Tham, phát huy sức mạnh, có tướng làm tướng, uy quyền giầu có, có thể được phong vương hầu. Nếu có thêm Hóa Lộc và Hỏa tinh hoặc Linh tinh đồng cung thì đa phần có hoạch tài đột phá.
Sao Tham lang gặp Tiệt lộ, có thể làm cho thiên hướng tửu, sắc, tài, khí của Tham lang giảm thiểu, đồng thời làm cho tài nghệ được phát huy. Sao Tham lang nhập miếu đồng cung với Hóa Kị, Địa kiếp, Địa không đa phần là có kỹ thuật chuyên môn, nên yên thân với kỹ nghệ.
Tham lang nhiều dục vọng, lại là sao đào hoa bậc nhất, khi gặp Hóa Kị thì có nhiều ảo tưởng, có phúc mà không biết hưởng, chỉ mơ tưởng đến những điều không thể thành hiện thực, thành ra lại sinh nhiều chuyện thị phi đào hoa. Tham lang tuy thích 4 sát tinh Hỏa Linh Không Kiếp, nhưng lại kị 2 sát tinh Kình dương và Đà la, dễ vì sắc mà gặp họa.
Tham lang gặp Văn xương, Văn khúc đồng cung, do Xương Khúc đều là sao thời hệ, làm cho dục vọng của Tham lang ngày càng thay đổi, tài nghệ chủ về hư mà không thực, chuyện đào sắc thị phi là vô cùng.
Tất cả các sao đều sợ sao Hóa Kị, đặc biệt là ba sao Liêm trinh, Tham lang và Thiên cơ càng sợ sao Hóa Kị. Sao Liêm trinh là sao “tù”, khi Hóa Kị thành bị thắt chặt, không thể mở ra, thân và trái tim bị đóng chặt, hàng ngàn khó khăn, tai họa không nhẹ. Sao Thiên cơ chủ về lo xa, chu đáo, sao Thiên cơ hóa Kị thì mọi việc đều có sai xót, càng lo lắng thì càng có vấn đề. Sao Tham lang là quỷ dục vọng, sao Tham lang Hóa Kị thì dục vọng quá cao nên mọi cố gắng cuối cùng cũng bằng không.
ST
(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tham lang là sao thứ nhất của Bắc Đẩu, trong ngũ hành thuộc dương Mộc, khí của nó thuộc Thủy. Trong Đẩu Số, Tham lang là sao ham muốn vật chất, đồng thời cũng chủ theo đuổi ham muốn dục tình, do đó hóa khí làm “đào hoa”.
Luận đoán về Tham lang, phải xem cấu tạo tinh hệ của nó thiên nặng về ham muốn vật chất, hay thiên nặng về ham muốn dục tình, để làm sự đánh giá toàn thể, mà không thể gọi chung chung là “đào hoa”.
Hệ “Sát Phá Tham” là then chốt của “biến hóa thay đổi”, nên Tham lang cũng chủ về “biến hóa thay đổi”, động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang xuất phát từ sự theo đuổi ham muốn vật chất, hay theo đuổi ham muốn dục tình.
Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo không được tốt, thì lòng ham muốn vật chất tăng nặng, có thể dùng câu nói “quá đáng” để hình dung. Mệnh cách thường thường vì tư lợi bản thân mà dễ dàng thay đổi quan hệ giao tế, cho đến thích trang điểm cho mình.
Cổ nhân nói “Tính của nó thì quyền biến, nhiều mưu kế, hay thừa nước đục thả câu, yêu cái ác một cách bất định, gian trá gạt người” (Chủ kỳ tính tắc cơ quan, tất đa kế giảo, tùy ba trục lãng, ái ác vô định, gian trá man nhân). Đây là nói về bản chất động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang, hoàn toàn khác với sự “biến hóa thay đổi” của Thất sát và Phá quân.
Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo tốt, chủ về người “biến hóa thay đổi” một cách tích cực, thậm chí có thể nhìn thấy đó là biểu hiện của tài nghệ. Sự “biến hóa thay đổi” của Tham lang lúc này chẳng phải là “quá đáng”, mà là thủ pháp khéo ăn khéo ở, tác động trong vô hình, khiến có lợi cho bản thân; hoặc đây là sự “biến hóa thay đổi” nhằm phát huy tài nghệ, khiến bản thân được người ta hoan nghênh.
Cấu tạo tinh hệ Tham lang trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn vật chất ? trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn tình dục ?
Tham lang ở bốn cung Vượng, tức bốn cung độ Tý Ngọ Mão Dậu, có cấu tạo tinh hệ ham muốn vật chất rất nặng. Nhưng phải là người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Mệnh ở Ngọ, người sinh năm Thân Tý Thìn có mệnh ở Tý, người sinh năm Hợi Mão Mùi có mệnh ở Mão, người sinh năm Tị Dậu Sửu có mệnh ở Dậu, vậy mới đúng, nếu không, thì lại là cách “đào hoa phạm chủ” là tổ hợp chủ về ham muốn tình dục.
Ở bốn cung vượng này, hoặc Tham lang độc tọa đối nhau với Tử vi, hoặc hợp thành hệ “Tử vi Tham lang” đồng độ. Cổ nhân nói “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham lang cư vượng, chung thân thử thiết), “Tham lang và Tử vi đồng cung, nếu không có kềm chế, là người vô ích” (Tham lang Tử vi đồng cung, như vô chế thị vi vô ích chi nhân), tức là nói ham muốn vật chất quá nặng, nói “chế” là ám chỉ “bách quan triều củng”.
Tham lang và Vũ khúc đồng cung hoặc đối củng, cũng thiên nặng về ham muốn vật chất. Cổ nhân nói “Tham lang và Vũ khúc đồng cung, là người xu nịnh gian tham, tự tư tự lợi” (Tham lang Vũ khúc đồng cung, vi nhân sưu nịnh gian tham, tự tư tự lợi). Nếu có Lộc tồn đồng độ, thì làm mạnh thêm tính tự tư ích kỷ của Tham lang, nếu Tham lang Hóa Lộc thì ham muốn vật chất càng nặng, cần phải có Hỏa tinh hoặc Linh tinh chế hóa, thì tài năng của Tham lang mới hiển lộ được, nếu không, chỉ là chìm đắm trong ham muốn vật chất.
