31 C
Hanoi
Thứ Hai, 8 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 38

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 69

0

Chương 26

HÀNH NHÂN

行 人

NGƯỜI ĐI ĐƯỜNG

(Tuvivietnam – siêu tầm)

1. 人 為 利 名 忘 却 故 鄉 生 處 樂 家 無 音 信
全 憑 周 易 卦 中 推 要 決 歸 期 但 尋 主 象
Nhân vi lợi danh vong khước cố hương sinh xứ lạc gia vô âm tín
Toàn bằng Chu Dịch quái trung suy yếu quyết qui kỳ đãn tầm chủ tượng
Người vì danh lợi quên mất cố hương, ham vui làm nhà không tin tức,
Toàn cậy quẻ Chu Dịch suy đoán, định ngày về phải tìm Chủ tượng.
Chủ tượng là Dụng thần. Xem cho quan chức lấy hào Quan, xem cho trẻ nhỏ lấy hào Tử Tôn, xem cho vợ, nôn bộc lấy hào Tài, anh em bè bạn lấy hào Huynh Đệ, xem cho bậc tôn trưởng lấy hào Phụ. Không phải là người trong lục thân thì lấy hào Ứng.

2. 主 象 交 重 身 已 動
用 爻 安 靜未 思 歸
Chủ tượng giao trùng thân dĩ động
Dụng hào an tĩnh vị tư qui.
Chủ tượng giao trùng thân đã động
Dụng hào an tĩnh chẳng lo về.
Chủ tượng tức Dụng thần. Dụng thần động thì hành nhân đã đi. Nếu Dụng thần an tĩnh lại không có Nhật thần, động hào xung tính thì ở yên tại tha hương, chưa nghĩ chuyện về.

3. 剋 速 生 遲 我 若 制 他 難 見 面
Khắc tốc sinh trì, ngã nhược chế tha nan kiến diện
Khắc thì nhanh, sinh thì chậm. Nếu ta chế người thì khó gặp mặt.
Dụng hào động khắc Thế, hoặc Thế nhập Không vong thì người đi mau về đến. Nếu sinh hợp với hào Thế thì người đi chậm về. Kị nhất là Thế hào động khắc Dụng thần vì chưa thể về.

4. 三 門 四 戶 用 如 合 世 即 還 家
Tam môn tứ hộ, Dụng như hợp Thế tức hoàn gia
Hào tam là cổng, tứ là cửa, Dụng hào như hợp Thế thì về nhà ngay.
Hào tam và tứ là môn (cổng) hộ (cửa lớn) lâm Dụng hào động, ngày về đã gần. Nếu Dụng hào không bị chế, không Phục mà động sinh hợp Thế thì có thể đứng chờ về.
5. 動 化 退 神 人 既 來 而 復 返
Động hoá Thoái thần, nhân ký lai nhi phục phản

Động hoá thoái thần thì người đã về mà quay trở lại.
Dụng hào nếu hoá Tấn thần, người đi về gấp nội trong ngày . Hoá Thoái thần người đi tuy đến nhưng quay trở lại, hoặc đi nơi khác, nói chung là không thể về.

6. 靜生 世 位 身 未 動 而 懷 歸
Tĩnh sinh Thế vị, thân vị động nhi hoài qui
Tĩnh mà sinh Thế, thân chưa động mà đã nghĩ chuyện về.
Lục hào an tĩnh người đi chưa nghĩ về. Nếu Dụng hào sinh hợp Thế hào tuy thân chưa động mà đã nghĩ chuyện về.

7.若 遇 暗 冲 睹 物 起 傷 情 之 客 况
Nhược ngộ ám xung, đổ vật khởi thương tình chi khách huống
Nếu gặp ám xung, nhìn cảnh mà cảm nổi lòng nơi đất khách.
Dụng hào an tĩnh vốn không có ý về. Nếu gặp Nhật thần xung động tất nhiên ngắm cảnh nhớ nhà mà muốn trở về. Nếu bị Nguyệt kiến, động hào khắc thì cũng khó lên đường.

8. 如 逢 合 住 臨 行 有 塵 事 之 羈 身
Như phùng hợp trú lâm hành hữu trần sự chi ky thân
Nếu gặp hợp trú, sặp đi thì gặp việc níu chân.
Dụng thần phát động vốn là điềm quay về. Nếu gặp động hào, Nhật thần hợp Dụng, thì có việc ràng buộc không về được. Phải đợi đến khi Nhật Nguyệt xung Dụng mới có thể về. Lâu thì lấy năm, tháng mà đoán, gần thì lấy ngày giờ để đoán.

9. 世 剋 用 而 俱 動 轉 往 他 方
Thế khắc Dụng nhi câu động chuyển vãng tha phương
Thế khắc Dụng mà cùng động, chuyển đi nơi khác).
Không nên Thế khắc Dụng thần. Nếu an tĩnh chịu khắc thì vẫn ở nguyên chỗ cũ. Nếu phát động thì hành nhân đã lên đường. Như bị Thế, động hào khắc mà Dụng thần lại động thì hành nhân chuyển đi nơi khác.

10. 用 比 世 而 皆 空 難 歸 故 里
Dụng tỉ Thế nhi giai Không nan qui cố lý
Dụng tỉ hoà với Thế mà đều lâm Không, khó về quê cũ.
Thế hào lâm Không, hành nhân mau đến. Như Dụng hào cũng lâm Không thì lại đoán không về. Vì thế không thể theo Thế mà đoán. Nên mới nói Dụng và Thế đều lâm Không khó về quê cũ.


11. 遠 行 最 怕 用 爻 傷 尤 嫌 入 墓
Viến hành tối phạ Dụng hào thương, vưu hiêm nhập Mộ
Đi xa rất sợ Dụng hào bị khắc thương, càng ngại nếu Nhập Mộ.
Phàm bói đi xa, nếu Dụng thần xuất hiện không bị thương khắc, không lâm Không, không bị Phá, chủ ở ngoài được cát lợi, về chậm cũng vô hại. Nếu gặp Mộ Tuyệt cùng Nhật Nguyệt, động hào hình khắc đều chủ không tốt.

12. 近 出 何 妨 主 象 伏 偏 利 逢 冲
Cận xuất hà phương, Chủ tượng phục thiên lợi phùng xung
Gần đi nào hại gì, Chủ tượng phục thì lợi khi gặp xung.
Gần đi nếu Dụng hào phục, tất vì sự cố mà không về, đến trị nhật tất sẽ về đến.[1]. Nếu Dụng an tĩnh thì đến ngày xung động, nếu lâm Không an tĩnh thì đến khi xuất Không gặp ngày xung sẽ về đến.

13. 若 伏 空 鄉 須 究 卦 中 之 六 合
Nhược phục Không hương, tu cứu quái trung chi lục hợp
Nếu phục tại hào lâm Không, nên xét lục hợp của quẻ.
Nếu Dụng thần phục tại hào Phi bất Không, nên chờ ngày xung Phi thì có thể về đến. Nếu phục tại hào Phi lâm Không, được Nhật thần, động hào hợp, nhanh thì đến ngay ngày đó, chậm thì đến trị nhật.

14. 如 藏 官 下 當 參 飛 上 之 六 神
Như tàng Quan hạ đương tham Phi thượng chi lục Thần
Nếu phục dưới hào Quan nên xem Lục Thần ở hào Phi.
Dụng hào phục dưới hào Quan là việc hung, là sự ràng buộc. Nếu Quan có Câu Trần thì vấp ngã tổn thương, lâm Đằng Xà là mắc vướng đáng sợ, có Bạch Hổ hoặc Quan Quỷ thuộc Thổ thì bệnh nằm không về được. lâm Huyền Vũ thì giặc cướp ngăn trở hoặc vì tình cảm trai gái mà không về. Ngoài ra phần bên dưới có nêu rõ cứ theo đó mà suy.

15. 兄 弟 遮 藏 緣 是 非 而 不 返
Huynh Đệ già tàng duyên thị phi nhi bất phản
Huynh Đệ mà che tất vì thị phi nên không về.
Dụng thần phục dưới hào Huynh Đệ tất vì cờ bạc, có Chu Tước thì giành giật cải cọ, Bạch Hổ thì do sóng gió cản trở.

16. 子 孫 把 持 由 樂 酒 以 忘 歸
Tử Tôn bả trì do lạc tửu dĩ vong qui

Tử Tôn níu nắm là do nghiện rượu mà quên về.
Dụng hào phục dưới Tử Tôn, tất vì rong chơi nghiệm rựơu, nếu không thì vì tăng đạo, lục súc hoặc con cháu, bọn trẻ nhỏ cản trở mà không về được.

17. 父 為 文 書 之 阻 滯
Phụ vi Văn Thư chi trở trệ
Phụ hào thì ngăn trở bởi Văn Thư.
Dụng thần phục dưới Phụ Mẫu, tất vì văn thư mà bị cản trở, hoặc vì bậc tôn trưởng, nghệ nhân giữ lại.

18. 財 因 買 賣 之 牽 連
Tài nhân mãi mại chi khiên liên
Tài hào thì bị cản trở vì buôn bán.
Dụng hào phục dưới hào Tài vượng tất vì buôn bán kinh doanh được lợi mà quên về. Nếu Tài lâm Không hoặc gặp Huynh Đệ động thì phần lớn là vì hao vốn. Nếu có thêm Hàm Trì chắc chắn vì ham nữ sắc nên quên về.

19. 用 伏 應 財 之 下 身 贅 他 家
Dụng phục Ứng Tài chi hạ thân chuế tha gia
Dụng phục dưới Ứng Tài là gởi rể nhà người.
Dụng hào phục dưới hào Ứng là Thê Tài thuộc Âm tất gởi rể nhà người ta. Nếu thuộc Dương sinh hợp với Thế Thân là thay người trông coi tiền bạc nên không về.

20. 主 投 財 庫 之 中 名 留 富 室
Chủ đầu Tài khố chi trung danh lưu phú thất
Chủ tượng ẩn trong Tài khố, thì ở nơi nhà giàu.
Dụng hào phục dưới Tài khố, hành nhân tất ở nơi nhà giàu trông coi tiền bạc. Nếu Phục thần gặp Mộ Tuyệt tất nương tựa người ta để sống qua ngày.

[1] Như Dụng thân phục mà là Dần mộc thì đến ngày Dần tất là trị nhật.

 

21. 五 爻 有 鬼 皆 因 途 中 之 不 通
Ngũ hào hữu Quỷ giai nhân đồ trung chi bất thông
Hào ngũ là Quan Quỷ thì vì đường sá không thông.
Dụng hào ohục ở hào ngũ Quan Quỷ thì vì đường thuỷ bộ không thông mà cản trở.

22. 一 卦 無 財 只 為 盤 纏 之 缺 乏
Nhất quái vô Tài chỉ vi bàn triền chi khuyết phạp
Trong quẻ không có hào Tài chỉ vì đồ mang theo thiếu thốn.

Trong quẻ động hào, biến hào, Nhật Nguyệt đều không phải là Thê Tài tất vì không có lộ phí để trở về.

23. 墓 持 墓 動 必 然 臥 病 呻 吟
Mộ trì Mộ động tất nhiên ngoạ bệnh thân ngâm
Mộ trì, Mộ động tất bệnh nằm rên rĩ.
Dụng hào nhập Mộ, hoá Mộ hoặc trì Quỷ Mộ hoặc phục dưới hào Quỷ Mộ đều chủ bệnh mà không trở về được. Nếu phục dưới Quan Quỷ hoặc lâm Bạch Hổ tất bị tù mà không phải là bệnh.

24. 世 合 世 冲 須 用 遣 人 尋 覓
Thế hợp Thế xung tu dụng khiển nhân tầm mịch
Thế hợp Thế xung nên cho người đi tìm kiếm.
Dụng hào an tĩnh mà Thế động xung khởi, hoặc hợp khởi; Dụng hào phục mà Thế đề khởi. Dụng hào nhập Mộ mà Thế phá Mộ thì tự nên đi tìm kiếm thì hành nhân mới về được.

25. 合 逢 玄 武 昏 迷 酒 色 不 思 鄉
Hợp phùng Huyền Vũ hôn mê tửu sắc bất tư hương
Hợp mà gặp Huyền Vũ thì say đắm tửu sắc mà không nhớ nhà.
Hoặc Dụng hào lâm Huyền Vũ, động mà gặp hào Tài hợp trú, hoặc Dụng phục dưới hào Tài có Huyền Vũ đều chủ ham mê tửu sắc không nhớ quê nhà. Phải đợi lúc xung phá hào hợp mới có thể về. Nếu Dụng phục dưới Quan Quỷ có Huyền Vũu mà hào Tài không tương hợp thì hành nhân ở ngoài làm giặc mà không trở về được.

27. 卦 得 遊 魂 漂 泊 他 鄉 無 定 跡
Quái đắc Du hồn phiêu bạt tha hương vô định tích
Quẻ Du hồn thì phiêu bạc tha hương không dấu vết.
Gặp quẻ Du Hồn, Dụng hào phát động thì hành nhân đi đây đi đó không có nơi nhất định. Du hồn hoá Du hồn thì hành tung bất định , Du hồn hoá Qui hồn thì đi cùng khắp rồi mới về.

28. 日 併 忌 興 休 望 到
身臨 用 發 必 然 歸
Nhật tính Kị hưng hưu vọng đáo
Thân lâm Dụng phát tất nhiên qui
Nhật thần tính, Kị thần hưng đừng mong đến.
Thân lâm, Dụng thần động tất nhiên về.

Kị thần lâm Thân Thế hoặc Nhật thần khắc Dụng đều chủ không về. Nếu được Dụng thần lâm Thân Thế, Dụng xuất hiện[1] phát động hoặc Trì Thế động thì hành nhân về ngay.

29. 父 動 卦 中 當 有 魚 書 之 寄
Phụ động quái trung đương hữu ngư thư chi ký
Phụ động trong quẻ thì có thơ gởi về.
Phàm xem thơ từ mà trong quẻ có Phụ Mẫu động thì chủ có tin tức gởi về

30. 財 興 世 上 應 無 雁 信 之 來
Tài hưng Thế thượng ứng vô nhạn tín chi lai
Tài động ở Thế, ứng không có tin tức đến.
Chỉ xem thư từ là lấy Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Nếu Thế trì Tài động tất khắc Phụ thì không có tin tức thư từ.

31. 欲 決 歸 期 之 遠 近
須 詳 主 象 之 興 衰
Dục quyết qui kỳ chi viễn cận
Tu tường Chủ tượng chi hưng suy.
Muốn định ngày về gần hay xa
Nên rõ suy vượng của Chủ tượng.
Đoán ngày về tất dùng phép “hợp thì đợi xung, xung thì đợi hợp, Không thì xuất tuần, phá thì bổ hợp, Tuyệt thì đợi Sinh, Mộ thì đợi xung khai”. Cứ thế mà suy thì biết ngày về gần hay xa.

動 處 靜 中 含 蓄 許 多 凶 吉 象
天 涯 海 角 羈 留 多 少 利 名 人
Động xứ tĩnh trung hàm súc đa hung cát tượng,
Thiên nhai hải giác ky lưu đa thiểu lợi danh nhân.
Trong động tĩnh chứa biết bao nhiêu điều hung cát
Chân trời góc bể giữ chân không thiếu kẻ theo lợi danh.

[1] tức Dụng thần không phục

—–hết chương 26——-

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 68

0

Chương 25

Y DƯỢC

醫 藥

(Thầy -Thuốc)

(Tuvivietnam – siêu tầm)


病 不 求 醫 全 生 者 寡
藥 不 對 症 枉 死 者 多
欲 擇 善 者 而 從 之 – 須 就 蓍 人 而 問 也
應 作 醫 人 空 則 瞷 亡 而 不 遇
子 為藥 餌 伏 則 扞 格 以 無 功
Bệnh bất cầu y, toàn sinh giả quả,
Dược bất đối chứng, uổng tử giả đa
Dục trạch thiện giả nhi tòng chi
Thuận tựu thi nhân nhi vấn giả
Ứng tác y nhân, Không tắc gian vong nhi bất ngộ,
Tử vi dược nhĩ, phục tắc hãn cách dĩ vô công.
Bệnh không tìm thầy, có sống được cũng quá ít,
Thuốc không đúng bệnh, chết uổng quá nhiêu.
Vì muốn chọn đường tốt để theo – Cần tìm thầy bói để hỏi
Ứng là thầy thuốc, lầm Không tất trông mong mà chẳng gặp
Tử là thuốc men, phục thì trị bệnh cũng vô ích.
Phàm bói về Y dược thì lấy hào Tử Tôn làm thuốc, lấy hào Ứng làm thầy thuốc. Nếu Tử Tôn bị hại hoặc Mộ Tuyệt, hoặc hào Quan sinh vượng thì thuốc không đúng bệnh, không thể trừ bệnh được. Nếu Ứng hào lâm Tuần Không thì thầy thuốc đi nơi khác, dùng thuốc cũng không kết quả.