Hệ “Liêm trinh Tham lang” đồng độ ở Tị hoặc ở Hợi, về cơ bản đây là cấu tạo chủ về ham muốn dục tình, gặp các sao đào hoa hội hợp, từ ham muốn biến thành hành động cụ thể về dục tình, nhu cầu nhục dục rất cao. Cổ nhân nói “Liêm trinh và Tham lang đồng cung, nam thì phóng đãng, nữ thì tham dâm, vì tửu sắc mà chôn thân” (Liêm trinh Tham lang đồng cung, nam lãng đãng, nữ tham dâm, tửu sắc táng thân), “Tham lang và Liêm trinh cùng ở Tị hoặc Hợi, đã không trong sạch mà còn bị hình khắc” (Tham lang Liêm trinh đồng Tị Hợi, bất thuần khiết thả tao hình).
Phàm, Tham lang thủ mệnh, bất kể là độc tọa hay có sao khác đồng độ, mà có Kình dương, Đà la cùng đến, hoặc giao hội ở tam phương, cũng chủ về ham muốn dục tình của nó nặng thêm, trường hợp có Hỏa tinh, Linh tinh cùng đến hoặc giao hội ở tam phương là kế đó. Cổ nhân nói “Tham lang mà thêm sát tinh đồng cung, nữ thì trộm điểm trang còn nam thì trộm như chuột” (Tham lang gia sát đồng hương, nữ thâu hương nhi nam thử thiết), “Kình dương và Đà la giao nhau với nó, ắt làm quỷ phong lưu” (Dương Đà giao tinh, tất tác phong lưu chi quỷ).
Phàm chế hóa Tham lang, phải gặp Thiên hình và sao Không.
Hiểu rõ những phân biệt này, mới biết được trong tình huống nào thì Tham lang ưa gặp các sao Hình Sát, và trong tình huống nào thì Tham lang không ưa gặp các sao Sát Hình; trong tình hình nào thì Tham lang ưa gặp sao Lộc, và trong tình hình nào thì Tham lang không ưa gặp sao Lộc.
Tham lang phân bố trong 12 cung, sẽ đồng độ hoặc đối nhau với ba sao Vũ khúc, Tử vi và Liêm trinh, cho nên ba sao này có mối quan hệ rất sâu sắc với Tham lang.
Ở Tý hoặc ở Ngọ, Tham lang độc tọa, đối củng với Tử vi, ở Mão hoặc ở Dậu thì Tham lang đồng độ với Tử vi. Cho nên ở bốn cung vượng Tý Ngọ Mão Dậu đều cấu tạo thành hệ “Tử vi Tham lang”.
Ở Thìn hoặc ở Tuất, Tham lang độc tọa, đối củng với Vũ khúc, ở Sửu hoặc ở Mùi, thì Tham lang đồng độ với Vũ khúc. Cho nên, ở bốn cung “mộ” Thìn Tuất Sửu Mùi đều cấu tạo thành hệ “Tham lang Vũ khúc”.
Ở Dần hoặc ở Thân, Tham lang độc tọa, đối củng với Liêm trinh, ở Tị hoặc ở Hợi thì Tham lang đồng độ với Liêm trinh. Cho nên, ở bốn cung “sinh” Dần Thân Tị Hợi được cấu tạo thành hệ “Tham lang Liêm trinh”.
Trong Đẩu Số, có hai cách rất nổi tiếng là “Hỏa Tham” và “Linh Tham”, chủ về phát đạt rất nhanh (hoạch phát). Hai cách này thuộc hệ “Tham lang Vũ khúc” là tối cao, còn ở các cung khác là kế đó.
Ngoài ra còn có cách “Đào hoa phạm chủ”, trường hợp “Tham lang Tử vi” đồng độ là chính cách, còn trường hợp “Tham lang Tử vi” đối củng là kế đó.
Các cách này, trừ trường hợp “Tham lang tọa cung Vượng” chủ về ham muốn vật chất, các tình hình khác đều thuộc về ham muốn dục tình, thảy đều phải gặp Thiên hình và sao Không mới là cách “thanh bạch”.
Ngoài những tình huống trên, Tham lang còn có một số cấu tạo đặc thù, như:
– Tham lang ở Ngọ, gọi là “Mộc hỏa sáng thông nhau” (Mộc hỏa thông minh).
– Tham lang ở Thân, gọi là “Mộc bị Kim khống chế” (Mộc phùng Kim chế)
– Tham lang ở Tý có Kình dương đồng độ, hoặc ở Hợi có Đà la đồng độ, gọi là “Phiếm thủy đào hoa” (Phiếm thủy đào hoa).
– Tham lang ở Dần có Đà la đồng độ, hoặc hội với hệ “Thiên hình Kình dương”, gọi là “Cầm gậy phong lưu” (Phong lưu thái trượng).
Nói về tính ưa ghét, Tham lang rất ghét Văn xương, Văn khúc. Bởi vì bản thân Tham lang đã thông minh tài trí, nếu gặp thêm Văn xương Văn khúc, thì biến thành tính không thiết thực, sốc nổi bốc đồng, Tham lang không ưa Hóa Kị cũng vì lý do này, cổ nhân nói “Có Văn xương Văn khúc đồng độ, ắt nhiều giả mà ít thực” (Xương Khúc đồng độ, tất đa hư nhi thiểu thực), thậm chí nói “Văn xương và Tham lang ở mệnh, thân tan xương nát” (Xương Tham cư mệnh, phấn thân toát cốt).
Phàm luận đoán về sao Tham lang thủ mệnh, cần đồng thời xem kèm cung Thân. Tham lang thủ cung Mệnh còn Thất sát thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; hoặc giả Tham lang thủ cung Mệnh còn Phá quân thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; Thảy, đều có cấu tạo không cát tường, chủ về ưa thích riệu chè cờ bạc trai gái, hoặc hiếu sắc, đều là tổ hợp tinh hệ có cấu tạo thiên nặng về ham muốn dục tình lẫn ham muốn vật chất. Nếu không gặp các sao Không, sao Hình, mà lại gặp Văn xương Văn khúc, thì tình hình càng đúng.
ST
(Tuvivietnam – siêu tầm)
Chương 20 X
PHẦN MỘ
坟墓
MỒ MẢ
葬埋之理乃先王之所定,
风水之因特后世之所兴. 虽为送尸而然,
祸福吉凶攸系. 故坟占三代, 穴有定爻.
一世二世, 子孙出王侯将相之英;
三世四世, 后世主富贵繁华之茂.
绝嗣无人, 端为世居五六;
为商外出, 只因世在游魂.
八纯凶兆, 归魂亦作凶推.
吉兆相生相合, 凶兆相克相冲 .
Táng mai chi lý nãi tiên vương chi sở định,
Phong thủy chi nhân đặc hậu thế chi sở hưng.
Tuy vi tống thi nhi nhiên, họa phúc cát hung du hệ.
Cố phần chiêm tam đại, huyệt hữu định hào.
Nhất thế nhị thế, tử tôn xuất vương hầu tương tương chi anh
Tam thế tứ thế, hậu thế chủ phú quý phồn hoa chi mậu.
Tuyệt tự vô nhân, đoan vi thế cư ngũ lục;
Vi thương ngoại xuất, chích nhân thế tại du hồn.
Bát thuần hung triệu, quy hồn diệc tác hung thôi.
Cát triệu tương sinh tương hợp, hung triệu tương khắc tương trùng
Nguyên tắc mai táng, được định ra bởi tiên vương ;
Quy luật phong thủy, được hưng khởi nhờ hậu thế,
Tuy là tống tiễn thi hài ; phúc đức cát hung bởi đó.
Nên xem bia mộ ba đời, huyệt có hào định.
Nhất thế, Nhị Thế con cháu đều nên khanh tướng, vương hầu :
Tam Thế, Tứ Thế, hậu thế chủ về vinh hoa phú quý.
Tuyệt tự không người, là do Thế hào Ngũ Lục ;
Ra ngoài buôn bán, chỉ vì Thế ở du hồn ;
Bát thuần là hung hại ; quy hồn cũng là hung hại .
Điềm cát tương sinh tương hợp ; Điềm hung tương khắc tương xung.

Quẻ nội là sơn đầu, quẻ Ngoại là triều hướng, Thế hào là huyệt tràng. Thế lâm hào sơ, hào nhị huyệt tràng, là được sinh khí sơn đầu , đời sau được vương hầu khanh tướng chi anh; Thế huyệt tràng lâm hào tam hào tứ hào, là được dư khí sơn đầu, việc đòi sau cực kỳ phú quý phồn hoa; Thế lâm hao hào ngũ lục, là sinh khí sơn đầu đã bỏ đi, sơn hình địa thế không phù hợp, chủ tuyệt tự. Du hồn hiếu động là thương buôn, quy hồn khí trệ không tốt . Thế đắc tương sinh tương hợp, tự nhiên vòng quanh đa tình; nếu gặp tương khắc tương xung, tự nhiên cát bay nước quay lưng chảy.
1. 穴骑龙, 龙入穴, 穴嫡龙真
Huyệt kị long, long nhập huyệt, huyệt đích long chân.
Huyệt cưỡi long, long nhập huyệt, huyệt tốt long thực ;
Lấynạp âm bổn mạng người chết là huyệt, hoặc Thế lâm huyệt hào, hoặc Thế huyệt tương sinh tương hợp, hoặc động hào nhật nguyệt sinh hợp Thế hào huyệt hào, gọi là “Huyệt cỡi rồng, long nhập huyệt, huyệt đích long chân” .
2. 山带水, 水连山, 山环水抱
Sơn đái thủy, thủy liên sơn, sơn hoàn thủy bão
Sơn mang thủy, thủy liền sơn, núi bọc sông ôm.
Nội cung là Sơn đầu , thủy là hào Hợi và Tí . Như Hợi Tí thủy lâm tài phúc cát thần tại nội cung, tương sinh tương hợp với Thế hào, hoặc tương sinh tương hợp cùng huyệt hào, gọi là sơn hoàn thủy bão.
3. 交重逢旺气, 闻鸡鸣犬吠之声
Giao trùng phùng vượng khí, Văn kê minh khuyển phệ chi thanh .
Phát động gặp vượng khí, thường nghe thấy tiếng gà gáy chó sủa.
Thế hào vượng tướng phát động, lâm thủy hỏa, là gần dân cư, nên nói “thường nghe tiếng gà gáy chó sủa ” .
4. 世应拱穴爻, 有虎踞龙蟠之势
Thế ứng củng huyệt hào, hữu hổ cứ long bàn chi thế .
Thế Ứng giúp huyệt vị, có được thế rồng cuộn hổ ngồi.
Thế ứng sinh phù củng phù hợp huyệt hào, hoặc long hổ sinh hợp ở huyệt hào, hoặc huyệt cư ở giữa thế ứng, hoặc huyệt nhận Thế ứng long hổ phù củng, đều là thế được hổ cứ long bàn.
5. 三合更兼六合, 聚气藏风
Tam hợp canh kiêm lục hợp, tụ khí tàng phong .
Tam hợp lại kiêm Lục hợp, tụ khí tàng phong ;
Thế là chủ sơn, ứng là khách sơn, Thế ứng và huyệt hào tam hợp thành cục, hoặc được lục hợp quẻ, hoặc hai hào long hổ cùng huyệt hào thành tam hợp cục , đều là nơi tụ khí tàng phong.

6. 来山番作朝山, 回头顾祖
Lai sơn phiên tác triêu sơn, hồi đầu cố tổ.