1. 鬼 動 卦 中 眼 下 速 難 取 效

Quỷ động quái trung, nhãn hạ tốc nan thủ hiệu

Trong quẻ Quỷ động, trước mắt khó có hiệu quả nhanh.

Xem thuốc cần hào Quỷ an tĩnh mà vô khí. Nếu phát động, tuy có thuốc hay nhưng nhất thời khó có hiệu quả. Chơ ngay Quan Quỷ bị Mộ tuyệt thì dùng thuốc moái có hiệu lực.

2. 空 臨 世 上 心 中 強 欲 求 醫

Không lâm Thế thượng, tâm trung cưỡng dục cầu y

Không ở hào Thế thì trong lòng miễn cưỡng tìm thầy.

Hào Thế lâm Không tất không chuyên tâm tìm thầy hoặc không tin tưởng, tuy mời thầy cũng không dùng thuốc của ông ta.

3. 官 旺 福 衰 藥 餌 輕 而 病 重

Quan vượng Phúc suy dược nhĩ khinh nhi bệnh trọng

Quan vượng, Tử suy thuốc kém mà bệnh nặng.

Hào Quan vô khí, Tử Tôn vượng tướng thì thuốc chữa bệnh uống có kết quả. Nếu TửTôn hưu tù, hào Quan vượng tướng thì thuốc kém mà bệnh nặng uống vào vô ích.

4. 應 衰 世 旺 病 家 富 而 醫 貧

Ứng suy Thế vượng bệnh gia phú nhi y bần

Ứng suy mà Thế vượng thì nhà bệnh giàu mà thầy thuốc nghèo.
Thế là nhà của người bệnh, Ứng là nhà thầy thuốc. Nếu tương hợp tương sinh tất không thân thuộc thì là bằng hữu. Nếu Ứng vượng Thế suy thì nhà bệnh nghèo mà thầy thuốc giàu,Ứng suy Thế vượng thì đoán ngược lại.

5. 父 母 不 宜 持 世

官 煞 豈 可 臨 身

Phụ Mẫu bất nghi trì Thế

Quỷ sát khởi khả lâm Thân
Phụ Mẫu không nên trì Thế
Quỷ sát há có thể lâm Thân ?
Quái Thân và hào Thế đều không nên lâm Quan Quỷ, gặp phải thế thì uống thuốc không công hiệu.

6. 官 化 官 病 變 不 一

子 化 子 藥 雜 不 精

Quan hoá Quan bệnh biến bất nhất
Tử hoá Tử dược tập bất tinh
Quan hoá Quan bệnh thay đổi bất thường
Tử hoá Tử thuốc lẫn lộn không tinh.
Câu này nói Quan hoá Tiến Thần bệnh chứng bất nhất hoặc bệnh thế không định được. Hoá Thoái thần thì đoán ngược lại. Dụng thần khi xem về thuốc là Tử Tôn, nếu Tử Tôn hoá Tiến thần thì thuốc uống có hiệu quả, nếu hoá Thoái thần cùng quẻ Phục ngâm thì không thể uống thuốc đó được.
7. 福 化 忌 爻 遇 服 殺 身 之 惡 劑
Phúc hoá Kị hào ngộ phục sát thân chi ác tễ
Hào Phúc hoá Kị thần, uống lầm thuốc mà chết.
Vốn có động tắc phải biến, nếu Tử Tốn hoá Phụ Mẫu hồi đầu khắc thì Tử Tôn khó thương khắc Quan Quỷ tất uống lầm thuốc mà hoạ đến thân.

8. 應 臨 官 鬼 防 投 增 病 之 藥 湯
Ứng lâm quan Quỷ phòng đầu tăng bệnh chi dược thang
Ứng ở Quan Quỷ thì phòng uống thuốc mà bệnh nặng thêm.
Ứng lâm Quan Quỷ tất không phải là thầy thuốc giỏi, nếu lại hình khắc Thế, Dụng thần nên phòng lầm thuốc mà hại người, hoặc lâm Kị hào, hoặc hoá Quan Quỷ đều không nên dùng thuốc của Thầy này.

9. 鬼 帶 日 神 定 非久 病
Quỷ đới Nhật thần định phi cửu bệnh
Quỷ là Nhật thần chắc chẳng phải là cửu bệnh[1]
Quỷ trị Nhật thần động tất trước mắt bệnh nặng. Nếu Nhật thần là Quan Quỷ nhưng không hiện trong quẻ tất không thể bảo bệnh này đang nặng.

[1] tức bệnh lâu ngày

10. 應 臨 月 建 必 是 官 醫
Ứng lâm Nguyệt kiến tất thị Quan y
Ứng là Nguyệt kiến tất thấy thuốc triều đình.
Ứng trì Thái Tuế là thế y[1], trì Nguyệt kiến, Nhật thần tất quan y[2], lại được Nhật Nguyệt lâm Tử Tôn thì cho thuốc rất thần hiệu. Ứng lâm Tử Tôn là thấy thuốc chuyên môn có thể phó thác.

11. 世 下 伏 官 子 動 則 藥 雖 妙 而 病 根 當 在
Thế hạ phục Quan, Tử động tắc dược tuy diệu nhi bệnh căn thường tại
(Quan phục dưới Thế mà Tử động thì thuốc tuy hay nhưng gốc bệnh vẫn còn mãi)
Đại để tự xem bệnh cho mình mà gặp Quan phục ở dưới hào Thế hoặc xem bệnh cho người khác gặp Quan phục dưới Dụng thần , tất bệnh không thể đoán được nguồn gốc, ngày sau e sẽ tái phát.12. 衰 中 坐 鬼 身 臨 則 病 雖 輕 而 藥 力 難 扶
Suy trung toạ Quỷ, Thân lâm tắc bệnh tuy khinh nhi dược lực nan phù
Thân lâm Quỷ suy thì bệnh tuy nhẹ mà thuốc không công hiệu.
Quái Thân tuy lâm Quỷ suy nhược là tượng bệnh kéo dài khó lành, hoặc Dụng thần lâm Quan nhập Mộ cũng vậy.

13. 父 若 伏 藏 名 雖 醫 而 未 諳 脈 理
Phụ nhược phục tàng danh tuy y nhi vị am mạch lý
Phụ hào suy nhược mà phục thì tuy gọi là thầy thuốc nhưng không rành mạch lý.
Trong quẻ Phụ động, Tử Tôn không thể chuyên quyền, cho nên không tốt. Nhưng không thể không tĩnh, mà không thể không động, vì sao vậy ? Vốn khí mạch của con người đều phụ thuộc vào cha mẹ, cho nên xem về thầy thuốc không có hào Phụ Mẫu thì là thầy thuốc quê mùa, tuy dùng thuốc mà không rõ mạch lý.

14. 鬼 不 出 現 藥 總 用 而 不 識 病 源
Quỷ bất xuất hiện dược tổng dụng nhi bất thức bệnh nguyên
Quỷ không hiện có dùng thuốc cũng không rõ căn bệnh.
Quan Quỷ là bệnh, xuất hiện thì dễ bị khắc chế nên dùng thuốc có hiệu quả. Nếu không hiện trong quẻ thì bệnh ẩn không rõ nguồn gốc, chẳng quyết đoán được thuốc dùng nên khó có công hiệu.

15. 主 絕 受 傷 盧 醫 難 救
Chủ Tuyệt thụ thương, Lư y nan cứu
Chủ tượng bị thương khắc, thầy thuốc họ Lư[3] cũng khó cứu được.
Chủ tượng nếu phục, Mộ, Tuyệt, hoặc biến nhập Mộ, Tuyệt, lại bị khắc thì lương y cũng không cứu nỗi.

16. 父 興 得 地 扁 鵲 無 功
Phụ hưng đắc địa, Biển Thước vô công
Hào Phụ động lại đắc địa thì Biển Thước[4] cũng vô ích)
Phụ Mẫu phát động, Tử Tôn thụ thương, uống thuốc tất không công hiệu. Nếu Tử Tôn có khí mà Nhật thần, động hào khắc Phụ Mẫu tất uống thuốc có hiệu quả.

17. 察 官 爻 而 用 藥 火 土 寒 涼
Sát Quan hào nhi dụng dược Hoả Thổhàn lương
Xem hào Quan mà dùng thuốc hoăc Hoả, Thổ hoặc hàn lương.
Hoả Thổ ở hào Quan tì bệnh này thuộc nhiệt, nên dùng thuốc hàn để trị; Kim Thuỷ ở hào Quan thì phần lớn thuộc bệnh hàn, dùng than thuốc ôn nhiệt để trị. Như Hoả thì dùng Hàn, Thổ thì dùng lương, Thuỷ thì nhiệt, Kim thì ôn…Lại nếu Hoả Quỷ sinh vượng, nếu được sinh phò thì dùng thuốc đại hàn để trị. Gặp Thuỷ Quỷ sinh vượng mà được hợp trú thì nên dùng thuốc đại nhiệt. Nếu Hoả Quỷ tại âm cung, âm hào là chứng âm hư hoả động có thể dùng thuốc giáng hoả tư âm. Thuỷ Quỷ tại dương cung nội quái là chứng huyết khí hư tổn có thể dùng thuốc bổ trung ích khí. Ngoài ra cứ phong như thế, nên linh động

18. 驗 福 德 以 迎 醫 丑 寅 東 北
Nghiệm Phúc Đức dĩ nghênh y Sửu Dần đông bắc.
Nghiệm Phúc Đức để mời thấy ở phương Sửu Mùi, hoặc đông bắc.
Phàm xem uống thuốc nên xem Tử Tôn là hào nào, tất biết thầy thuốc ở đâu có thể trị được. Nếu ở hào Tí thì người ở phương bắc, là Sửu thì thầy ở phương đông bắc chẳng hạn. Lại như Tử Tôn là Dần thuộc Mộc thì tên người thầy có bộ Mộc ở bên, hoặc bộ Thảo đầu, hoặc mạng cọp chẳng hạn…Tuy chẳng phải là phương đông nhưng cũng có thể trị được bệnh.

19. 木 帶 財 興 大 忌 魚 鮮 生 冷
Mộc đới Tài hưng kị ngư tiên sinh lãnh.
Tài thuộc Mộc vượng kị cá tươi, vật phát lạnh.
Tài là ăn uống, đố để nuôi sống. Nếu Tài động thì sinh trợ Quỷ hào, ngược lại là có hại. Nếu thuộc Thuỷ thì kị các vật như cá tươi, các vật làm lanh thì dùng thuốc mới có hiệu quả. Nếu ở hào Mộc kị ăn những đồ động phong; hào Hoả kị đồ nấu nướng nóng; ở Kim kị đồ ăn cứng chắc; ở Thổ kị đồ dầu mỡ. Tài nếu không động thì không thể đoán ẩu. Lại sợ hào Quỷ sinh ra vật , như Sửu thì kị trâu bò, Dậu thì kị gà vịt… Ngoài ra phỏng theo như thế.

20. 木 加 龍 治 偏 宜 舒 暢 情 懷
Mộc gia Long trị thiên nghi thư sướng tình hoài.
Mộc được Thanh Long trị nên được thong dong sung sướng.
Thanh Long là thần vui vẻ, lại lâm Mộc mà sinh hợp với hào Thế, thì bệnh nhân nên gác việc nhà, an nhàn thong thả, uống thuốc mới kiến hiệu.

[1] chỉ thấy thuốc gia truyền

[2] tức thầy thuốc làm việc cho nhà nước

[3] Lư sinh người đời Tần, được lệnh Tần Thuỷ Hoàng vượt biển tìm thuốc trường sinh.

[4] Biển Thước họ Tần tên Việt nhân là thầy thuốc giỏi thời Chiến quốc ở Trung Quốc.

21. 財 合 用 神 居 外 動 吐 之 則 痊
Tài hợp Dụng Thần cư ngoại động thổ chi tắc thuyên,
Tài ở ngoại cung động hợp với Dụng Thần, nôn mửa tất bớt.
Tài ở ngoại cung chủ nôn mửa, nếu sinh hợp với Dụng hào dùng thuốc nôn tất bớt.22. 子逢 火 德 寓 離 宮灸 之 則 愈
Tử phùng Hoả ngụ Li cung cứu chi tắc dũ.
Tử thuộc Hoả ở cung Li, cứu tất lành bệnh.
Tử Tôn thuộc Hoả lại ở cung Li, dùng thuộc nhiệt điều trị, hoặc dùng ngãi để cứu tất lành.

23. 坎 卦 子 孫 則 須 發 汗
木 爻 官 鬼 先 要 疏 風
Khảm quái Tử Tôn tắc tu phát hãn
Mộc hào Quan Quỷ tiên yếu sơ phong.
Tử Tôn thuộc quẻ Khảm tất đổ mồ hôi
Quan Quỷ thuộc Mộc, trước hết nên thoát phong.
Tử Tôn thuộc Thuỷ hoặc tại cung Khảm phát động, đều nên xuất mồ hôi. Quan Quỷ thuộc Mộc trước hết làm tán phong tà rồi dùng thuốc mới công hiệu.

24. 用 旺有 扶 休 再 補
鬼 衰 屬 水 莫 行 針
Dụng vượng hữu phù hưu tái bổ
Quỷ suy thuộc Thuỷ mạc hành châm
Dụng Thần vượng được phò trợ không nên “bổ”
Quan Quỷ suy thuộc Thuỷ chớ nên châm.
Dụng hào hưu tù Mộ Tuyệt tất dùng thuốc bổ mới công hiệu. Nếu Dụng hào được vượng tướng lại được sinh phò hợp trợ nên dùng thuốc công phạt để điều trị, nếu dùng thuốc bổ có tác dụng ngược lại thì sinh hại. Tử Tôn thuộc Kim lợi dụng kim châm. Quan Quỷ thuộc Thuỷ mà dùng kim châm thì Kim sinh Thuỷ, trợ giúp cho bệnh. Thổ Quỷ thì kị thuốc nhiệt; Mộc Quỷ thì kị thuốc hàn; Mộc Quỷ thì kị thuốc phong; Kim Quỷ thì kị thuốc hoàn[1].

25. 福 鬼 俱 空 當 不 治 而 自 愈
子 官 皆 動 宜 內 補 而 外 修
Phúc Quỷ câu Không đương bất trị nhi tự dũ
Tử Quan giai động nghi nội bổ nhi ngoại tu.
Phúc Quỷ đều lâm Không, không chữa bệnh cũng lành
Tử và Quan đều động nên trong bổ ngoài cầu.
Xem về bệnh mà hai hào Tử và Quan đều lâm Không là điềm tốt, hoặc đều suy tĩnh, không xung không tính thì bệnh tự lành, không cần dùng thuốc. Nếu hai hào đều động thì không phải dùng không đúng thuốc mà do Thần gây hoạ, cho nên mới gọi là “vô công” (vô ích) , nên cầu đảo rồi uống thuốc mới giảm. Tục gọi là “ngoại tu nội bổ” .

26. 卦 動 兩 孫 用 藥 須 當 間 服
Quái động lưỡng Tôn dụng dược đương gián phục
Quẻ có hai hào Tử Tôn động, dùng thuốc nên gián đoạn.
Quẻ có hai hào Tử Tôn động, không cần liên tục uống thuốc mà chia ra uống mới có hiệu quả.

27. 鬼 傷 二 間 立 方 須 用 寬 胸
Quỷ thương nhị gian , lập phương tu dụng khoan hung.
Quỷ hại gian hào, nên dùng thuốc cho ngực được thư giản.
Quan Quỷ động xung khắc gian hào , hoặc Quỷ ở gian hào động tất lồng ngực bất lợi, cần dùng thuốc cho ngực được thư giản. Gặp Huynh Đệ phát động tất khí nghịch, nên dùng thuốc điều khí.

28. 父 合 變 孫 莫 欲 閉 門 修 養
Phụ hợp biến Tôn mạc dục bế môn tu dưỡng
Phụ biến hợp với Tử Tôn, chẳng gì hơn đóng cửa dưỡng bệnh.
Trong quẻ Phúc, Quan suy tĩnh, nếu có Phụ Mẫu động sinh hợp Thế Thân, không nên uống thuốc, nên ở yên tĩnh, đóng cửa dưỡng bệnh.