Núi đến đổi thành núi chầu, ngoảnh đầu nhìn Tổ
Lai sơn là hào thế, quẻ nội ; triều sơn là hào ứng, quẻ Ngoại . Như hào lâm Thế và hào ứng đồng, gọi là hồi đầu cố tổ.
7. 死绝之鬼边有荒坟, 长生之爻中有寿穴
Tử tuyệt chi quỷ, biên hữu hoang phần, trường sinh chi hào trung hữu thọ huyệt .
Quỷ tại Tử Tuyệt bên có mộ phần ; Hào gặp trường sinh giữa có huyệt thọ.
Trong quẻ hào quan hưu tù tử tuyệt, biết cạnh huyệt bàng có hoang mộ cổ lăng. Như quỷ hào gặp trường sinh ở nhật, hoặc hóa trường sinh , biết có sinh phần.
8. 合处与应爻隔断, 内外之向不同
Hợp xử dữ ứng hào cách đoạn, nội ngoại chi hướng bất đồng.
Chỗ hợp và hào Ứng cách đoạn , trong ngoài phương hướng bất đồng ;
Nạp âm bản mạng người chết là huyệt, mộ của nạp âm là mộ,địa chi hợp với nạp âm là hướng. Giả như Kỷ Mùi nạp âm thuộc thổ, chính là lấy thổ là huyệt; thổ kho ở Thìn, chính là lấy Thìn là mộ; Ngọ hợp Mùi, nên lấy Ngọ là hướng; Thìn hợp Dậu, Dậu cũng là hướng. Như Thìn thân nhị nhật, hoặc ứng lâm Thìn thân, gọi là ngăn cách Ngọ. Hoặc Mùi Hợi nhị nhật, hoặc ứng lâm Mùi Hợi, gọi là ngăn cách Dậu. Khi cùng kim Tỉnh mộ cửa chi hướng không có cùng.
9. 穴中为世日冲开, 左右之穴相反
Huyệt trung vi thế nhật xung khai, tả hữu chi huyệt tương phản.
Trong huyệt bị Thế, nhật xung khai, phải trái huyệt vị tương phản.
Ví dụ huyệt lâm hai hào Tỵ Mùi , Thế đồng thời nhật thần lâm Ngọ hào, Ngọ ở giữa Tỵ Mùi , gọi là phân khai Tỵ Mùi huyệt, biết trái phải chi không tương phản.
10. 穴道得山形之正, 重逢本象之生
Huyệt đạo đắc sơn hình chi chính, trọng phùng bản tượng chi sinh.
Huyệt đạo được chỗ chính của hình núi , là được bản tượng tương sinh ;
Huyệt chính là nạp âm của bản mạng người chết, lâm nội cung Thế hào, đều được sơn hình chi chính. Như huyệt hào lâm thủy gặp nội cung thuộc kim, hoặc thủy hào ở cung nội kim, đều gọi là được bản tượng tương sinh.
11. 世应把山水之关, 宜见有情之合
Thế ứng bả sơn thủy chi quan, nghi kiến hữu tình chi hợp .
Thế Ứng nắm chỗ yếu điểm của núi sông, cần gặp chỗ hợp hữu tình.
Hào sáu là hào Thủy khẩu , Thế ứng lâm ở đó, nếu đới hợp, tất thủy khẩu được khóa, hoặc hào sáu và hào Thế tương hợp cũng vậy.
12. 坐山有气, 怕穴逢空废之爻
Tọa sơn hữu khí, phạ huyệt phùng không phế chi hào.
Tọa sơn hữu khí, sợ huyệt gặp phải hào không phế;
Giả như Khảm sơn thuộc thủy, Khảm là sơn đầu thì Khảm là nội cung ; được huyệt phùng hào Thân, mà Khảm trường sinh ở Thân, sợ nhất thân hào phùng tuần không và nguyệt phá .
13. 本命逢生, 忌运入刑伤之地.
Bản mệnh phùng sinh, kị vận nhập hình thương chi địa.
Bản mệnh gặp sinh, kị vận gặp phải chốn hình thương.
Phàm chiêm sinh mộ, muốn xem tự mình tuổi thọ, cũng đem bản thân niên mệnh nạp âm là huyệt. Vận chính là huyệt hào, kị huyệt hào và nội cung cùng quẻ hào hình khắc. Như huyệt hào đắc sinh có khí là cát , nếu gặp tuần không, mà người chết kị không, người sống không sợ không, ngược lại là cát .

14. 青龙摆尾, 就中逢滞气子孙; 白虎昂头, 落处生身父母.
Thanh long bãi vĩ, tựu trung phùng trệ khí tử tôn;
Bạch hổ ngang đầu, lạc xử sinh thân phụ mẫu .
Thanh long quẫy đuôi , gặp được Tử tôn có khí ;
Bạch hổ ngẩng đầu, giáng lâm phụ mẫu sinh thân.
Được Thanh Long Tử tôn có khí sinh huyệt, gọi là vẫy đuôi đa tình; như Bạch Hổ lâm Phụ mẫu sinh huyệt, gọi là Bạch hổ ngẩng đầu có thế.
15. 后来龙余气未尽, 有玄武吐舌之形; 前朝案动爻逢冲, 为朱雀开口之象 .
Hậu lai long dư khí vị tẫn, hữu huyền vũ thổ thiệt chi hình;
Tiền triêu án động hào phùng trùng, vi chu tước khai khẩu chi tượng,
Lai long phía sau dư khí chưa tận, có hình huyền vũ thè lưỡi ;
Núi chầu phía trước hào động gặp xung, là tượng chu tước mở miệng.
Nhật thần nhập huyệt lâm Huyền vũ, là dư khí chưa hết, có hình thể le lưỡi ; phía sau là Huyền vũ . Thế tiền một vị là án, được nhật thần nguyệt kiến xung phá, Chu Tước lâm ở đó, có khai khẩu chi tượng; phía trước là Chu Tước
16. 世坐勾陈之土局, 破坎田园; 应临玄武之水爻, 沟坑池井 .
Thế tọa câu trần chi thổ cục, phá khảm điền viên;
Ứng lâm huyền vũ chi thủy hào, câu khanh trì tỉnh .