29. 五 興 化 福 可 用 路 遇 醫 人
Ngũ hưng hoá Phúc khả dụng lộ ngộ y nhân
Hào ngũ động hoá Phúc, có thể nhờ thầy thuốc gặp trên đường.
Nếu hào ngũ của Quẻ động hoá Tử Tôn, không cần chọn thầy để uống thuốc, thầy thuốc tầm thường cũng trị được. Nếu Tử Tôn không hiện mà Nhật thần lâm Tử Tôn sinh hợp thì tất có thầy đến trị bệnh ngoài tiên liệu của mình.

30. 世 應 比 和 無 福 德 須 用 更 醫
Thế Ứng tỉ hoà vô Phúc Đức tu dụng canh y
Thế Ứng tỉ hoà mà không có Phúc Đức, nên đổi thầy thuốc.
Thế Ứng tỉ hoà, quẻ không có Phúc Đức thì thuốc không lợi mà không hại, nên đổi thầy thuốc mới lành bệnh.

31. 財 官 發 動子 孫 空 徒 勞 服 藥
Tài Quan phát động Tử Tôn Không đồ lao phục dược
Tài Quan phát động, Tử Tôn lâm Không, uống thuốc vô ích.
Tài và Quan đều động, thế bệnh đã hung, mà Tử Tôn lâm Không uống thuốc cũng vô ích.
Phàm xem tìm thầy uống thuốc cần thành tâm ngầm cầu xem nhờ thầy nào uống thuốc gì có công hiệu hay không, không cxần nói rõ họ tên, người đoán cứ theo chương này mà suy, thì không chọn thầy sai lầm, thành tâm tất cảm ứng, quẻ luôn ứng nghiệm, há chẳng an tâm sao?

[1] Nguyên văn là 丸 hoàn, tức thuốc viên.

–hết chương 25—

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 67

0

(Tuvivietnam – siêu tầm)

21.日 加 福 去 生 扶 藥 醫 則 愈
Nhật gia Phúc khứ sinh phù y dược tắc dũ
Nhật ở Phúc mà đến sinh phò, tắc lành nhờ thầy nhờ thuốc.
Nhật thần lâm Tử Tôn sinh phò củng hợp Dụng thần tắc nhờ thuốc mà lành bệnh.

22. 身 上 飛 伏 雙 官 膏 肓之 疾
Thân thượng phi phục song Quan cao mang chi tật
Trên Thân ẩn hiện hai hào Quan là bệnh hiểm nghèo).
Thân là quái Thân cùng Dụng thần . Nếu hào Thân đã lâm Quan Quỷ lại có hào Quan khác động nhập vào Thân, hoặc giáp trước sau Thân đều là hào Quan, hoặc giáp trước sau Dụng thần đều là Quan Quỷ, hoặc Quỷ ở Thế mà Thân lại ở Quỷ, đều gọi là song Quan giáp Dụng, giáp Thân, đều tượng bệnh trầm trọng đến chết.
Như xem quẻ hung cát về bệnh cho con, mà được quẻ Hằng, thì hào tam và ngũ đều là Quan Quỷ, hào Ngọ hoả Tử Tôn ở hào tứ là gồm giữa hai hào Quỷ. Ngoài ra cứ phỏng theo thế.

23. 命 入 呦 冥 兩 墓 泉 世 之 人
Mệnh nhập u minh lưỡng Mộ, tuyền thế chi nhân
Mệnh vào lưỡng Mộ tối tăm là người ở cử tuyền.
Ở quẻ thì xem có Quỷ Mộ, với Thế thì xemcó Thế Mộ, với Dụng thần thì xem có Chủ Mộ. Trong quẻ nếu xuất hiện Tam Mộ này , thì thấy rõ ràng nên bảo là “sáng”. Biến nhập trong Mộ, người ta không thấy nên gọi là “tối”. Không kể tối hay sáng, bệnh đều chủ nguy hiểm. Hoặc hào Thế, hào Dụng bị hào Quan hai đầu giáp, hoặc Thân bị hai Quỷ Mộ giáp tất chắc chết. Nếu được Nhật thần, động hào xung phá hào Mộ mới vô sự.

24. 應 合 而 變 財 傷 , 勿 食 餽 來 之 物
Ứng hợp nhi biến Tài thương,vật thực quỹ lai chi vật
Hào Ứng hợp mà biến thành Tài thương khắc, chớ ăn đồ đem lại biếu.
Ứng hào động đến sinh hợp Dụng thần thì có người đến thăm, nếu là hào Tài hay Phúc tất có quà biếu, nếu là hào Huynh thì chỉ đến thăm không mà thôi. Nếu Ứng tuy sinh hợp Dụng thần, nhưng Dụng hoặc động biến thành Tàihiònh xung khắc hại, thì quà đem biếu chớ nên ăn, không thì sẽ sinh hại. Xem cho bậc trưởng bối càng nên kị.

25. 鬼 動 而 逢 日 破 何 妨 見 險 之 虞
Quỷ động nhi phùng Nhật phá, hà phương kiếm hiểm chi ngu
Quỷ động mà bị Nhật phá, chẳng lo gì khi gặp nguy hiểm.

26. 欲 决 病 痊 當 究 福 神 之 動 靜
要 知 命 盡 須 詳 鬼 煞 之 旺 衰
Dục quyết bệnh thuyên đương cứu Phúc thần chi động tĩnh
Yếu tri mệnh tận tu tường Quỷ sát chi vượng suy
Muốn đoán đau lành nên xét động tĩnh của Phúc thần
Muốn hay sống chết cần xem vương suy nơi Quỷ sát.
Đọc câu này không thể vì lời mà hại nghĩa. Phúc thần với nghĩa hẹp là Tử Tôn mà nghĩa rông là Nguyên thần. Quỷ sát theo lý thì phải là Kị thần mà không là Quan Quỷ. Phàm xem bệnh mà gặp Nguyên thần vượng động thì dù Dụng Thần bị Không phá, phục tàng bệnh cũng có thể lành . Nếu gặp Kị thần vượng động thì Dụng Thần có xuất hiện bất Không phá nhưng mệnh cũng đã tận.

— Hết chương 24 —

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 66

0

Chương 24

BỆNH (THÂN) THỂ

(Tuvivietnam – siêu tầm)

病體

既 明 症 當 决 安 危
再 把 爻 神 搜 索 個 中 之 玄 妙
重 加 參考 方 窮 就 裏 之 精 微
Ký minh chứng hậu , đương quyết an nguy.
Tái bả hào thần sưu sách cá trung chi huyền diệu,
Trùng gia tham khảo phương cùng tựu lý chi tinh vi
Lúc đã rõ căn bệnh chắc chắn quyết đoán được an nguy
Lại xem các hào tìm lẽ huyền diệu bên trong
Xét thêm nữa mới đạt được lẽ tinh vi.

1. 先 看 子 孫 最 有 生 扶 拱 合 .
Tiên khán Tử Tôn, tối hữu sinh phù củng hợp
Trước hết là xem Tử Tôn, tốt nhất là được sinh phò củng hợp.
Tử Tôn có thể khắc chế Quan Quỷ, người xưa gọi là Giải Thần, lại còn gọi là Phúc Đức. Xem bệnh để dùng thuốc mà trong quẻ không có hào Tử Tôn, Quan Quỷ không bị khắc chế tất uống thuốc không có hiệu nghiệm mà cầu đảo cũng không linh ứng. Cho nên trước tiên phải xem hào này.
Xem bệnh cho cha mẹ cho chồng không nên có hào Tử Tôn phát động , vì động thì khắc hào Phu mà lại khắc Nguyên thần của hào Phụ.

2. 次觀主象怕逢剋害刑冲
Thứ quan Chủ tượng, phạ phùng khắc hại hình xung
Tiếp theo là xem Dụng Thần, sự bị khắc hại hình xung.
Chủ tượng tức Dụng Thần, như xem cho chồng lấy hào Quan làm Dụng Thần, xem cho vợ lấy hào Tài làm Dụng Thần chẳng hạn. Nếu Dụng Thần bị hình xung khắc hại, thì bệnh nhân khốn khổ vì bệnh nên sợ bị khắc hại, nếu được sinh phò tất không đến nỗi phải chết.

3. 世持官爻病總輕而難療
Thế trì Quan hào, bệnh tổng khinh nhi nan liệu
Thế trì hào Quan, nói chung bệnh nhẹ nhưng khó trị.
Tự xem bệnh thì sợ hào Quan trì Thế vid khó tránh thoát được.

4. 身臨福德勢雖險而堪醫
Thân lâm Phúc Đức, thế tuy hiểm nhi kham y
Thân lâm Phúc Đức thì tuy nguy hiểm nhưng có thể trị được
Quái thân là thể của quẻ, Tử Tôn lâm Thân thì chắc chắn không lo. Nếu bệnh nguy hiểm có thể dùng thuốc sẽ thuyên giảm.

5. 用壯有扶切恐太剛則折
Dụng tráng hữu phù, thiết khủng thái cương tắc chiết
Dụng vượng mà lại được phò trợ, sợ nhất là quá cứng tất sẽ gãy.
Phàm Dụng Thần lâm Nguyệt kiến lại được Nhật thần sinh phò củng hợp, mà có động hào sinh phò là điềm quá cứng tất gãy. Sợ nhất là Dụng Thần trị Nguyệt kiến tất hung, nhưng nếu được Nhật thần, động hào hình khắc thì không hết vượng. Cho nên mới bảo “thái quá thì hảo tổn sẽ lợi”

6. 主空無救須防中道而殂
Chủ Không vô cứu, tu phòng trung đạo nhi tồ
Dụng Thần lâm Không mà chẳng được cứu tất phòng nửa đường mà chết.
Chẳng phải chỉ có lâm Không, phàm Chủ tượng gặp Mộ Tuyệt Không Phá mà được cứu thì vô hại, không được cứu tất chết. Cứu tất là “sinh phò củng hợp”.

7. 祿係妻財空則不思飲食
壽属父母動則反促天年
Lộc hệ Thê Tài, Không tắc bất tư ẩm thực
Thọ thuộc Phụ Mẫu, động tắc phản xúc thiên niên
Lộc liên quan đến Thê Tài, lâm Không thì chẳng nghĩ đến ăn uống
Thọ thuộc ở Phụ Mẫu, động thì ngược lại mau chết.
Xem bệnh lấy Thê Tài làm thực lộc, trong quẻ nếu không có hào Tái hoặc Tài lâm Không tất không ăn uống được. Xem bệnh kị hào Phụ Mẫu động vì hào này khắc chế Tử Tôn, nên Quan Quỷ lộng hành mà uống thuốc chẳng hiệu nghiệm, nên nói mau chóng hết tuổi trời. Xem bệnh cho anh em thì lại cần Phụ Mẫu động.

8. 主象伏藏定主遷延乎歲月
Chủ tượng phục tàng chủ thiên diên hồ tuế nguyệt
Chủ tượng phục tất chủ bệnh kéo dài năm tháng.
Dụng hào không hiện ở quẻ, nếu được đề bạt phò dẫn[1] , tất đợi đến ngày xuất lộ. Nếu là bệnh đã lâu tất gặp trị niên, trị nguyệt[2] mới lành. Cho nên mới bảo định đến kéo dài của năm tháng .

9. 子孫空絕必乏調理之肥甘
Tử Tôn không tuyệt tất phạp điều lý chi phì cam
Tử Tôn lâm Không Tuyệt khó điều trị cho mập mạp.
Tử Tôn vốn là thuốc, nhưng lại là rượu thịt, nếu lâm Tử Tuyệt hoặc lâm Không , hoặc không hiên trên quẻ, tất không được điều dưỡng cho mập lên. Nếu Nhật thần hoặc hào Ứng là Tử Tôn sinh hợp với Dụng Thần tất có người biếu tặng thức ăn để nuôi dưỡng.

10. 世上鬼臨不可隨官入墓
Thế thượng Quỷ lâm, bất khả tuỳ Quan nhập Mộ
Quan Quỷ ở hào Thế thì không thể theo Quỷ để nhập Mộ.
Phàm tự xem bệnh, nếu Thế lâm Quỷ nhập Mộ ở Nhật thần hoặc hoá nhập Mộ khố, chắc chắn là điềm không tốt. Thế hào trì Quỷ nhập Mộ mà động cũng hung.

[1] Dẫn là nói có thế xuất lộ.

[2] Trị niên, trị nguyệt là năm và tháng mà Dụng thần trì. Như Dụng thần là Dần phục tàng thì đợi năm Dần, tháng Dần.

11. 身臨福德豈宜父動來傷
Thân lâm Phúc Đức khởi nghi Phụ động lai thương
Thân lâm Phúc Đức, há nên có Phụ động đến khắc hại ?
Xem bệnh lấy Tử Tôn làm thần giải ách, nếu Thân lâm Tử Tôn là điềm đại cát. Nếu Phụ Mẫu động đến khắc thì không tốt, nhưng Phụ Mẫu bị chế thì chẳng hại.

12. 用 連 鬼 煞 目 前 必 見 傾 危
Dụng liên Quỷ sát, mục tiền tất kiến khuynh nguy
Dụng biến thành Quỷ, trước mắt tất nguy hiểm.
Chữ “liên” phải giảng là “biến thành”. Ngày nay các thuật gia thấy Dụng thần biến ra Quan Quỷ đoán bệnh tất chết, tất bị lời mà làm hại nghĩa. Ai ngờ Quỷ sát ấy là Kị thần. Dụng liên Quỷ sát tất Dụng thần hoá hồi đầu khắc. Nếu biến hồi đầu khắc mà không được Nhật Nguyệt, động hào giải cứu tất bị nguy hại ngay.

13.福 化 忌 爻 病 勢 增 加 於 小 愈
Phúc hoá Kị hào bệnh thế tăng gia ư tiểu dũ
Phúc Đức hoá Kị thần, bệnh đang nhẹ thành nặng.
Tử Tôn phát động chế ngự Quan Quỷ , bệnh tất thuyên giảm. Nếu hoá Phụ Mẫu hồi đầu khắc Tử Tôn tất bệnh có hơi bớt mà không cẩn thận trở thành nặng. Tử Tôn hoá Quan Quỷ cũng thế.

14.福 化 忌 爻 病 勢 增 加 於 小 愈
Phúc hoá Kị hào bệnh thế tăng gia ư tiểu dũ
Phúc Đức hoá Kị thần, bệnh đang nhẹ thành nặng.
Tử Tôn phát động chế ngự Quan Quỷ , bệnh tất thuyên giảm. Nếu hoá Phụ Mẫu hồi đầu khắc Tử Tôn tất bệnh có hơi bớt mà không cẩn thận trở thành nặng. Tử Tôn hoá Quan Quỷ cũng thế.

15.世撓兄弟飲食減省於平時
Thế nạo Huynh Đệ ẩm thực giảm tỉnh ư bình thì
Thế ở Huynh Đệ, ăn uống giảm hơn bình thường.
Huynh Đệ trì Thế ăn uống tất giảm, mà bệnh cũng do ăn uống nhiều.

16.用絕逢生危而有救
Dụng Tuyệt phùng sinh, nguy nhi hữu cứu
Dụng thần gặp Tuyệt mà được sinh thì nguy nhưng được cứu.
Phàm Dụng Thần gặp Tuyệt nhưng được động hào ở trong quẻ sinh, gọi là “Tuyệt xứ phùng sinh” , tượng trong hung có cát. Tuy nguy nhưng được cứu.

17.主衰得助重亦何妨
Chủ suy đắc trợ, trọng diệc hà phương
Chủ tượng suy nhưng được trợ giúp thì bệnh nặng cũng được cứu.
Dụng Thần không nên quá yếu, yếu tất thân bệnh nhân không còn sức, khó lành được. Nếu được Nhật thần, động hào sinh hợp, phò trợ tất rất tốt, nếu bệnh thật nặng cũng không chết được.

18.鬼伏空亡備衣冠防不測
Quỷ phục Không vong bị y quan phòng bất trắc
Quan Quỷ lâm Không, chuẩn bị áo mũ phòng khi bất trắc.
Câu này chỉ dùng cho bệnh của cha mẹ, quan lớn và chồng. Nếu Quan hào phục mà lâm Không tất phòng bất trắc.