Thế tại Thổ cục Câu trần, bờ bãi ruộng vườn ;
Ứng lâm hào Thủy Huyền vũ, ngòi rãnh ao giếng.
Thế ở huyệt hào, đồng thời lâm Câu trần trị Thìn tuất Sửu Mùi thổ cục, hoặc được khắc xung, là chỗ ruộng vườn bằng phẳng . Ứng lâm Hợi Tí thủy hào, gia lâm Huyền vũ hội thủy cục, là chỗ mương rãnh ao giếng.
17. 白虎在破耗之位, 古墓坟茔; 螣蛇临父母之爻, 交加产业 .
Bạch hổ tại phá háo chi vị, cổ mộ phần oanh;
Đằng xà lâm phụ mẫu chi hào, giao gia sản nghiệp .
Bạch hổ tại chỗ phá không, huyệt nơi mộ cổ ;
Đằng xà lâm hào phụ mẫu, sản nghiệp chất chồng.
Nếu Bạch Hổ lại thêm nguyệt phá trì Thế, trì huyệt, trì Thân, biết là mả cũ, tha ma ; ở quẻ quy hồn hoặc quỷ bay vào huyệt, là đất hoàn hồn. Đằng xà là thần tranh chấp, Phụ mẫu là công văn hợp đồng, không chôn trùng bán lặp, cũng là tách nhập sản nghiệp.
18. 勾陈土鬼塚墓累累 .
Câu trần thổ quỷ trủng mộ luy luy ,
Quỷ Thổ tại Câu trần, mộ phần trùng trùng ;
Câu trần lâm hào Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi thổ quỷ, phùng tử tuyệt, là cổ mộ du hồn. Quỷ động phùng xung không, bên cạnh nơi mộ cải táng; nhật thần đi khắc Bạch Hổ huyệt hào, có mồ mả bại hoại suy sụp; Thanh Long lâm thổ quỷ, chủ có mả mới; nếu quẻ quy hồn hoặc thổ quỷ bay vào huyệt hào, là nơi có mộ cải táng.
19. 玄武金神, 岩泉滴滴 —
Huyền vũ kim thần, nham tuyền tích tích .
Thần Kim tại Huyền vũ, suối nước giọt giọt.
Kim là thạch, Huyền vũ là thủy, chủ nước suối đầm đìa tự chảy ra; lâm huyệt hào, hoặc phục dưới huyệt hào, hoặc Bạch Hổ lâm kim, đều chủ có đá là có nước.

20. 青龙发动临子孙, 决主新迁; 朱雀飞来带官鬼, 必然争讼 .
Thanh long phát động lâm tử tôn, quyết chủ tân thiên;
Chu tước phi lai đái quan quỷ, tất nhiên tranh tụng .
Thanh long phát động lâm Tử tôn., chủ về thiên di ;
Chu tước bay đến hào quan quỷ, ắt sẽ tranh chấp
Nếu Thanh Long phát động, hoặc gặp Tử tôn, tất chủ chuyển chỗ ở; Chu Tước Quan quỷ đồng thời nhật thần động hào bay vào huyệt, là tranh tụng đất đai.
21. 应爻加木临玄武, 前有溪桥; 日辰冲土镇螣蛇, 边通道路
Ứng hào gia mộc lâm huyền vũ, tiền hữu khê kiều;
Nhật thần trùng thổ trấn đằng xà, biên thông đạo lộ.
Ứng hào tại Mộc lâm Huyền vũ, trước có cây cầu.
Nhật thần xung Thổ trấn Đằng xà, bên canh đường đi.
Nếu ứng hào đồng thời mộc hào lâm Huyền vũ, chủ trước mộ chắc chắn có cầu qua suối. Đằng xà là lộ, lâm Thìn tuất Sửu Mùi chi hào, có nhật thần động hào xung khắc, chủ gần đường. Đằng xà thổ hào bay vào huyệt hào, hoặc tương xung huyệt hào, là có đường xuyên mộ phần..
22. 朱雀火发动爻, 厨庭炊衅之旁; 青龙财库相生, 店肆仓库之畔 .
Chu tước hỏa phát động hào, trù đình xuy hấn chi bàng;
Thanh long tài khố tương sinh, điếm tứ thương khố chi bạn.
Chu tước tại Hỏa phát động, ở bên phòng bếp nhà ăn ;
Thanh long Tài khố tương sinh, nằm cạnh cửa hàng kho bãi.
Chu Tước hỏa hào phát động lâm tài, tất gần chỗ nhà ăn, lò bếp. Thanh Long lâm tứ mộ, phùng tài tương sinh có khí, tất gần cửa hàng tửu quán; nếu gặp Canh Thân Quý Dậu Đinh Dậu kim, là chỗ nhà kho..
23. 玄武世龙入穴, 暗地偷埋; 勾陈土动落空, 依山浅葬 .
Huyền vũ thế long nhập huyệt, ám địa thâu mai;
Câu trần thổ động lạc không, y sơn thiển táng .
Huyền vũ lâm Thế nhập huyệt, lén lút chôn cất ;
Câu trần Thổ động gặp không, chôn nông bên non.
Huyền vũ Thế hào đồng thời nhật thần động bay vào huyệt, chủ lén chôn trộm táng, hoặc bí mật đưa tang; Câu trần thổ động bị không , tất dựa vào núi. đào huyệt nông mai táng .

24. 日合鬼爻有气, 近神庙社坛之旁 .
Nhật hợp quỷ hào hữu khí, cận thần miếu xã đàn chi bàng .
Nhật hợp hào Quỷ hữu khí, nằm bên miếu mạo đàn thờ ;
Quỷ vượng có khí, hoặc lâm Thanh Long quý thần và nhật thần tương hợp, chủ gần thần miếu hoặc đàn tế cổ.
25. 动临华盖逢空, 傍佛塔琳宫之所 .
Động lâm hoa cái phùng không, bàng phật tháp lâm cung chi sở .
Động gặp Hoa cái lâm không, ở cạnh chùa Phật nhà thợ.