19.日辰帶鬼亟而祈禱保無虞
Nhật thần đới Quỷ cức nhi kỳ đảo bảo vô ngu
Nhật thần ở Quỷ, gấp cầu đảo để khỏi lo.
Như Nhật thần là Quan Quỷ sinh hợp hào Thế, hoặc hào Dụng thì nên cầu đảo. Xem sinh hợp với Thần gì, như với Thanh Long là Hoa Phan Hương Nguyện, với Câu Trần Thổ Địa, Thành Hoàng, Chu Tước là Hương Đăng Khẩu Nguyện, Đằng Xà là Bách Tính Kinh Thần, với Bạch Hổ là Thương Ty Ngũ Đạo, Huyền Vũ là Huyền Đế Bắc Âm. Dương tượng, Dương hào là Thần; Âm tượng và Âm hào là Quỷ. Nay chỉ trình bày sơ lược, xem kỹ chương Quỷ Thần ở sau mà đoán mới đúng, không thể đoán càn để khỏi hao tiền bạc của người ta.

20. 動化父來冲 剋勞役堪憂
Động hoá Phụ lai xung khắc lao dịch kham ưu
Động hoá Phụ đến xung khắc đừng nên lo lắng vât vả.
Trong quẻ Phụ Mẫu động đến xung khắc Dụng Thần hoặc Dụng Thần động biến thành Phụ Mẫu không xung khắc nên tự tại ít làm việc vất vả, nếu không thì bệnh tái phát trầm trọng .

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 65

0

Chương 23

TẬT BÊNH

疾 病

(Tuvivietnam – siêu tầm)

I. BỆNH CHỨNG

病 症

人 孰 無 常 疾 病 無 常
事 孰 為 大 死 生 為 大
Nhân thục vô thường, tật bệnh vô thường
Sự thục vi đại, tử sinh vi đại
Vô thường của người ta là gì ? Bệnh tật là vô thường
Sự việc lớn lao là gì ? Sống chết là lớn lao.
Phàm xem bệnh chứng dùng hào Quan để xem nặng nhẹ, dùng hào độc phát cũng có thể suy được.

1. 火 屬 心 經 發 熱咽 乾 口 燥

水 歸 腎 部 惡 寒 盜 汗 遺 精

金 肺 木 肝 土 乃 病 侵 脾 胃

衰 輕 旺 重 動 則 煎 迫 身 軀

Hoả thuộc tâm kinh, phát nhiệt yết can khẩu táo.

Thuỷ qui thận bộ, ác hàn đạo hãn di tinh

Kim phế, Mộc can, Thổ nãi bệnh xâm tì vị

Suy khinh vượng trọng, động tắc tiễn bách thân khu

Hoả thuộc kinh của tim, làm phát nhiệt cổ miệng khô ran

Thuỷ qui về thận, rét lạnh, mồ hôi trộm, di tinh

Kim thuộc phổ, Mộc thuộc gan, Thổ là bệnh xâm vào tì vị

Suy thì nhẹ, vượng thì nặng, động làm khốn khổ tấm thân,

Quỷ hào thuộc Hoả, tim bị bệnh, thuộc chứng tất phát nóng, họng miệng khô khan. Thuỷ thuộc thận kinh, bị bệnh thuộc chứng rét lạnh, xuất mồ hôi trộm hoặc di tinh, bạch trọc. Kim thuộc phế kinh, bị bệnh thuộc chứng ho, hoặc suyển đàm chẳng hạn. Mộc thuộc can kinh, bị bệnh, tất thuộc chứng cảm mạo, phong hàn hoặc tay chân uể oải. Thổ thuộc tì kinh, bệnh tất thuộc chứng hư hoàng, phù trủng, hoặc bị ôn dịch do thời khí. Nếu hào Quỷ suy nhược tất bệnh nhẹ, vượng tướng tất bệnh nặng, an tĩnh tất yên ổn, động tất phiền toái.

2. 坤 腹 乾 頭 兌 必 喉 風 咳 嗽
艮 手 震 足 巽 須 癱 瘓 腸 風
Khôn phúc, Càn đầu, Đoài tất hầu phong khái thấu.
Cấn thủ, Chấn túc, Tốn tu than hoán trường phong
Khôn là bụng, Càn là đầu , Đoài tất cổ họng ho gió
Cấn là tay, Chấn là chân, Tốn phải tê liệt, hoặc đường ruột.
Quỷ tại cung Khôn, trong bụng bị bệnh. Hoả Quỷ thì sưng viêm trong bụng, Thuỷ Quỷ thì đâu đớn trong bụng, động hoá Tài hoặc hoá Thuỷ Quỷ thì bị thổ tả kiết lị, Thổ quỷ thì u trong bụng, cổ trướng, Mộc Quỷ thì bệnh ruột thắt, sa ruột, hoặc bệnh ở ruột già, Kim Quỷ đau ở sườn, ở thường quái thì đau tại ngực, hạ quái thì đau ở thắt lưng. Đây là đoán Quỷ tại cung Khôn, ở các cung khác cũng phỏng theo như thế.

3. 螣 蛇 心 驚 青 龍 則 酒 色 過 度
勾 陳 腫 脹 朱 雀 則 言 語 顛 狂
白 虎 損 傷 女 子 則 血 崩 血 暈
玄 武憂 鬱 男 人則 陰 症 陰 虛
Đằng Xà tâm kinh, Thanh Long tắc tửu sắc quá độ
Câu Trần thủng trướng, Châu tước tắc ngôn ngữ điên cuồng
Bạch Hổ tổn thương, nữ tử tắc huyết băng huyết vựng.
Huyền Vũ ưu uất, nam nhân tắc âm chứng âm hư .
Đằng Xà thì tâm sợ hãi, Thanh Long thì tửu sắc quá độ
Câu Trần thì sưng trương, Chu Tước thì ăn nói điên cuồng.
Bạch Hổ thì thương tích, đàn bà thì bị chứng băng huyết, vưng đầu vì máu
Huyền Vũ thì ưu uất, đàn ông bị âm chứng âm hư.
Đằng Xà ở Quỷ thì nằm ngồi không yên, tâm thần bất định. Thanh Long tại Quỷ thì tửu sắc quá độ, yếu đuối không còn sức. Câu Trần tại Quỷ thì bụng sưng trương, tì vị không hoà. Chu Tước tại Quỷ thì ăn nói điên cuồng, thân nóng mặt đỏ. Bạch Hổ tại Quỷ thì té ngã, khí muộn thương gân tổn cốt, nếu phụ nữ thì bị băng huyết, chóng mặt, các chứng sau khi sinh, vì Bạch Hổ là huyệt thần cho nên mới vậy. Huyền Vũ tại Quỷ sắc dục quá độ, lòng lo buồn, tại bản cung chủ âm hư, hoá Tử Tôn thì người nam bị âm chứng âm hư, vì Huyền Vũ vốn là Thần ám muội. Khi đoán phải thông biến.

4. 鬼 伏 卦 中 病 來 莫 覺
鬼 藏 世 下 病 起 如 前
Quỷ phục quái trung bệnh lai mạc giác
Quan tàng Thế hạ bệnh khởi như tiền.
Quỷ phục trong quẻ, bệnh đến chẳng rõ nguyên do
Quan phục tại Thế bệnh cũ tái phát.
Gặp Quan Quỷ không xuất hiện tất ân, bị bệnh không hiểu vì sao. Quan Quỷ phục tại Thế tất bệnh cũ tái phát.

5若 伏 妻 財 必 是 傷 饑 失 飽
如 藏 福 德 定 然 酒 醉 耽 淫
父 乃 勞 傷 所 至
兄 為 氣 食 相 侵
Nhược phục Thê Tài tất thị thương cơ thất bão.
Như tàng Phúc Đức định nhiên tửu tuý đam dâm.
Phụ nãi lao thương sở chí – Huynh vi khí thực tương xâm
Nếu phục tại Thê Tài tất bị thương thực hoặc đói
Nếu phục tại Phúc Đức chắc say sưa dâm dật.
Phụ Mẫu là đau vì lao lực
Huynh Đệ là vì ăn uống mà đau.

6. 官 化 官 新 舊 兩 病
鬼 化鬼 遷 變 百 端
Quan hoá Quan, tân cựu lưỡng bệnh
Quỷ hoá Quỷ, thiên biến bách đoan
Quan hoá Quan, bị bệnh cũ lẫn bệnh mới
Quỷ hoá Quỷ thì biến đổi trăm điều).
Trong quẻ xuất hiện hào Quan mà biến thành Quan, chủ bệnh cũi và mới. Lại như hào Quan hoá Tấn thần, tất bệnh nặng thêm, hoá Thoái thần tất bệnh giảm.

7. 化 出 文且 在 五 爻 則 途 中 遇 雨
變 成 兄 弟 居 三 位 則 房 內 傷 風
Hoá xuất Văn thư tại ngũ hào tắc đồ trung ngộ vũ
Biến thành Huynh Đệ cư tam vị tắc phòng nội thương phong.
Hoá thành Phụ Mẫu ở hào ngũ thì giữa đường gặp mưa
Biến thành Huynh Đệ ở hào tam bị trúng gió trong phòng.
Hoá trhành Phụ Mẫu tất ở nới sửa sang mà bị bệnh, nếu ở hào ngũ thuộc Thuỷ thì giữa đường đội mưa mà bệnh. Nếu hoá Huynh Đệ tất vì miệng lưỡi mà nôn, hoặc bị thương thực, nếu ở hào ba thì trong phòng cởi áo mà cảm gió lạnh. Nếu hoá Tử Tôn thì ở ở tại chùa quán, hoặc đi săn bắn. Hoá Thê Tài thì bị thương thực hoặc vị vợ, tôi tớ hoặc vì mua bán. Lục Thân hoá thành Quan Quỷ cũng theo như trên mà đoán.

8. 本 宮 為 在 家 得 病 下 必 內 傷
他 卦 為 別 處 染 災 上 須 外 感
Bản cung vi tại gia đắc bệnh, hạ tất nội thương
Tha quái vi biệt xứ nhiễm tai, thượng tu ngoại cảm.
Tại bản cung thì bị bệnh ở nhà, hạ quái tất bị nội thương
Ở tha quái tất nhiễm bệnh ở nơi khác, ở thượng quái tất bị ngoại cảm.
Quỷ ở bản cung[1] thì bị bệnh tại nhà, ở ba hào dưới tất bị chứng nội thương. Ở ngoại cung thì bị bệnh ở ngoài nhà , lại ở ba hào trên thì cảm phong tà. Thượng hạ quái đều có Quan hào thì bị cả chứng nội thương và ngoại cảm.

9. 上 實 下 空 夜 輕 日 重
Thựơng thực hạ Không dạ khinh nhật trọng
Trên thực, dưới Không thì bệnh đêm nhẹ ngày nặng.
Quỷ tại nội cung tất đên nặng, Quỷ tại ngoại quái thì ban ngày bệnh nặng. Nếu quẻ có hai hào Quỷ , một vượng một lâm Không hoặc một động một tĩnh thì ngày bệnh nặng, đêm bệnh nhẹ.

10. 動 生 變 剋 暮 熱 朝 涼
Động sinh biến khắc, mộ nhiệt triêu lương
Động sinh, biến thành khắc thì tối nóng sáng mát.
Nói chung thì hào động là khởi đầu, hào biến là cuối cùng. Nếu động hào sinh phò Dụng thần mà biến hào hình khắc Dụng thần thì sáng mát tối nóng, ngày nhẹ đêm nặng. Nếu động hào khắc mà biến hào sinh thì đoán ngược lại.

11. 水 化 火 火 化 水 往 來 寒 熱
Thuỷ hoá Hoả, Hoả hoá Thuỷ vãng lai hàn nhiệt
Thuỷ hoá Hoả, Hoả hoá Thuỷ thì khi nóng khi lạnh mãi.
Thuỷ hoá Hoả, Hoả hoá Thuỷ không cần là hào Quan Quỷ nhưng có liên hệ đến chủ tượng[2] đều là chứng nóng lạnh đổi thay mãi. Có hai hào Thuỷ và Hoả đều độngcũng vậy. Thuỷ vượng Hoả suy thì lạnh nhiều nóng ít. Nếu Thuỷ bị thương mà Hoả được trợ giúp thì đang nóng chợt lạnh. Cung Khảm mà Hoả động thì trong lạnh ngoài nóng, cung Li Thuỷ động thì da lạnh mà xương nóng. Nếu mang Nhật thần tất chứng sốt rét.

12.上 冲 下 下 冲 上 內 感 外 傷
Thượng xung hạ, hạ xung thượng nội ngoại cảm thương.
Trên xung dưới, dưới xung trên thì trong ngoài đều cảm thương.
Thương hạ quái đều có hào Quỷ tất bệnh cả bên trong và bên ngoài. Hai hào Quỷ đều động, đều tĩnh trong ngoài đều cảm bệnh. Hai hào Quỷ tự xung nhau thì khi bệnh khi lành.

13. 火 鬼 冲 財 上 臨 則 嘔 逆 多 土
Hoả Quỷ xung Tài thượng lâm tắc ẩu nghịch đa thổ
Hào Quỷ thuộc Hoả xung Tài ở thượng quái thì nôn mửa nhiều.
Hoả tính nóng bốc lên trên, Tài là ăn uống. Cho nên xem bệnh gặp Quỷ thuộc Hoả động khắc Tài[3] ở ngoại quái thì nôn mửa nhiều không ăn uống được.

14. 水 官 化 土 下 直 則 小 便 不 通
Thuỷ Quan hoá Thổ hạ trực tắc tiểu tiện bất thông
Hào Quỷ thuộc Thuỷ ở dưới tất tiểu tiện không thông.
Quan hào Thuỷ hoá ra Thổ hồi đầu khắc tại hào sơ của bản cung, thì tiểu tiện không thông, thuộc âm thì đại tiện không thông. Dương cung âm tượng, âm cung dương tượng thì cả đại tiểu tiện đều không thông. Nếu hào dương mà có thêm Bạch Hổ thì đái ra máu; hào âm thì ỉa ra máu, vì Bạch Hổ là Huyết thần. Bị hình kắc thì mắc bệnh trĩ, lậu.

[1] Bản cung là chỉ ở quẻ chính ban đầu giưo được, còn tha quái tất quẻ biến.

[2] chỉ Dụng Thần

[3] Câu này chú giải không đúng, vì Quan Quỷ không thể khắc Thê Tài. Thê Tài luôn luôn sinh Quan Quỷ.

15. 若患牙 疔 兌 鬼 金 連 火 煞
Nhược hoạn nha đinh, Đoài Quỷ kim liên hoả sát
Nếu bệnh đau răng tất Quỷ ở cung Kim gặp Hoả sát.
Quỷ ở cung Đoài, đau ở miệng. Nếu Kim Quỷ hoá Kị thần , hoặc Kị thần hoá Kim Quỷ tất sưng răng. Không hoá thành Kị thần tất chỉ bị răng đau. Quỷ tĩnh gặp xung thì răng bị lung lay.

16. 如 生 腳氣震 宮 土 h化 木 星
Như sinh cước khí Chấn cung Thổ hoá Mộc tinh
Nếu đau do khí ở chân tất Thổ ở cung Chấn hoá Mộc).
Quỷ ở cung Chấn thì bệnh ở chân, thêm Câu Trần thì sưng chân, thêm Bạch Hổ thì gãy hoặc thương tích. Quỷ thuộcThổ hoá Mộc thì đau chân vì khí, Mộc Quỷ thì buốt tê chân, Thuỷ Quỷ thì đau vì thấp khí, Hoả quỷ thì mụt nhọt độc, Kim quỷ thì đau xương, hoặc thương tích ở chân vì dao kéo.

17. 鬼 在 離 宮化水 痰 火 何 疑
官來 乾 象 變 木 頭 風 有 準
震 遇 螣 蛇 乃 發 動 驚 悸 顛 狂
艮逢 巳 午 又 交 重 癰 疽 瘡 毒
Quỷ tại Li cung hoá Thuỷ đàm hoả hà nghi
Quan lai Càn tượng biến Mộc đầu phong hữu chuẩn.
Chấn ngộ Đằng Xà nãi phát động kinh quí điên cuồng,
Cấn phùng Tỵ Ngọ hựu giao trùng ung thư sang độc.
Quỷ ở cung Li hoá Thuỷ thì bị đàm vì hoả chẳng có gì nghi ngờ
Quan ở cung Càn hoá Mộc chắc chắn là đau đầu bởi gió.
Ở cung Chấn gặp Đàng Xà mà động thì sợ hãi điên cuồng
Ở cung Cấn mà tại Tỵ Ngọ lại giao động thì sưng mụt nhọt độc.
Quỷ ở cung Li hoá Thuỷ bị chứng đàm do hoả, Thuỷ động hoá Quỷ cũng vậy. ở cung Càn Quỷ hoá Mộc tất choáng váng do đầu bị gió, Mộc động biến ra Quỷ cũng thế. Chấn ở ngoại quái chớ đoán là ở chân, có thể đoán là nằm ngồi không yên , tâm thần hoảng hốt. Vôn Chấn chủ động cho nên như thế. Lại thêm Đằng à phát động tất bệnh động kinh, điên cuồng, con nít thì bệnh kinh phong, gặp xung thì tất lo về leo tường, leo lên nóc nhà. ở cung Cấn gặp Hoả Quỷ tất chứng ung thư. Nếu biến ra Thổ Quỷ có thể đoán là sưng thủng chẳng hạn. Ngoài ra cứ theo thế mà suy.

18. 卦 內 無 財 飲 食 不 納
Quái nội vô Tài ẩm thực bất nạp
Trong quẻ không có hào Tài, ăn uống chẳng được.
Tài hào chủ ăn uống, nếu lâm Không thì ăn uống chẳng được, cò không hiện trong quẻ thì không nghĩ đến việc ăn uống.

19. 間 中 有 鬼 胸 膈 不 寬
Gian trung hữu Quỷ hung cách bất khoan
Gian hào có Quỷ thì lồng ngực không được khoan khoái.
Phần giữa Thế và ứng là lồng ngực của bệnh nhân. Quỷ hào ở đấy thì bế tắc không thông. Nếu Kim Quỷ thì đau xương lòng ngực, Thổ Quỷ thì ăn no tức ngực, Mộc Quỷ tất ngứa ho, Thuỷ quỷ thì đàm chận ngực, Hoả quỷ phần lớn đau ngực. Nếu hoá Tài hoặc Tài hào hoá Quỷ ăn không tiêu mà tức ngực.

20. 鬼 絕 逢 生 病 體 安 而 復 作
Quỷ Tuyệt phùng sinh bệnh thể an nhi phục tác
Quỷ Tuyệt nhưng được sinh, bênh đã yên nhưng trở lại.
Quan Quỷ gặp Tuyệt bệnh tất nhẹ, nếu được sinh phò tất gọi “tuyệt xứ phùng sinh” bệnh đương nhiên trở lại.

21. 世 衰 入 墓 神 思 困 而 不 清
Thế suy nhập Mộ, thần tư khổn nhi bất thanh
Thế suy nhập Mộ, bệnh hôn trầm mà chẳng biết gì.
Thế hào nhập Mộ, bệnh tất hôn trầm, nếu vượng tướng hữu khí thì uể oải. Suy thì chắngr nói năng được, sợ mê man không ăn uống thích ngủ, biếng nhác không thích mở mắt. Nếu ở âm cung tất bị chứng liên quan đến người âm. Dùng hào nhập Mộ, Quỷ Mộ lâm Dụng thần, hoặc Nguyên thần nhập Mộ đều đoán như thế.

22. 應 鬼 合 身 纏 染 他 人 之 症
Ứng Quỷ hợp Thân triền nhiễm tha nhân chi chứng
Hào Ứng là Quỷ hợp với Thân là lây bệnh người khác.
Ứng lâm Quan Quỷ hình khắc hoặc hợp với Dụng thần thì nhân thăm người thân bạn bè mà lây bệnh. Quỷ hào thuộc Thổ tất bị bệnh thời khí. Dụng thần lâm Ứng thì bị bệnh phải nằm nhà người khác.

23. 世 官 傷 用 重 發 舊 日 之 災
Thế Quan thương Dụng trùng phát cựu nhật chi tai
Quan ở Thế thương khắc Dụng thần, bệnh ngày xưa lại tái phát.
Đại để hào Quan trì Thế tất nhiên vốn trước kia có bệnh, nếu thương khắc Dụng thần thì bệnh cũ tái phát. Quái thân trì Quỷ cũng thế.

24. 用 受 金 t傷 肢 體 必 然 酸 痛
主 遭 木 剋 皮 骨 定 見 傷 殘
火 為 仇 則 喘 咳 之 災
水 來 害 則 恍 惚 之症
Dụng thụ Kim thương chi thể tất nhiên toan thống
Chủ tao Mộc khắc bì cốt định kiến thương tàn.
Hoả vi cừu tắc suyển khái chi tai
Thuỷ lai hại tắc hoảng hốt chi chứng.
Dụng bị Kim hại tất thân thể đau ê ẩm,
Dụng gặp Mộc khắc thì xương da bị thương tích
Hoả là kẻ thù thì bị ho hen,
Thuỷ đến hại thì bị chứng dật dờ.
Nếu Kim động khắc thì hào Mộc bị thương, các khớp xương đau nhức. Mộc động khắc thì hào Thổ bị chế, da xương bị thương tổn. Ngoài ra cứ phỏng theo thế mà suy.

25. 空 及 第 三 此 病 須 知 腰 軟
Không cập đệ tam thử bệnh tu tri yêu nhuyễn.
Không ở hào thứ ba, phải biết bệnh này là đau lưng.
Hào thứ ba như lâm Khônglà đau lưng. Hoặc vương tướng mà lâm Không là đau lưng, không lâm Không mà bị động hào, Nhật thần, Quan Quỷ xung khắc thì đau nhói ở lưng. Đông lâm Không cũng thế. Quỷ ở hào này cũng chủ đau lưng.

26. 官 傷 上 六 斯 人 當 主 頭 疼
Quan thương thượng lục nhân đương chủ đầu đông

Quan hại hào thượng lục thì người đó bị đau ở đầu.

Không chỉ Quan Quỷ khắc hào thương lục thì chủ đau đầu, tức như Quan Quỷ lâm ở đâu cũng chủ đau ở đó. Nếu Quan Quỷ khắc gian hào hoặc lâm gian hào đều chủ phần ngực không tốt. Kị thần cũng đoán như thế. Ngoài ra cứ theo đó mà suy.

27. 財 動 卦中 非 吐 則 瀉
Tài động quái trung, phi thổ tắc tả
Tài ở trong quẻ không mửa thì tả.
Tài hào động ở thượng quái chủ mửa, động ở hạ quái chủ tả. Nếu gặp hợp tất muốn mửa mà không mửa được, muốn tả mà không tả được.

28. 木 興 世 上 非 痒 則 疼
Mộc hưng Thế thượng, phi dưỡng tắc đông.
Mộc động ở Thế không ngứa thì đau.
Hai hào Dần Mão thuộc Mộc, Dần mộc chủ đau, Mão mộc chủ ngứa,

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 64

0

Chương 22

XƯỚNG GIA

娼 家

(Tuvivietnam – siêu tầm)

NHÀ ĐIẾM

養本 [1] 身 於 花 柳 之 家 曰 娼 曰 妓
識 禍 福 於 幾 微 之 際 惟 蓍 惟 龜
花 街 托 迹 – 柳 巷 安 身
門 外 紛 紛 總 是 風 流 子 弟
窗 前 濟 濟 無 非 歌 舞 佳 人
若 要 安 甯 必 得 世 無 冲 剋
欲 求 稱 意 還 須 應 去 生 扶
Dưỡng bản thân ư hoa liễu chi gia viết xướng viết kỹ
Thức hoạ phúc ư cơ vi chi tế duy thi duy qui
Hoa triệt thác tích – Liễu hạng an thân
Môn ngoại phân phân tổng thị phong lưu tử đệ
Song tiền tễ tễ vô phi ca vũ giai nhân
Nhược yếu an ninh tất đắc Thế vô xung khắc
Dục cầu xứng ý hoàn tu Ứng khứ sinh phù
Nuôi thân ở ngõ liễu hoa gọi điếm gọi đĩ
Biết sâu sắc về hoạ phúc chỉ qui chỉ thi[2]
Giấu tích lối hoa – An thân ngõ liễu
Ngòai cổng tới lui con em giới phong lưu
Trước song tràn đầy ca vũ giai nhân
Muốn được an ổn cần Thế không xung khắc
Mong cầu vừa ý lại cần Ứng đến sinh phò
Phàm nhà chứa bói xem việc làm ăn nơi đó đều lấy hào Thế làm người chủ nhà, Ứng làm khách chơi. Nếu Nguyệt kiến, Nhật thần, động hào đều không hình xung khắc Thế tất chủ nhà cửa tốt lành lợi ích, mọi người an ổn.

1. 卦 見 六 冲 往 來 亦 徒 迎 迓
Quái kiến Lục xung vãng lai diệc đồ nghênh nhạ
Gặp quẻ Lục xung qua lại chỉ là bọn đưa rước.
Xung là tán. Nếu gặp quẻ Lục xung hợp hợp xứ phùng xung, không chỉ khách vãng lai không có ơn gì mà còn phòng bị xua đuổi ở không an.

2. 爻 當 六 合晨 昏 幸 爾 盤 桓
Hào đương Lục hợp thần hôn hạnh nhĩ bàn hoàn
Gặp quẻ Lục hợp may mắn được khách loanh quanh.
Được quẻ Lục hợp rất tốt. Hợp tất tình ý khắn khít, chủ nhân được nhiều chiếu cố, trong ngoài hoà đồng, gia đình hoà thuận.

3. 財 若 空 亡 錢 樹 子 恐 防 傾 倒
Tài nhược Không vong tiền thụ tử khủng phòng khuynh đổ
Tài nếu lâm Không e phòng cây tiền ngã đổ.
Tài hào là điếm đĩ, nếu lâm Không hoặc suy tuyệt chịu khắc, chủ kỹ nữ táng vong. Hào Tài nếu xuất hiện nhiều , kỹ nữ vượng tướng tất nhan sắc xinh đẹp, suy nhược thì dung mạo không xinh, Hình thì bị bệnh; Nhật Nguyệt, động hào không sinh không hợp chư không có người quyến luyến.

4. 官 如 墓 絕 探 花 郎 那 得 棲 遲
Quan như Mộ Tuyệt, thám hoa lang na đắc thê trì
Quan như Mộ Tuyệt thì khách làng hoa nào có ở lâu.
Quan hào là khách trú, nếu động sinh hợp Thế hào thì nhiều khách buôn chiếu cố, lại thêm Nhật thần sinh phù thì có quí nhân đến, không nên gặp Không vong, Mộ Tuyệt.

5. 妻 財 官 鬼 二 者 不 可 相 無
Thê Tài Quan Quỷ nhị giả bất khả tương vô
Hai hào Thê Tài và Quan Quỷ không thể không có.
Không có Tài chủ không có gái xuất sắc; vô Quan chủ không đón tiếp được quí khách, tiền tài bị hao phá. Nếu Tài Quan đều Không hoặc một Không một phục thì thời vận không đến.

6. 財鬼 父 兄子 孫 皆 宜 不 動
Tài Quỷ Phụ Huynh Tử Tôn giai nghi bất động
Tài, Quỷ, Phụ, Huynh, Tử Tôn đều nên không động
Người thường xem nhà cửa nên Tử Tôn động, chỉ có nhà điếm thì không, vì Tử động khắc Quan . Nhưng nếu Quan động thì Tử cũng nên động . Mừng nhất là được Lục Thân an tĩnh. Cho nên mới bảo “đều không nên động”.

7. 鬼 煞 傷 身 火 盜 官 灾 多 恐 怖
Quỷ sát thương Thân, hoả đạo quan tai đa khủng bố
Quỷ sát hại Thân, hoả tai, trộm cướp, quan tai nhiều lo sợ


Quỷ hào sinh hợp Thế hào là tượng khách chơi mê mẫn, tuy động cũng tốt. Nếu xung khắc hình hại Thế là Quỷ sát gây hoạ, nặng thì quan tai, giặc cướp, nhẹ thì thị phi khẩu thiệt.
8. 日 辰 冲 父 住 居 屋 宅 有 更 張
Nhật thần xung Phụ, trú cư ốc trạch hữu canh trương
Nhật thần xung Phụ thì nhà cửa có đổi thay
Phụ Mẫu là hà ở. Nếu bị Nhật thần xung khắc hoặc Phụ Mẫu hoá thành Tài hào, chắc chắn có sự đổi thay, ở không lâu.

9. 兄 弟 交 重 罄 囊 用 度
Huynh Đệ giao trùng khánh nang dụng độ
Huynh Đệ phát động sạch túi để sống
Huynh Đệ chủ sống đạm bạc, nhiều hao tán, nếu được sinh phò không đủ sống qua ngày.

10. 子 孫 藏 伏 蹙 額 追 陪
Tử Tôn tàng phục túc ngạch truy bồi
Tử Tôn phục tàng vất vả qua ngày[3]
Tử Tôn là Thần Phúc đức, thần vui vẻ. Nhà chứa tuy không nên có Tử Tôn động nhưng Tử Tôn không thể phục tàng, chủ nhà cửa không yên, ở không ổn, đời sống không thịnh vượng.

11. 財 化 福 爻 家 出 從 良 之 妓
Tài hoá Phúc hào, gia xuất tòng lương chi kỹ
Tài hoá Phúc thì trong n hà có kỹ nữ hoàn lương
Không nên Tài động, động thì kỹ nữ đi mất. Nếu gặp xung khắc hoặc Không động cũng vậy. Nếu Tài hoá Tử hợp Ứng, kỹ nữ có ý hoàn lương, hoá Tử sinh Thế có thể gọi là cây làm tiền.

12. 官 居 刑 地 門 招 惡 病 之 人
Quan cư hình địa, môn chiêu ác bệnh chi nhân
Quan mang Hình thì rước người bị bệnh
Quan Quỷ mang Hình, sinh hợp Thế Thân, phần lớn đón rước người bệnh. Nếu sinh hợp với Thế,Hình xung với Tài, cần phòng vì kỹ nữ sẽ mắc bệnh.

13. 忌 動 衰 空 閑是 閑 非 閑 撓 舌
Kị động suy Không nhàn thị nhàn phi nhàn nạo thiệt
K ỵ thần phát động nhưng suy mà lâm Không nhàn rỗi dính vào chuyện thị phi.

Thần khắc Thế phát động, suy lâm Không tức bị chế, chẳng qua dính vào thị phi mà thôi, không bị chế thì chẳng tốt.

14. 財 興 剋 世 有 財 有 利 有 驚 憂
Tài hưng khắc Thế hữu tài hữu lợi hứu kinh ưu
Tài động khắc Thế, có tiền có lợi có lo âu.
Phàm hào Tài vượng tướng, không nên đôn gj thương khắc Thế hào. Vốn Tài là đầu mối sinh tai hoạ, tất nhiên vì tiền của mà gây hoạ.

15. 能 將 玄 理 以 推 詳
真 乃 黃 金 而 不 易
Năng tương huyền lý dĩ suy tường
Chân nãi hoàng kim nhi bất dị
Phải đem lý huyền diệu để suy rõ
Mới thật là vàng nên không đổi.

[1] Nguyên văn vế này thiếu mất một từ, phải thêm vào một chữ 本bản cho thích hợp.

[2] Qui là mai rùa, Thi là cỏ thi. Tức là hai lối bói Bốc và Phệ

[3] Nguyên văn “túc ngạch” là nhăn trán, “truy bồi” là “theo đuổi”. Ý nói vất vả theo cuộc sống

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 63

0

Chương 21

CHÂU THUYỀN

舟 船

(Tuvivietnam – siêu tầm)

THUYỀN BÈ

凡 卜 買 船 斷 同 船 户
Phàm bốc mãi thuyền đoán đồng thuyền hộ
Phàm bói về thuyền buôn cũng đoán như thuyền ở[1]
Phàm bói thuyền buôn hoặc thuyền thuê cũng giống nhau. Nếu người chủ thuyền tự bói lấy Gia trạch để đoán, chứ không theo phép này.

1.六 身 持 世 可 推 新 舊 之 由
Lục thân trì Thế khả suy tân cựu chi do
Lục thân ở Thế cho suy được nguồn gốc mới cũ
Phàm đoán thuyền mới hay cũ, dùng Lục thân trì Thế để quyết đoán. Nếu Tài, Phúc thì mới, Phụ Mẫu thị cũ, Huynh Đệ thì nửa mới nửa cũ, Quan Quỷ thì nhiều tai hoạ. Lại lấy vượng tướng để quyết đoán.