Hoa Cái huyệt hào đồng thời quỷ động phùng không, thừa vượng có khí, chủ gần chùa chiền, bằng không thì là nhà thợ khéo tay, có tiếng tăm.
26. 应逼左右之山欺穴, 龙虎磕头 —
Thế ứng bức tả hữu chi sơn khi huyệt, long hổ khái đầu .
Thế Ứng gặp núi tả núi hữu khắc tuyệt, Long Hổ dập đầu ;
Thế ứng phùng Thanh Long Thìn hào, Bạch Hổ Dần hào, là long hổ chạm trán, khắc huyệt tắc hung.
27. 交重并旬内之水伤身, 沟河插脚 .
Giao trọng tịnh tuần nội chi thủy thương thân, câu hà sáp cước .
Phát động gặp Thủy trong tuần hại thân (thế), sông ngòi đâm xen.
Thủy hào động ở nhật thần tuần trung, ở trước huyệt , có nước sông suối sát chân huyệt.
28. 生生福合三传上, 百子千孙; 重重墓在一爻中, 三坟四穴 .
Sinh sinh phúc hợp tam truyện thượng, bách tử thiên tôn;
Trùng trùng mộ tại nhất hào trung, tam phần tứ huyệt .
Phúc sinh hợp tại tuế, nguyệt, nhật cháu đống con đàn ;
Mộ lớp lớp cùng trong một hào, ba mộ bốn huyệt.
Tam truyện chính là năm, tháng, ngày… tam kiến . Hoặc phúc đức ở huyệt hào, thêm ở tam truyện tương sinh tương hợp, chủ con đàn cháu đống. Lục thân, Thế ứng, nhật thần, động hào trùng điệp cùng mộ ở một hào trong, là có tam mộ tứ huyệt ; ứng hào quỷ hào cùng nhập mộ trong một hào, chủ có người ngoài cùng táng chung.
29. 神不入墓, 游魂之鬼逢空;
鬼已归山, 本命之爻逢合 .
Thần bất nhập mộ, du hồn chi quỷ phùng không;
Quỷ dĩ quy sơn, bản mệnh chi hào phùng hợp .
Thân không nhập mộ, Quỷ tại Du hồn gặp không ;
Quỷ đã về núi, hào thuộc bản mệnh gặp hợp.
Vong mệnh đồng thời quỷ hào phùng không, huyệt hào hóa quỷ phùng không cùng lâm quẻ du hồn , đều chủ quỷ không vào mộ du hồn. Thế cư quẻ ngoại huyệt trống không mộ, là không nơi mai táng hoặc táng tha hương. Nếu đới hung thần khắc quái thân , tất là ác tử. Địa chi người chết, huyệt hào tương sinh tương hợp, hoặc quỷ hào phùng mộ, là quỷ đã về núi. Nếu tại quẻ ngoại ứng hào, cũng biết là táng bồi thêm .
30. 日带应爻劫煞入穴, 劫塚开棺; 用并世象动爻克应, 侵入作穴 .
Nhật đái ứng hào kiếp sát nhập huyệt, kiếp trủng khai quan;
Dụng tịnh thế tượng động hào khắc ứng, xâm nhập tác huyệt .
Nhật cùng hào Ứng kiếp sát nhập huyệt, cướp mộ bật quan tài ;
Dụng cùng hào Thế hào động khắc Ứng, xâm chiếm làm huyệt mộ.
Nhật thần đồng thời Huyền vũ, ứng hào đới sát bay vào huyệt, hoặc động hào phá huyệt phá mộ, chủ phá mộ bung quan tài; xung khắc vong mệnh, là vất bỏ thi hài. Thế ứng đồng thời nhật thần, sát, động phá huyệt hào, nếu Thế hào nhật thần động hào khắc ứng, chủ ta xâm lấn mồ mả làm huyệt; ứng hào đồng nhật thần khắc huyệt, chủ người khác xâm nhập mồ mả ta chôn.

31. 客土动而墓爻合, 担土为坟; 朝山尊而穴法空, 贪峰失穴 .
Khách thổ động nhi mộ hào hợp, đam thổ vi phần;
Triêu sơn tôn nhi huyệt pháp không, tham phong thất huyệt .
Đất khách động mà hào mộ hợp, gánh đất đắp mộ ;
Núi chầu cao mà phép huyệt không, tham núi mất huyệt.
Khách thổ, là thổ ở hào Ứng, thổ ở quẻ ngoại ; cùng huyệt hào mộ hào phát động tương hợp tương sinh, là gánh đất đắp làm mộ phần, hoặc đất bên cạnh là tả hữu tí. Triều sơn ở trường sinh quý nhân vị, chủ phía trước có quý ngọn núi cao đẹp; nếu huyệt không, là tương tham ngọn núi mất huyệt, nếu không không, chính là triều sơn cao đẹp.
32. 子孙空在日辰之后, 穴在平阳; 兄弟爻落世应之间, 坟迁两界 .
Tử tôn không tại nhật thần chi hậu, huyệt tại bình dương;
Huynh đệ hào lạc thế ứng chi gian, phần thiên lưỡng giới.
Tử tôn gặp không sau nhật thần , huyệt tại đất bằng;
Huynh đệ nằm giữa hào Thế Ứng, mộ dời hai chốn.
Tử tôn ở phía sau nhật thần phùng không, hoặc Câu trần lâm Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hào, hoặc hào minh đường rộng lớn, thường là đất bằng phẳng làm huyệt. Thế ứng đồng lâm huyệt hào, thêm lâm Huynh đệ, hoặc trì tại hào giữa thế ứng, đều chủ mộ phần di chuyển hai nơi, nếu ở tiền hậu nhật thần, lưỡng gian chi hào cũng thế vậy..
33. 日辰与动爻破穴破墓, 定合重埋; 世应并穴道冲尸冲棺, 当行改葬 .
Nhật thần dữ động hào phá huyệt phá mộ, định hợp trọng mai;
Thế ứng tịnh huyệt đạo trùng thi trùng quan, đương hành cải táng .