2. 諸 鬼 動 臨 可 識 節 病 之 處
Chư Quỷ động lâm khả thức tiết bệnh chi xứ
Ở nơi hào Quỷ động lâm có thể biết chỗ hư hại
Kim Quỷ thì đinh thiếu, Thổ Quỷ thì thiếu bùn, Mộc Quỷ thì phải vá, Thuỷ Quỷ thì có nơi rò, Hoả Quỷ thì nức nẻ.

3. 二 爻 為 前 倉 要 持 財 福
五 爻 為 後 舵 怕 見 官 兄
Nhị hào vi tiền sương yếu trì Tài Phúc
Ngũ hào vi hậu đà phạ kiến Quan Huynh
Hào nhị là khoang trước, cần trì Tài Phúc
Hào ngũ là bánh lái sợ gặp Quan Huynh
Hào sơ,hào nhị là khoang trước, hào tam tứ là khoang giữa, hào ngũ lục là bánh lái ở sau.

4. 父 作 梢 公 不 宜 傷 剋
Phụ tác sao công bất nghi thương khắc
Phụ là người lái không nên thương khắc


Bói về thuyền lấy Phụ Mẫu làm thuyền, bói về điều khiển thì Phụ Mẫu là người lái. Phụ hào cần vượng tướng sinh hợp hào Thế là tốt, nếu phát động thương khắc hào Thế là hung.

5. 龍 為 船 尾 豈 可 空 刑
Long vi thuyền vĩ, khởi khả Không hình
Long là đuôi thuyền, há lại Không hình
Thanh Long là đuôi thuyền, lâm Tài Phúc, vượng động trì Thế, sinh hợp Thế chủ lợi ích vừa ý.

6. 螣 蛇 辨 索 纜 之 堅 牢
Đằng Xà biện sách lãm chi kiên lao
Đằng Xà là để luận về chắc chắn của dây neo
Đằng Xà là giây neo thuyền, hưu tù lâm Không thì khô cháy, vượng tướng trì cát thần thì rắn chắc.

7. 白 虎 為 帆 檣 之 順 利
Bạch Hổ vi phàm tường chi thuận lợi
Bạch Hổ là thuận lợi của cánh buồm cột buồm.
Bạch Hổ thuộc Phong cho nên lấy làm buồm. Nếu sinh vượng mà ở Tài Phúc, cát thần, động mà sinh hợp Thế, trì Thế Thân tất thuyền có buồm tốt khiến gió thuận lợi đi nhanh. Nếu Bạch Hổ đới hungQuỷ, ác sát vượng động khắc hại Thế Thân hoặc gặp quái phản ngâm, chủ không có gió hoặc bị gió lật thuyền.

8. 六 爻 皆 吉 不 傷 身
四 海 遨 遊 無 阻 滯
Lục hào giai cát bất thương Thân
Tứ hải ngao du vô trở trệ
Sáu hào đều tốt không thương hại Thân
Ngao du bốn biển không trở ngại.
Sáu hào sinh hợp Tài Phúc, cát thần lại sinh vượng trì Thế, trì Thân. Động hào lại không thương khắc thì đi đâu cũng tốt, tuy đi xa bốn biển ngũ hồ cũng đều thuận lợi.

[1] Nguyên văn là Thuyền hộ, chỉ những người sinh sống bằng thuyền trên sông nước.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 62

0

26. 四 爻 兄 弟 方 言 戶
四 二 相 合 主 大 門

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Tứ hào Huynh Đệ phương ngôn hộ
Tứ Nhị tương hợp chủ đại môn.
Hào tứ Huynh Đệ mới nói là cửa,
Hào tứ và nhị tương hợp chủ cổng lớn.
Theo cổ pháp, hào tam là cổng, hào tứ là cửa, nhưng không có Huynh Đệ lâm vào đấy không thể đoán là cổng cửa. Nếu Huynh Đệ lâm hào tứ thì đoán là cửa. Hào tứ hậơc động hoặc tĩnh tương hợp với hào nhị thì quyết đoán là cổng lớn.

27. 未 變 鬼 臨 弟 四 位
畜 羊 不 利 見 災 迍
Mùi biến Quỷ lâm đệ tứ vị
Súc dương bất lợi kiến tai truân.
Mùi biến Quỷ lâm hào tứ
Dê nuôi bất lợi gặp tai hoạ.
Mùi hào ở hào tứ đoán là dê, biến thành Quan Quỷ thì nuôi dê bị hao tổn.

29. 玄 武 官 鬼 門 破 漏
青 龍 財 福 喜 更 新
Huyền Vũ Quan Quỷ môn phá lậu
Thanh Long Tài Phúc hỉ canh tân

Huyền Vũ ở Quan Quỷ thì công hư phá,
Thanh Long ở Tài Phúc mừng đổi mới.
Hào tứ nếu lâm Huyền Vũ Quan Quỷ thì cổng bị hư nát. Nếu lâm Thanh Long Tài Phúc sinh hợp với hào nhị thì nhà có đổi mới.

30. 朱 雀 臨 官 主 獄 訟
Chu Tước lâm Quan chủ ngục tụng
Chu Tước lâm Quan Quỷ chủ có kiện tụng
Hào tứ lâm Quan Quỷ có Chu Tước chủ có kiện tụng và việc quan.

31. 玄 武 乘 兄 有 水 侵
Huyền Vũ thừa Huynh hữu thuỷ xâm
Huyền Vũ ở Huynh Đệ là có nưỡcâm n hập
Nếu Huyền Vũ lâm Huynh Đệ không thể dùng Huynh Đệ để đoán là cửa, mà luận là có nước ở ao, đầm xâm nhập vào nơi ở. Nếu xung khắc với hào nhị thì có trở ngại cho chỗ ở.

32. 兄 弟 螣 蛇 臨 爻 位 鄰 人 坑 廁 礙 家 庭
Huynh Đệ Đằng Xà lâm hào vị, lân nhân khanh xí ngại gia đình.
Huynh Đệ có Đằng Xà thì hố xí hàng xóm gây trở ngại cho gia đình.
Hào tứ là Huynh Đệ có Đằng Xà không thể vì Huynh Đệ mà đoán là cửa, mà đoán hàng xóm có hố phá bỏ làm gây trở ngại.

33. 旬 空 月 破 當 爻 見
不 是 無 門 是 破 門
Tuần không, Ngưyệt phá đương hào kiến
Bất thị vô môn thị phá môn
Hào này bị Tuần không, Nguyệt phá
Thì chẳng phải là không có cổng mà cổng bị hư hại.
Nếu hào tứ lâm Không, Nguyệt phá thì nên đoán là không có cửa lớn hoặc cửa bị hư hại.

34. 冲 剋 相 乘 旁 出 入
外 族 不 應 將 此 論
Xung khắc tương thừa bàng xuất nhập
Ngoại tộc bất ưng tương thử luận.
Xung khắc thì ra vào cổng bên

Không luận là người khác họ.
Hoa tứ bị xung khắc tất chủ ra vào bằng cổng bên. Còn luận là người khác hgọ như Dịch Lâm Bổ Di là không co căn cứ.

35. 財 剋 子 臨 傷 父 母
陰 陽 兩 斷 內 中 分
Tài khắc Tử lâm thương Phụ Mẫu
Âm Dương lưỡng đoán nội trung phân.
Tài khắc Tử lâm hại Phụ Mẫu
Ám Dương phân biệt rõ bên trong mà đoán.
Tài động khắc Phụ , nếu hào Tử Tôn động mà trợ giúp Tài chủ Phụ Mẫu bị hại. Nếu Phụ Mẫu thuộc dương thì khắc cha, thuộc âm thì khắc mẹ . Sáu hào trong quẻ như vậy mà đoán. Phép xưa lấy hào tứ làm vị trí của mẹ mà đoán khắc mẹ là rất sai lầm.

36. 五 爻 剋 二 人 口 甯
官 連 蛇 鬼 長 房 迍
Ngũ hào khắc nhị, nhân khẩu ninh
Quan liên xà Quỷ, trưởng phòng truân.
Hào ngũ khắc hào nhị, mọi người an ổn
Quan kết với Xà, gia trưởng khó khăn.
Hào ngũ là hào nhân khẩu, khắc hào nhị thì nhân khẩu an ổn, nhưng động mà khắc hào trạch thì không nên. Lại cần dùng sinh khắc của Lục thân để luận. Như hào nhị động khắc hào ngũ thì chỗ ở này không an ổn. Hào ngũ lại là gia trưởng , trưởng tử. Nếu Quan Quỷ cùng Xà, Hổ trì đấy chủ trưởng phòng gặp tai ách.

37. 若 遭 白 虎 刑 冲 剋
主 有 驚 癇 不 得 生
Nhược tao Bạch Hổ hình xung khắc
Chủ hữu kinh giản bất đắc sinh.
Nếu hào ngũ bị Bạch Hổ , hào đọng hình xung khắc hại lại không đoán là gia trưởng, con trưởng, lại đoán nhà này có kẻ bị bệnh động kinh, khó chửa mà không sống lâu.

38. 世 臨 陰 位 女 為 政
財 爻 持 世 贅 為 姻
Thế lâm âm vị nữ vi chính
Tài hào trì Thế chuế vi nhân
Thế ở hào âm phụ nữ làm chủ,

Tài hào trì Thế thì gởi rể.
Nếu Thế ở hào ngũ thuộc âm chủ nhà này vợ làm chủ, quản lý công việc. Thê Tài trì Thế mà ở hào này thì người này đi gởi rể, không phải phụ nữ làm chủ.

39. 若 是 二 爻 冲 剋 破
當 家 夫 妻 少 恩 情
Nhược thị nhị hào xung khắc phá,
Đương gia phu phụ thiểu ân tình.
Nếu bị hào nhị xung khắc phá,
Thì trong nhà này vợ chồng kém yêu thương.
Nếu như hào nhị như gặp xung phá thì lại luận vợ chồng bất hoà, không đoán là gởi rể.

40. 水 臨 世 合 水 遶 屋
兄 弟 臨 時 牆 有 坑
Thuỷ lâm Thế hợp, thuỷ nhiễu ốc,
Huynh Đệ lâm thì, tường hữu khanh.
Thuỷ ở Thế mà hợp thì nước vây quanh nhà
Huynh Đệ lâm thì tường có cống .
Ngũ hào thuộc Thuỷ sinh hợp với hào nhị, hoặc sinh hợp với hào Thế chủ chung quanh nhà có nước vây quanh. Nếu lâm Huynh Đệ chủ trong tường có cống

41. 丑 土 剋 冲 牛 不 利
椿 庭 休 咎 父 爻 尋
Sửu thổ khắc xung ngưu bất lợi,
Xuân đình hưu cửu Phụ hào tầm
Sửu thổ khắc xung thì trâu chẳng lợi,
Xem tốt xấu của cha thì tìm hạo Phụ
Nếu hào Sửu phát động khắc hào ngũ hợc hình xung hào ngũ, nuôi trâu chẳng lợi. Nếu lấy hào ngũ là Phụ Mẫu tất sai lầm. Muốn xem hung cát cho cha nên luận sinh khắc ở hào Phụ.

42. 六 爻 財 位 論 奴 丁
父 母 相 臨 祖 輩 人
陽 木 棟 梁 陰 是 柱
官 庫 侵 之 乃 是 墳
Lục hào Tài vị luận nô đinh,

Phụ Mẫu tương lâm tổ bối nhân.
Dương mộc đống lương âm thị trụ
Quan khố xâm chi nãi thị phần.
Tài ở hào lục luận nô tì,
Phụ Mẫu lâm đó đoán trưởng bối .
Thuộc dương Mộc là rường kèo, thuộc âm là cột,
Quan khố ở đó là mồ mả.
Hào lục nếu là Thê Tài thì mới đoán nô tì, gặp Tuần không, Nguyệt phá thì nô bộc kém cỏi. Nếu bị Nhật xung, hào xung thì đoán nô bộc bỏ trốn. Nếu lâm Phụ Mẫu thì luận tốt xấu cho các bậc trưởng bối. Nếu Phụ Mẫu là hào dương thuộc Mộc , không đoán là trưởng bối mà đoán là kèo cột, mà âm Mộc thì luận trụ cột. Nếu Mộ của hào Quan lâm ở hào lục phải đoán là mồ mả., phân biệt sinh khắc, hợp xung mà đoán tốt xấu.

43. 父 臨 屬 土 主 牆 壁
Phụ lâm thuộc Thổ chủ tường bích
Phụ lâm mà thuộc Thổ đoán là tường vách.
Nếu Phụ Mẫu thuộc Thổ phải đoán tường vách.

44. 卯 木 藩 籬 定 吉 凶
Mão Mộc phiên li định cát hung
Mão Mộc thì đoán rào giậu.
Nếu lâm Mão Mộc không kể âm hay dương đều đoán là rào giậu, dùng sinh khắc hợp xung để định hung cát. Nếu hào Mão lâm Không thì như nói trước có hàng rào, nếu động khắc Thế đoán hung mà được sinh hợp thì đoán cát.

45. 身 世 相 臨 弟 六 爻
離 祖 成 家 斷 可 必
Thân Thế tương lâm đệ lục hào,
Li tổ thành gia đoán khả tất.
Thân Thế lâm ở hào sáu,
Đoán là rời quê lập nên nghiệp.
Nếu Quái thân ở hào lục, hoặc hào Thế ở đó, chủ người đến xem phải lìa tổ mới dựng được sự nghiệp.

46. 位 臨 于 酉 動 爻 冲
鍋 破 懸 知 在 此 中
Vị lâm vu Dậu động hào xung,
Oa phá huyền tri tại thử trung.

Nếu lâm ở Dậu bị động hào xung,
Biết có nồi vỡ treo ở đấy.
Nếu hào lục là Dậu kim, bị Nhật Nguyệt, động hào xung, chủ trong nhà có nồi vỡ không yên.

47. 雀 鬼 臨 爻 顛 女 斷
爻 爻 分 別 不 相 蒙
Tước Quỷ lâm hào điên nữ đoán,
Hào hào phân biệt bất tương mông

Chu Tước lâm hào Phụ đoán có phụ nữ điên
Phân rõ từng hào không lờ mờ
Nếu Quan Quỷ có Chu Tước lâm hào lục, chủ có phụ nữ điên cuồng. Mông là mê muội không hiểu gì.

 

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 61

0

CHƯƠNG 20
PHẦN BỔ TÚC
Phép đoán về Gia Trạch phân biệt rõ trên sáu Hào
新 增 家 宅 搜 精 分 別 六 爻 斷 法

(Tuvivietnam – siêu tầm)


1. 初 爻 非 水 休 言 井
酉 金 干 涉 道 雞 鵝
Sơ hào phi Quỷ hưu ngôn tỉnh
Dậu kim can thiệp đạo kê nga
Hào sơ không thuộc Thuỷ đừng bảo là giếng
Dậu kim dính vào thì bảo là gà ngỗng
Hào sơ nếu là Hợi Tí thuộc Thuỷ mới có thể đoán là giếng, nếu là Tài Phúc thì luận cát, Quan Quỷ, Kị thần thì đoán hung. Nếu hào sơ với hao Dậu hình xung khắc hại, sinh hợp tức có can thiệp, mà có can thiệp thì mới đoán tốt xấu về việc nuôi gà ngỗng, không thể đoán lộn xộn được.

2. 臨土 逢 冲 基 地 破
Lâm Thổ phùng xung cơ địa phá
Ở hào Thổ mà gặp xung thì nền móng bị phá.
Hào sơ ở Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ bị Nhật Nguyệt xung phá thì nên móng nhà bị đào phá.

3. 無 官 無 鬼 小 兒 和
Vô Quan vô Quỷ tiểu nhi hoà
Không có Quan Quỷ thì trẻ con yên ổn.
Hào sơ lâm Quan Quỷ có Bạch Hổ, Phụ Mẫu phát động thì nhà đó con trẻ bị hoạ. Nếu không có Quan Quỷ, Kị sát thì con trẻ an ổn.

4. 宅 邊 若 有 墳 和 墓
須 知 鬼 墓 值 爻 初
Trạch biên nhược hữu phần hoà mộ
Tu tri Quỷ Mộ trị sơ hào.
Bên cạnh nhà có mồ mả
Nên biết Quỷ Mộ ở hào sơ.
Quỷ Mộ là là Mộ khố là Quan Quỷ ở trong quẻ. Nếu gặp quẻ thuộc cung Chấn Tồn, Quan Quỷ thuộc Kim, Mộ khố tại Sửu, mà Sửu ở hào sơ thì bên cạnh nhà có mộ xưa.