Nhật thần và hào động phá huyệt phá mộ, ắt gặp mộ trùng ;
Thế Ứng cùng huyệt vị xung thi xung quan, phải nên cải táng.
Nhật thần phát động xung phá mộ hào, Thế ứng xung thi xung quan, hoặc phụ hóa phụ, huynh hóa huynh, quỷ hóa quỷ, tài hóa tài, đều chủ chôn lại cải táng. Lại nói “Kim là thi thể, mộc là quan tài, thổ là mộ cần nhìn kỹ” ” .
34. 重交生穴, 经营非一日之功; 龙德临财, 迁造为万年之计 —
Trùng giao sinh huyệt, kinh doanh phi nhất nhật chi công;
Long đức lâm tài, thiên tạo vi vạn niên chi kế .
Hào động sinh huyệt, xây dựng không phải việc một ngày ;
Long đức lâm tài, thiên tạo là kế sách ngàn năm.
Giao trùng hai hào phát động, đồng thời nhật thần đều sinh huyệt hào, chủ gia công dụng sự không phải một ngày mà thành. Mừng long lâm tài hào, Tử tôn sinh vượng có khí, tương sinh tương hợp với huyệt, trời đã tạo thành mộ phần tốt đẹp từ lâu.
35. 应飞入穴, 必葬他人, 煞动临爻, 凶逢小鬼 .
Ứng phi nhập huyệt, tất táng tha nhân,
Sát động lâm hào, hung phùng tiểu quỷ .
Ứng phi nhập huyệt, ắt chôn người khác ;
Sát động tại hào, hung gặp tiểu quỷ.
Như ứng hào bay vào huyệt hào, chủ người ngoài cùng táng, hoặc là mộ cũ người khác bên cạnh. Hung thần phạm vong nhân bản mạng, hoặc vong nhân bản mạng lâm tử tuyệt, chủ vong nhân chết dữ.

36. 犯天地六空亡之煞, 骸骨不明; 穴遇三传刑刃之空, 尸首损伤 .
Phạm thiên địa lục không vong chi sát, hài cốt bất minh;
Huyệt ngộ tam truyện hình nhận chi không, thi thủ tổn thương .
Phạm phải sát không vong của trời đất, hài cốt thất lạc ;
Huyệt tại hình, Nhận tại tuế, nguyệt, nhật ; đầu lâu tổn thương.
Lục không, chính là lục giáp tuần không . Tam truyện, là thái tuế, nguyệt kiến, nhật thần, tam hình Dương Nhận. Giả như ngày Kỷ Mão chiếm được Khôn quẻ, người chết tuổi Giáp Tí, huyệt lâm thượng lục Quý Dậu kim, là giáp tuất tuần trung không kim, đồng thời Giáp Dần tuần chi không, Giáp Tí tam truyện đới hình nhận hung thần hại khắc mộc mệnh huyệt hào, hoặc có ở nhật thần tuần chi không vong, chủ hài cốt không rõ, thi thể bị tổn hại.
37. 逢冲逢克怕犯凶神, 相合相生真为吉兆 .
Phùng xu ng phùng khắc phạ phạm hung thần,
Tương hợp tương sinh chân vi cát triệu .
Gặp xung gặp khắc, sợ gặp hung thần ;
Tương hợp tương sinh, thực là điềm tốt.
Dụng hào phùng hung thần tương khắc, tương xung, tương hình, là hung ác hiện ra; Thanh Long phúc đức là cát thần, sinh hợp củng phù, là cát tường hiện ra..
38. 爻生之子孙逢官逢贵, 临三传必作官人 .
Hào sinh chi tử tôn phùng quan phùng quý, lâm tam truyện tất tác quan nhân .
Tử tôn trong quẻ gặp Quan gặp Quý gặp tam truyền; ắt được làm quan;
Huyệt sinh chi hào lâm Tử tôn, phùng quan tinh Quý Nhân, lâm tam truyện sinh bản mạng tác Ấn Thụ, chủ quan chức chi quang vinh.
39. 穴中之象数合禄合财, 若两金当为财主 .
Huyệt trung chi tượng sổ hợp lộc hợp tài, nhược lưỡng kim đương vi tài chủ .
Tượng số trong huyệt hợp lộc hơp tài, được hai Kim sẽ là tài chủ.
Huyệt lâm vượng khí, có Tử tôn tài quan hào ở dưới hào năm, nếu Tử tôn tương sinh tương hợp, như tài lộc lưỡng toàn, đương tích kim bảo chi nhân, là con của giới phú gia.
40. 游魂福德空冲, 主流荡逃移; 恶鬼凶神变动, 见死亡凶横 .
Du hồn phúc đức không trùng, chủ lưu đãng đào di;
Ác quỷ hung thần biến động, kiến tử vong hung hoành .
Du hồn Phúc đức không xung, chủ về di dời thiên chuyển ;
Ác quỷ hung thần biến động, gặp tử vong tai ương,
Tử tôn phùng không xung ở quẻ du hồn, là người đi trốn tránh; không vong chủ phiêu bạt không trở về quê hương; Bạch Hổ Đằng xà hung thần đồng thời quỷ khắc thân thế, chủ gặp tử vong hung ác.
41. 损父母子孙之财鬼, 鳏寡孤独 .
Tổn phụ mẫu tử tôn chi tài quỷ, quan quả cô độc .
Quỷ Tài hại Phụ mẫu, Tử tôn, mô côi góa bụa ;
Trong quẻ hào phụ bị tổn thương và không hiện trên quẻ, con cháu mồ côi; Tử tôn bị tổn thương và không hiện trên quẻ, không người nối dõi; tài hào bị thương và không hiện trên quẻ, ra người không vợ; quỷ hào thụ thương và không hiện trên quẻ, ra quả phụ. Phải chỉ dẫn minh bạch, không được nói chung chung
.
42. 叠刃刑鬼破之劫亡, 疲癃残疾 .
Điệp nhận hình quỷ phá chi kiếp vong, bì lung tàn tật .