5. 水 臨 白 虎 將 橋 斷
Thuỷ lâm Bạch Hổ tương kiều đoán
Bạch Hổ lâm hào Thuỷ sẽ đoán là cầu.
Hào sơ lâm Tí Hợi thuộc Thuỷ , lại có Bạch Hổ chủ có cầu. Nếu là Tài, Phúc tất cát, gặp xung thì câu bị hư hại.

6. 寅 木 貓 良 鼠 耗 無
Dần Mộc miêu lương thử hao vô
Dần Mộc thì mèo giỏi mà chuột hết sạch.
Nếu hào sơ lâm Dần mộccát thần thì nhà này có mèo giỏi bắt được chuột.

7. 玄 武 水 乘 溝 利 瀹
木 爻 官 鬼 樹 為 戈
Huyền Vũ thuỷ thừa câu lợi dược
Mộc hào Quan Quỷ thụ vi qua.
Huyền Vũ thì nước nhờ cống khe mà thông suốt
Mộc hào Quan Quỷ thì cây thành giáo.
Như hào sơ lâm Hợi Tí thuộc Thuỷ, kèm theo Huyền Vũ thì không thể đoán là cầu, là giếng mà phải đoán là cồng, mương thông nước. Nếu hào này là Quan Quỷ thuộc Mộc thì chủ bên trái gần nhà có rễ cây đâm phá nền nhà.

8. 二 爻 木 鬼 梁 橫
Nhị hào Mộc Quỷ lương hoành táo.
Hào nhị Quan Quỷ thuộc Mộc là có đòn tay gác ngang bếp.
Đây là nói về hào nhị, nếu là hào Mộc Quan Quỷ chủ có sà gác ngang bếp.

9. 父 母 持 之 主 堂 奧
Phụ Mẫu trì chi chủ đường áo
Phụ Mẫu trì ở đó chủ lừ nơi sâu kín của nhà.
Nếu hào nhị lâm Phụ Mẫu, không kể thuộc Kim, Môc, Thổ, Hoả, Thuỷ đều đoán là nơi kín đáo của nhà. Nếu vượng tướng, an tĩnh là tốt, hưu tù, phá khắc chủ bị dột nát.

10. 雀 火 官 持 慮 火 災
土 金 變 化 宜 興 造
Tước Hoả Quan trì lự hoả tai
Thổ Kim biến hoá nghi hưng tạo.

Chu Tước ở Quan Quỷ thuộc Hoả thì lo bị hoả tai
Thổ Kim biến hoá lẫn nhau thì nên tạo lại nhà.
Nếu Chu Tước cùng Quan thuộc Hoả ở hào nhị chủ có hoả tai. Nếu hào nhị động Thổ hoá Kim hoặc Kim hoá Thổ chủ có xâu dựng lại.

11. 木 被 金 冲 鍋 蓋 摧
金 局 摧 殘 鍋 破 壞
Mộc bị Kim xung oa cái tồi
Kim cục tồi tàn oa phá hoại
Mộc bị Kim xung là nồi vung bị hư
Kim cục suy tàn thì nồi vung bị phá.
Như hào nhị lâm Mộc bị ngày Kim, hào Kim xung biết nồi vung bị vỡ hư. Nếu hào nhị hơpợ thành Kim cục bị xung tì trên bếp có nồi vung bị vỡ.

12. 玄 武 土 乘 ? 不潔
土 乘 冲 剋 ? 崩 敗
Huyền Vũ Thổ thừa táo bất khiết,
Thổ thừa xung khắc táo băng hoại.
Huyền Vũ thuộc Thổ tất bếp không sạch sẻ
Thổ bị xung khắc thì bếp bị hư nát.
Nếu hào nhị thuộc Thổ có Huyền Vũ, chủ trước bếp không sạch sẻ. Nếu hào nhị thuộc Thổ bị Nhật Nguyệt, động hào xung khắc thì bếp tất hư sập.

13. 世 鬼 並 臨 非 祖 屋
福 財 遭 剋 苦 相 隨
Thế Quỷ tịnh lâm phi tổ ốc
Phúc Tài tao khắc khổ tương tuỳ[1]
Thế và Quỷ cùng lâm chẳng phải nhà của tổ tiên
Phúc Tài gặp khắc, cực khổ đeo đuổi mãi.
Thế lâm Quan Quỷ ở hào nhị, thì nhà này chắc chắn không phải của tổ tiên. Nếu Tài, Phúc ở hào nhị vượng tướng, hữu khí chủ nhà này an ổn sung túc, còn như hưu tù phá khắc chủ nhà cực khổ đeo đuổi mãi.

14. 戌 土干 連 以 犬 言
Tuất Thổ can liên dĩ khuyển ngôn

Liên can đến Tuất thổ thì bảo là chó.
Nếu hào nhị với hào Tuất sinh khắc xung hợp thì đoán là chó giữ nhà. Ở Tài Phúc thì tốt, ở Kị sát thì hung.

15. 應 飛 此 地 人 同 宿
Ứng phi thử địa nhân đồng trú
Ứng ở nơi này thì có người cùng ở chung.
Như hào Ứng lâm ở hào nhị chủ có người ngoài cùng ở chung.

16. 此 爻 不 獨 斷 宅 母 各 分 名 分 安 危 卜
Thử hào bất độc đoán trạch mẫu, các phân danh phận an nguy bốc.
Hào này không chỉ đoán mẹ, mỗi một người phân ra thứ bậc để bói an nguy .
Xưa dùng hào nhị để chỉ vị trí của mẹ mà đoán hung cát, ta cho là sai lầm. Phàm người nhà như bà nội, mẹ, chị em dâu, chị em gái, vợ, con gái cùng ở chung một nhà, phải định rõ danh phận, mới chọn được Dụng Thần xem sinh khắc đoán được hung cát.

17. 三 爻 亥 水 斷 豬 牲
兄 弟 臨 爻 方 論 門
Tam hào Hợi thuỷ đoán trư sinh
Huynh Đệ lâm hào phương luận môn
Hào tam thuộc Hợi thuỷ đoán là heo nuôi
Huynh Đệ lâm đấyới luận là cổng
Hào tam không lâm Hợi thuỷ không thể đoán tốt xấu của heo nuôi. Nếu Huynh Đệ lâm ở hào tam mới có thể đoán là cổng. Nếu lâm Tài, Quan, Phụ, Tử không thể suy đoán đại lược được.

18. 兄 弟 卯 爻 床 榻 論
Huynh Đệ Mão hào sàng tháp luận
Huynh Đệ là Mão thì đoán là giường.
Nếu Huynh Đệ là hào Mão không thể đoán là cổng cửa, nên luận là giường. Nói chung Huynh Đệ là Mão lâm ở hào tam tất trước nơi thờ có giường sập, hoặc trên lầu làm phòng che nơi thờ,

19. 無 官 莫 妄 斷 家 神
Vô Quan mạc vọng đoán Gia thần
Không có hào Quan chớ đoán ẩu là Thần trong nhà.
Hào tam nếu lâm Quan Quỷ mới thật đoán là Thần. Nếu không phải là hào Quan lâm trìthì khôngthể đoán là Thần.

20. 金 官 臨 主 香 爐 破
木 鬼 青 龍 牌 位 新
Kim Quan lâm chủ hương lư phá
Mộc Quỷ Thanh Long bài vị tân
Kim Quan lâm thì chủ là lư hương bị phá,
Mộc Quỷ có Thanh long đoán là bài vị mới.
Như hào tam lâm Quan thuộc Kim chủ lư hương bị phá đổ. Nếu Quỷ thuộc Mộc có Thanh long vượng tướng thì bài vị thờ mới mẽ đẹp đẽ.

21. 四 爻 若 動 來 冲 剋
門 門 相 對 似 穿 心
Tứ hào nhược động lai xung khắc
Môn môn tương đối tự xuyên tâm
Hào tứ nếu động đến khắc
Cửa đối nhau như đâm vào tim.
Nếu hào tứ động xung khắc hào tamchủ trong nhà cửa đối nhau hoặc xuyên tâm, chủ hao phá bất lợi.

22. 三 四 互 臨 兄 弟 位 門 多 屋 少 耗 傷 金
Tam tứ hỗ lâm Huynh Đệ vị – Môn đa ốc thiểu hao thương kim
Hào tam và tứ lâm Huynh Đệ – Cửa nhiều nhà ít chủ hao tài.
Nếu hào tam và tứ đều lâm Huynh Đệ chủ nhà này phòng ít cửa nhiều, chủ hao tán tiền bạc.

23. 若 被 動 爻 冲 本 位
出 入 不 在 正 門 行
Nhược bị động hào xung bản vị
Xuất nhật bất tại chính môn hành.
Nếu bị động hào xung vào vị trí
Thì ra vào không đi bằng cổng chính.
Như hào tam này bị Nhật Nguyệt, động hào xung khắc, chủ nhà này ra vào bằng cổng bên, không đi cổng chính.

24. 爻 臨 卯 木主 床 帳
木 臨 蛇 鬼 婦 虛 驚
Hào lâm Mão mộc chủ sàng trướng

Mộc lâm Xà Quỷ phụ hư kinh
Hào (tam) lâm Mão mộc chủ giường màn
Mộc ở Xà Quỷ thì phụ nữ phải hãi kinh.
Nếu hào tam Mão mộc thì là giường màn, ở Tài Phúc thì giường màn mới, ở Đằng Xà Quan Quỷ thì phụ nữ nằm ở giường bị hãi sợ ngoài ý muốn.
25. 三 爻 不 是 兄 弟 位
官 交 父 陷 始 難 寧
Tam hào bất thị Huynh Đệ vị
Quan giao Phụ hãm thuỷ nan ninh.
Hào tam không phải vị trí của anh em
Quan động, Phụ hãm khó an ổn.
Xưa lấy hào tam làm vị trí của anh em là lầm lẫn. Nếu hào Quan phát động khắc hại hào Huynh Đệ, lại gặp Phụ Mẫu Không hãm, không thể đến cứu giúp, mới luận anh em bị hoạn nạn không yên.

[1] Nguyên bản chép là 逐 Trục, dùng chữ 隨 Tuỳ có nghĩa tương tự mà hợp âm điệu của câu hơn.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 60

0

29. 水 火 命 人 不 怕 震 巽 宮 之 金 鬼
Thuỷ Hoả mệnh nhân bất phạ Chấn Tốn cung chi Kim Quỷ
Người mệnh Thuỷ Hoả không sợ Kim Quỷ của cung Chấn,Tốn.

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Phàm nạp âm của bản mệnh là Thuỷ, Hoả mà xem được hào Kim Quỷ của quẻ Chấn Tốn. Kim có thể sinh Thuỷ, Hoả có thể khắc Kim. Cho nên mới bảo người mệnh Thuỷ Hoả không sợQuỷ của hai cung Chấn, Tốn.

30. 官 星 佩 印 居 玉 堂 乃 食 祿 之 人
Quan tinh bội ấn cư ngộc đường nãi thực lộc chi gia
Quan tinh đeo ấn, ở nhà ngọc hưởng thực lộc[1]
Nếu có Quan, có Quí, có Lộc, có Ấn cùng Thái Tuế sinh Thân Mệnh, là người quyền quí

31. 貴 刃 加 刑 控 寶 馬 必 提 兵 之 將
Quí Nhẫn gia Hình khống bửu mã, tất đề binh chi tướng
Quí nhân, Dương Nhẫn thêm Hình, cỡi ngựa, tất tướng nắm binh quyền.
Quí là Quí Nhân, Nhẫn là Dương Nhẫn, Hình là Tam Hình. Quí nhân cùng cát tinh phụ trợ Dương Nhẫn lại thêm Tam Hình, ở vị trí của Quí nhân, được Thái Tuế sinh, bàng hào có Mã là tướng soái nắm quân.[2]

32. 財 化 福 爻 入 公 門 多 至 滯 留
Tài hoá Phúc hào, nhập công môn đa chí trệ lưu
Tài hào hoá Phúc hào vào cơ quan công quyền gặp nhiều cản trở.
Quan hào trì Thế, Tài hào sinh là tốt. Tài lại hoá Phúc tức Tài được tăng thêm sức lại càng tốt hơn. Nếu Tài trì Thế hoá Tử Tôn, lại đi sinh Quan Quỷ ở hào khác, thì đi làm quan ở chốn công quyền gặp bất lợi.

33. 貴 印 加 官 在 仕 途 必 然 遷 轉
Quí Ấn gia Quan, tại sĩ đồ tất nhiên thiên chuyển
(Quí, Ấn ở hào Quan, đường làm quan tất nhiên chuyển đổi)
Quan và Phụ có Quí nhân lâm hào Thế, hoặc là Nhật thần và phát động trong Tuần thì có đường thăng tiến trong chốn quan trường.

34. 子 承 父 業 子 有 跨??? 之 風
Tử thừa phụ nghiệp Tử hữu khoa táo chi phong
Con theo nghiệp cha, con có phong độ vượt trội.
Tử mệnh hào lâm ở hào ngũ mà tương sinh tương hợp, chủ con vượt trội cha. Nếu tương xung thì chẳng ra gì mà không được thừa hưởng sự nghiệp của cha.

[1] tức có lộc để ăn khỏi phải làm gì cả.

[2] Hai câu 29, 30 đề cấp đến Tinh sát, mà Tinh sát chỉ là phần quá phụ trong Bốc Dịch. Mà giải thích cũng lung tung không có gì để căn cứ. Nên chưa chắc đã do tác giả chú giải mà có thể là của người sau thêm vào.

35. 妻 奪 夫 權 妻 有 能 家 之 兆

Thê đoạt phu quyền, Thê hữu năng gia chi triệu
Vợ đoạt quyền chồng,vợ có tài nội trợ.
Thê mệnh lâm Phu ở hào ngũ, tương sinh tương hợp với Phu, là điềm được vợ có tài quản lý. Nếu Thê khắc hào Phu chủ vợ khinh chồng hoặc vợ phá gia.

36. 弟 紾 乃 兄 之 臂 身 命 相 傷
Đệ chẩn nãi huynh chi tí, thân mệnh tương thương
Em vặn tay anh, thân mệnh hại nhau.
Hào Đệ lâm vào mệnh của hào Huynh, hoặc hào Huynh lâm vào mệnh hào Đệ, nếu hình khắc chủ không thân thiết không quí trong nhau. Nếu sinh hợp thì chủ anh em vui vẻ hoà thuận.

37. 婦 僭 姑 嫜 之 爻 家 聲 可 見
Thê tiếm cô chương chi hào, gia thanh khả kiến
Vợ chiếm hào của bố mẹ chồng, nhà có tiêng tăm.
Hào hai là hào của con dâu, nếu tương khắc tương hình với mệnh của mẹ chồng, chủ con dâu bất hiếu ngỗ ngược. Nếu tương sinh tương hợp chủ thuận thảo hiếu kính, giữ đạo làm dâu.

38. 妻 犯 夫 家 之 煞 妻 破 夫 家
Thê phạm Phu gia chi sát, Thê phá Phu gia
Vợ phạm sát của nhà chồng, vợ phá nhà chồng.
Thê mệnh bị Nguyệt Phá, Huynh Đệ có Bạch Hổ phát động, chủ vợ phá cửa nhà của chồng.

39. 夫 臨 妻 祿 之 爻 夫 食 妻 祿
Phu lâm Thê lộc chi hào, Phu thực Thê lộc
Chồng lâm vào hào lộc của vợ, chồng ăn lộc của vợ.
Như vợ tuổi Giáp Tí, Lộc tại Dần, mệnh của Phu lâm ở đấy, nếu sinh vượng hữu khí thì chủ chồng ăn lộc của vợ. Nếu gặp Dương Nhẫn, Không vong. Quỷ, Hao, Phá, thì tuy ăn lộc vợ mà cũng vô ích.

40.交 重 兄 弟 剋 妻 身 再 理 絲 絃
Giao trùng Huynh Đệ khắc Thê, thân tái lý ti huyền
Huynh Đệ động khắc Thê, mệnh phải tục huyền.
Hào Huynh Đệ phát động khắc Thê mệnh, hoặc Phu mệnh lâm Huynh Đệ động, chủ tục huyền (lấy vợ khác)

41. 內 外 子 孫 生 世 位 多 招 財 物
Nội ngoại Tử Tôn sinh Thế vị đa chiêu tài vật

Tử Tôn ở nội ngoại quái sinh Thế thì được nhiều tiền của.
Tử Tôn ở nội ngoại quái phát động sinh hào Tài ở Thế tất được nhiều tiền của.