Kiếp vong kèm Nhận hình Quỷ phá, tàn tật ốm đau.
Quỷ lâm nguyệt phá, và tam hình lục hại cùng khắc dụng hào. Cung Kiền chủ bệnh tật ở đầu, thở dốc, ho, ruột non chi, cung Khảm bệnh hai lỗ tai, tiểu tiện, khí huyết, đau lưng, sườn tâm , Cấn cung chủ bênh tật viêm mũi, ngón tay, chân , Chấn cung chủ bệnh tật cốt, chân, gan, cẳng, tam tiêu, điên cuồng , Tốn cung chủ bệnh tật trán, tóc mai, đầu gối, huyết khí, phong tà, cung Ly chủ bệnh tật tỳ vị, ung độc, mắt, đau lòng, chứng nhiệt, thang hỏa, Khôn cung chủ bệnh tật bụng, nôn mửa dữ máu tả lỵ, hoàng sưng, Đoài cung chủ bệnh tật mồm miệng thiếu, môi khấm, da . Kim quỷ lao thấu, mộc quỷ phong tà, hỏa quỷ chứng nhiệt, thủy quỷ thổ tiết, thổ quỷ hoàng sưng chi bệnh tật, trung gian bất khả nói hết, y theo lý nói rõ tìm ra..
43. 玄武遇咸池之劫煞, 既盗且娼; 青龙临华盖之空亡, 非僧则道 .
Huyền vũ ngộ hàm trì chi kiếp sát, ký đạo thả xướng;
Thanh long lâm hoa cái chi không vong, phi tăng tắc đạo.
Huyền vũ gặp Kiếp sát tại Hàm trì, trộm cướp gian dâm ;
Thanh long gặp không vong Hoa cái, không sư thì đạo.
Huyền vũ tuế phá nguyệt phá cộng lâm Thế hào, ở Khảm ra kẻ gian trộm, hoặc bởi vì trộm dẫn đến tử vong; Huyền vũ hàm trì đới hợp, chủ gái đọa phong trần, dâm bôn bại hóa; nếu Thế hào đồng thời thai thần bị khắc, chủ có tai nạn sẩy thai khó sinh. Thanh Long Hoa Cái cô thần trị không vong có khí, là các loại tăng đạo.

44. 月卦勾陈之土鬼, 瘟疫相侵; 阳宫朱雀之兄神, 火灾烦数.
Nguyệt quái câu trần chi thổ quỷ, ôn dịch tương xâm;
Dương cung chu tước chi huynh thần, hỏa tai phiền sổ .
Quẻ âm Quỷ thổ tại Câu trần, dịch bệnh xâm nhập ;
Cung Dương Huynh đệ tại Chu tước, hỏa hoạn triền miên.
Nguyệt quái là nguyệt tướng Câu trần thổ quỷ lâm Thế thân hào, chủ tai vạ ôn dịch tương xâm ; Chu Tước phạ phùng hỏa, thêm ở hỏa vị, chủ có hoả hoạn.
45. 父母临子孙之绝气, 后嗣伶仃; 福德临兄弟之旺宫, 假枝兴旺 .
Phụ mẫu lâm Tử tôn chi tuyệt khí, hậu tự linh đinh;
Phúc đức lâm Huynh đệ chi vượng cung, giả chi thịnh vượng.
Phụ mẫu tại Tử tôn tuyệt khí, con cái hiếm hoi;
Phúc đức tại Huynh đệ vượng tướng con nuôi nối nghiệp.
Thường thì Phụ mẫu là cô sát, nếu như Tử tôn hào thuộc hỏa, hỏa tuyệt ở Hợi, nếu Phụ mẫu lâm Hợi hào động, chủ hậu tự linh đinh; nếu Tử tôn lâm vong mệnh, hoặc Huynh đệ hào lâm vượng tướng, từ giả cung đến, cho nên trở thành thịnh vượng .
46. 动并旬中之凶煞, 立见灾危; 穴临日下之进神, 当臻吉庆 .
Động tịnh tuần trung chi hung sát, lập kiến tai nguy;
Huyệt lâm nhật hạ chi tiến thần, đương trăn cát khánh .
Động tại hung sát trong tuần, thấy liền tai họa.
Huyệt gặp tiến thần trước mắt, sẽ gặp cát tường.
Sát là kiếp nhận, hình hại, nguyệt phá vv.. Sát ở nhật thần tuần trung phát động, nếu hình xung khắc hại thân mệnh, chủ gặp tai họa cướp của giết người. Huyệt gặp nhật thần tiến thần trị tài phúc, chủ được may mắn an khang, như ngày Mậu Dần chiêm, đắc Kỷ Mão huyệt hào phùng long đức tài phúc là may mắn.
47. 看已形知既往, 察过去知未来 .
Khán dĩ hình tri ký vãng, sát quá khứ tri vị lai .
Thấy hiện tại như quá khứ, nhìn quá khứ như tương lai.
Xem dĩ vãng có thể thấy hình thế đất ; xét cát hung quá khứ, vị lai hiện ra, tất cả đều nghiệm đúng. .
48. 事与世应互同, 可见卦中之体用 .
Sự dữ thế ứng hỗ đồng, khả kiến quái trung chi thể dụng.
Việc tương ứng với Thế, Ứng ; thấy thể, dụng ở trong quẻ.
Thế làm thể, ứng là dụng, xem thể dụng phát động, nối liền ở sự thể làm sao, mới khá phán đoán suy luận.
49. 动与日辰相应, 方知爻内吉凶 .
Động dữ nhật thần tương ứng, phương tri hào nội cát hung .
Động mà tương ứng với nhật thần ; Mới biết cát hung hào quẻ.
Động hào dữ nhật thần lẫn nhau phó ứng là sự việc cát hung hối lận có thể thấy được. Không được câu nệ cố chấp mà đoạn ý thánh nhân ; không thể phát minh, hiền giả càng nên cân nhắc đắn đo, thì không có sai lầm vậy.
Hết chương Phần mộ.
PS : Bài viết được siêu tầm lại bởi Maphuong trên tvls