42. 世 為 日 辰 飛 入 宅 鳩 踞 鵲 巢
Thế vi Nhật thần phi nhập trạch cưu cứ thước sào
Thế là Nhật thần vào hào trạch, tu hú chiếm tổ chim khách.
Thế ở Nhật thần với Quan Quỷ vào hào Trạch chủ ở nhà người khác hoặc thuê nhà. Như quẻ Đại Quá, nội quái là Tốn, Tân Hợi là hào Trạch; ngoại quái là Đoài, Thế trì Đinh Hợi là đúng như câu này.

43. 應 臨 父 母 動 生 身 龍 生 蛇 腹
Ứng lâm Phụ Mẫu động sinh Thân, long sinh xà phúc
Ứng lâm Phụ Mẫu phát động sinh Thân là rồng sinh ra rắn.
Ứng ở hào Phụ Mẫu, mệnh người xem ở tại đấy, được hào Ứng sinh, hoặc động sinh mệnh của con (Tử mệnh) chủ là con của tì thiếp, hoặc chủ do cha mẹ trước sinh hay cha mẹ sau sinh. Thân mệnh đều lâm Phụ Mẫu tất chủ trùng bái song thân ( có thêm cha mẹ nuôi).

44. 世 應 隔 異 兄 弟 多 因 兩 姓
Thế Ứng cách dị Huynh Đệ đa nhân lưỡng tính
Thế Ứng cách nhau bởi Huynh Đệ thì đông mà hai họ.
Như quẻ Tấn có Huynh Đệ là Kỷ Dậu trì Thế, Ứng ở Ất Mùi. Mùi với Dậu cách nhau chi Thân. Lại như quẻ Độn, Ứng ở Nhâm Thân, Thế ở Bính Ngọ. Ngọ và Thân cách nhau bởi chi Mùi. Như hào Thân là Huynh Đệ của bản cung[1] là chân Huynh Đệ. Hoặc được Nhật Nguyệt, động hào ngăn cáchcũng đoán như thế. Ngoài ra cứ phỏng theo như thế.

[1] Quẻ Tấn thuộc cung Càn (Kim), nên Huynh Đệ thuộc Kim.

 

45. 應 爻 就 妻 相 合 外 人 入舍 為 夫
Ứng hào tựu Thê tương hợp, ngoại nhân nhập xá vi phu
Hào Ứng tương hợp với Thê vị, người ngoài vào nhà làm chồng.
Hào Ứng nhập vào hào Trạch, sinh hợp với Thê mệnh là rước người ngoài vào nhà làm chồng.46. 假 宮 有 子 飛 來 異 姓 過 房 作 嗣
Giả cung hữu Tử phi lai, dị tính quá phòng tác tự
Giả cung có Tử đến, người khác họ đến nối dõi.
Như Tử Tôn ở Giả cung đến phục tại hào Thân mệnh, chủ có người khác họ đến làm con nối dõi. Ở bản cung Ứng là hào Phi động tức đi làm con nối dõi người khác.

47.妻 帶 子 臨 夫 位 引 子 嫁 人
Thê đới Tử lâm Phu vị, dẫn tử giá nhân
Thê mang tử lâm Phu vị, lấy chồng đem con đi theo.
Thê mệnh mang Tử Tôn, ở Nhật thần, chủ vợ đi lấy chồng mang con theo.


48. 夫 身 起 合 妻 爻 將 身 就 婦
Phu thân khởi hợp Thê hào, tương thân tựu phụ
Thân của Phu hợp với hào Thê, mang thân theo vợ.
Thế hào động lâm hào Thê mệnh, hoặc hào Mệnh động lâm hào Thê mệnh, hay hợp hào Thê mệnh, tất đem thân theo vợ.

49. 本 命 就 中 空 子 見 子 應 遲
Bản mệnh tựu trung Không tử kiến Tử ứng trì
Bản mệnh cớ Tử lâm Không tất có con muộn.
Tử Tôn ở Mệnh lâm Tuần Không chủ có con muộn

50. 身 爻 合 處 逢 妻 娶 婚 必 早
Thân hào hợp xứ phùng Thê thú hôn tất tảo
Thân hào hợp voái Thê tất lấy vợ sớm.
Thân hào hợp với hào Thê mệnh, lấy vợ sớm. Hào thân của Thê hợp với hào mệnh của Phu, lấy chồng chẳng muộn.

51. 夫 婦 合 爻 見 鬼 婚 配 不 明
Phu phụ hợp hào kiến Quỷ, hôn phối bất minh
Hào hợp với Phu và Phụ là Quỷ tất lấy chồng không minh bạch.
Hào mà Phu hợp, hào mà Thê hợp là Quỷ thì hôn phối không minh bạch.

52. 子 孫 絕 處 刑 傷 兒 多 不 育
Tử Tôn Tuyệt xứ hình thương nhi đa bất dục
Tử Tôn ở Tuyệt mà bị hình thương, con nhiều mà không nuôi được.
Tử Tôn gặp Tuyệt mà lại bị hình thương tất con nhiều mà không nuôi được.
Tử Tôn gặp Tuyệt lại chịu hình thương khắc hại chủ sinh nhiều con cái mà không nuôi được

53. 夫 妻 反 目 互 見 刑 冲

兄 弟 無 情 互 相 凌 制
Phu thê phản mục hỗ kiến hình xung
Huynh Đệ vô tình hỗ tương lăng chế
Vợ chồng bất hoà vị bị hình xung
Anh em vô tình chỉ vì khắc chế.
Thân hào và Nhật thần động hình khắc Thê mệnh chủ chồng không hoà với vợ. Hào Thê thân cùng Nhật thần động hình khắc Phu mệnh chủ vợ không hoà với chồng. Hoặc Thê mệnh xung với Phu thân hay Phu mệnh xung với Thê thân đều chủ vợ chồng bất hoà. Huynh Đệ với Nhật thần khắc Đệ thân, Mệnh hào hoặc Đệ là Nhật thần khắc Huynh thân, Mệnh hào đều chủ anh em bất hoà, gây gỗ nhau.

54. 日 辰 與 世 身 相 生 當 主 雙 胎
身 命 與 世 應 同 爻 多 應 兩 姓
Nhật thần dữ Thế Thân tương sinh đương chủ song thai
Thân Mệnh dữ Thế Ứng đồng hào đa ứng lưỡng tính
Nhật thần và Thế Thân tương sinh chủ có sinh đôi
Thân Mệnh với Thế Ứng cùng một hào phần lớn ứng có hai họ.
Thế Thân với Nhật thần, động hào cùng hành đều sinh Mệnh, chủ có sinh đôi, Mệnh ở Ứng, mà Thế cũng ở hào đó[1] chủ có hai họ[2]55. 妻 財 發 動 不 堪 父 值 休 囚
父 母 交 重 最 忌 子 臨 死 絕
Thê Tài phát động bất kham Phụ trị hưu tù
Phụ Mẫu giao trùng tối kị Tử lâm Tử Tuyệt
Thê Tài phát động không chịu được khi Phụ hưu tù
Phụ Mẫu động rất kị Tử Tôn ở Tử Tuyệt.
Vế trên ý nói Phụ hưu tù không nên có Thê Tài phát động, vì bị khắc hại. Còn Phụ Mẫu động tất khắc Tử Tôn.

56. 妻 剋 世 身 動 合 應 妻 必 重 婚
Thê khắc Thế Thân, động hợp Ứng, Thê tất trùng hôn
Thê khắc Thế Thân, động hào hợp Ứng tất vợ lấy chồng khác.
Tài hào động khắc Phu mệnh hoặc Thê mệnh động khắc Phu hào cùng Nhật thần lại tương hợp với hào Ứng là chủ vợ tái giá. Nếu Tài hào hoặc Thê mệnh có Hàm Trì[3] lại tương hợp với hào Ứng khắc hào Phu thân, Phu mệnh chủ vợ cùng với người ngoài mưu sát chồng. Nếu lâm hào Phụ thì chủ việc chưa xảy ra.

57. 夫 刑 妻 命 兩 逢 財 夫 當 再 娶
Phu hình Thê mệnh lưỡng phùng Tài, phu đương tái thú
Phu hình khắc Thê mệnh., có hai hào Tài chủ chồng lại lấy thêm vợ)
Phu hình khắc Thê mệnh, hoặc hình khắc hào Tài, lại bị khắc, nếu có hai hào Tài chủ khắc hai vợ. Nhật thần lại hợp với bàng hào là Tài chủ lại lấy vợ nữa. Nhật thần cùng động hào có Nhẫn, Hình đều sát thương Thê mệnh, chủ gặp hành động ác độc của chồng.

58. 妻 與 應 爻 相 合 外 有 私 通
Thê dữ Ứng hào tương hợp, ngoại hữu tư thông
Thê với hào Ứng tương hợp, có tư thông với bên ngoài.
Thê mệnh, Tài hào với Ứng tương hợp có Hàm Trì, Huyền Vũ chủvợ có ngoại tình. Chồng với Nhật thần khắc Thê, khắc Ứng chủ gặp vợ gian tà.

59. 男 臨 女 子 互 交 內 多 淫 慾
Nam lâm nữ tử hỗ giao, nội đa dâm dục
Nam lâm hào Nữ ở hỗ quái, bên trong có dâm dục.
Nam mệnh hào động hợp với Nữ mệnh hào. Nữ thân hào động lâm Nam mệnh hào là hỗ hợp tôn ti không đúng thứ tự, chủ có việc dâmloạn. Nếu vợ chồng hỗ tương hợp thì có gian dâm trước khi lấy nhau.

60, 青 龍 水 木 臨 妻 位 多 獲 奩 財
Thanh Long Thuỷ Mộc lâm Thê vị, đa hoạch liễm tài
Thanh Long, Thuỷ Mộc ở Thê hào chủ nhiều của hồi môn.
Như Tài hào lâm Thuỷ Mộc có khí, Phu mệnh ở đấy tất chủ được của cải nhà vợ.

61. 玄 武 桃 花 犯 命 中 荒 淫 酒 色
Huyền Vũ Đào Hoa phạm Mệnh trung, hoang dâm tửu sắc
Huyền Vũ, Đào Hoa phạm Mệnh thì hoang dâm tửu sắc.
Thân Mệnh có Huyền Vũ , Hàm Trì chủ ham tửu sắc. Tai gái đều luận như nhau.

62. 世 應 妻 爻 相 合 當 招 偏 正 之 夫
Thế Ứng Thê hào tương hợp, đương chiêu thiên chính chi phu
Thế, Ứng và Thê tương hợp chủ có chồng chính chồng phụ.
Thế, Ứng, Tài hào tam hợp, gặp hai hào Quỷ hợp với Thê mệnh chủ có chồng chính chồng phụ.

63. 財 爻 世 應 六 冲 必 是 生 離 之 婦
Tài hào Thế Ứng lục xung, tất thị sinh li chi phụ
Tài hào và Thế Ứng lục xung tất xa cách vợ.
Thê mệnh ở hào Quỷ phá hợp với Thế . Ứng với Nhật thần phá hợp tương xung với hào Thê, hoặc hào Thê mệnh với Thế Ứng , động hào tương xung hoặc Nhật thần tương xung chủ chia lìa với vợ.

[1] tức Thế Ứng cùng một địa chi

[2] tức con hai dòng

[3] tức là Đào Hoa. Sao này Nhật thần, như ngày Dần Ngọ Tuất an tại hào Mão, Tỵ Dậu Sửu an tại Ngọ chẳng hạn………….

64. 世 應 為 妻 爻 相 隔 逢 冲 必 招 外 郡 之 人
Thế Ứng dữ Thê hào tương cách, phùng xung tất chiêu ngoại quận chi nhân
Thế Ứng ngăn cách bới hào Thê gặp xung tất lấy người ngoài quận.
Thế Ứng tại Tuần thuộc Nhật thần cách nhau bởi hào Thê hoặc hào Phu, ngoài Tuần thuộc Nhật thần gặp xung chủ chồng là người ơt quận khác.
65. 夫 妻 與 福 德 相 逢 帶 合 必 近 親 鄰 之 女
Phu thê dữ Phúc Đức tương phùng đới hợp, tất cận thân lân chi nữ
Phu và Thê hợp với Phúc Đức tất lấy con gái hàng xóm.
Hai hào Mệnh của Thê và Phu đều ở bản cung, trong đó hợp với Tử Tôn chủ đã thân thiết mà thân thiết hơn nữa
66. 命 逢 死 氣 最 嫌 煞 忌 當 頭
Mệnh phùng Tử khí tối hiềm sát kị đương đầu
Mệnh gặp Tử Khí rất ngại đương đầu với Sát Kị.
Chủ tượng[1] gặp Tử Tuyệt, nếu Nhật thần, động hào lâm Kị sát khắc bản mệnh chủ có tai hoạ chết chóc.
67. 鬼 入 墓 鄉 尤 忌 身 爻 濺 血
Quỷ nhập Mộ hương vưu kị Thân hào tiễn huyết
Quỷ nhập Mộ càng kị hào Thân chảy máu.
Mệnh hào là Quỷ nhập Mộ sợ hào Thân bị Sát chế[2], là điềm không được tốt.
68. 惡 莫 惡 于 三 刑 迭 刃
Ác mạc Ác vu tam Hình điệt Nhẫn
Ác chẳng Ác vì tam Hình mà không Nhẫn[3].
Hình mà không Nhẫn thì không thể hại người, Nhẫn không Hình thì hoạ chẳng lớn. Nếu đầy đủ cả Hình và Nhẫn khắc Thân, lâm Quan chủ phạm việc quan, lâm Huyền Vũ, Kiếp Sát thì bị trộm cướp của cải. Mênh Thế cùng
động hào, Nhật thần khắc Ứng chủ ta giết người khác. Ứng và Nhật thần, động hào mang Sát tinh khắc Thế chủ người khác hại ta. Nếu có Tử Tôn phát động thì trong hung lại có cát.
69. 凶 莫 於 四 虎交 加
Hung mạc hung tứ hổ giao gia
Hung chẳng hung vì tứ Hổ giao nhau.
Tứ Hổ là năm, tháng, ngày, giờ. Nếu Quỷ lại có sát tinh thì cả nhà có tai hoạ chết chóc. Nếu trong quẻ Phúc Đức động tượng buồn vui lẫn lộn.
70. 四 鬼 貼 身 防 生 災 咎
Tứ Quỷ thiếp Thân, phòng sinh tai cựu
Tứ Quỷ bám vào Thân, phòng sinh tai ách.
Tứ Quỷ cũng là năm,tháng, ngày, giờ. Nếu tứ Quỷ trị Quan Thế, lâm Thân, trì Thế chủ có tai ách.
71. 三 傳 剋 世 易 惹 災 危
Tam Truyền khắc Thế dị nhạ tai nguy
Tam Truyền khắc Thế dễ gặp tai ách.
Tam Truyên là năm, tháng, ngày . Nếu Tam Truyền mang sát tinh khắc Thế, Thân mệnh, chủ có nạn chết người.
72. 劫 亡 兩 賊 傷 身 青 草 墳 頭 之 鬼
身 命 兩 空 遇 煞 黃 泉 路 上 之 人
Kiếp Vong lưỡng tặc thương Thân, thanh thảo phần đầu chi quỷ
Thân mệnh lưỡng Không ngộ sát, hoàng tuyền lộ thượng chi nhân
Hai giặc Kiếp Vong hại Thân, là chết mộ đang còn xanh cỏ
Thân Mệnh đều lâm Không gặp sát là người ơt chốn suối vàng.
Thân Mệnh gặp Tuyệt , Không vong trong tuần, bị Quỷ hại Thaan, khắc Mệnh chủ có tai hoạ chết người.
73. 勾 陳 傷 玄 武 之 妻 財 女 多 凶 禍
白 虎 損 青 龍 之 官 鬼 夫忌 死 亡
u Trần thương Huyền Vũ chi Thê Tài, nữ đa hung hoạ
Bạch Hổ tổn Thanh Long chi Quan, Quỷ phu kị tử vong
Câu Trần hại Thê Tài có Huyền Vũ thì phụ nữ gặp nhiều tai hoạ
Bạch Hổ hại Quan Quỷ có Thanh Long là chồng chết).

[1] chỉ Dụng thần

[2] chỉ Kị thần, hoặc lâm Tử Tuyệt, Không vong

[3] chỉ Dương Nhẫn tức Kình Dương

- Advertisement -