36.8 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 52

Vương Đình Chi -04 – Cách Cục Luận

0

Vương Đình Chi -04

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

50. Ba tính chất đặc biệt của người Thái Dương thủ mệnh
Cổ nhân đối với Thái Dương luôn luôn có một thiên kiến rằng miếu vượng tất cát, lạc hãm tất hung. Gọi là miếu vượng, tức là thời giờ ánh mặt trời mãnh liệt, bắt đầu cung Mão đến Ngọ ví như mặt trời giữa ban ngày, đến cung dậu mặt trời bắt đầu lặn về phía Tây, dỹ nhiên là sau đó đến cung Dần được ví như “Thái dương thủy hữu xuất san chi tượng” (tượng mặt trời bắt đầu mọc trên đỉnh núi ).
Bởi vậy, khi phán đoán người có Thái Dương thủ cung Mệnh, rất coi trọng tính chất cung đóng. Nói cách khác, Thái Dương tại cung Hợi thủ mệnh, vận mệnh không bằng tại Tỵ cung. Phương thức đoán mệnh này, cơ hồ đã thành “kim khoa ngọc luật” (nguyên tắc vàng ngọc).
Cho nên cổ thư đối với Thái Dương thủ mệnh có vài câu bình ngữ điển hình:

– “Thái dương thủ mệnh lạc hãm, tuy hóa quyền lộc diệc hung, quan lộc bất hiển, thành bại bất nhất.” (Thái Dương thủ mệnh vào đất hãm, tuy hóa Quyền Lộc cũng hung, quan lộc không hiển đạt, thành bại thất thường)
– “Thái dương thủ mệnh, lạc hãm gia hung sát, kỳ nhân đới tật.”  (Thái Dương thủ mệnh, lạc hãm thêm hung sát tinh, trong người thường có tật.)
– “Thái dương thủ mệnh miếu vượng, phú quý vinh hoa.”
– “Nữ mệnh Thái dương, cư mão thìn Tỵ ngọ, vô sát, vượng phu ích tử” (Nữ mệnh Thái Dương, cư mão thìn Tỵ ngọ, không hội hợp sát tinh, thì là mẫu phụ nữ làm lợi cho chồng con)
Tóm lại, cứ thấy cung Mệnh cư cung ban ngày có Thái Dương là cát, gặp cung ban đêm Thái Dương cũng có uy lực riêng. Trung Châu phái luận về Thái Dương tinh, dựa trên sự so sánh khách quan nhiều hơn.
Thái Dương tọa mệnh kỳ thật có ba tính chất chung: 
– Thứ nhất là hào phóng, phóng khoáng. Gọi là hào phóng, cũng không phải “Đường triều hào phóng nữ” mà hào phóng này là có tình thần không so đo tính toán tiểu tiết. Cho nên người Thái Dương thủ mệnh, tuyệt đối sẽ không ghi tạc lỗi lầm của người khác trong lòng.
– Thứ hai, coi danh dự lớn hơn mối lợi của mình. Ở Đẩu số, Thái Âm chủ phú, Thái Dương chủ quý, cho nên người có Thái Dương tọa mệnh, bất kể sự nghiệp lớn hay rộng mở cỡ nào, cũng khó mà cự phú (giàu có lớn), thậm chí có khi giá trị giàu có không bằng nhân viên dưới quyền.
– Thứ ba, thường có tâm khí cao ngạo, khiến cho người lâm vào hoàn cảnh bất lợi, tánh khí cũng thường xuyên bất phục đối với thủ trưởng, trừ phi thủ trưởng thực sự có danh vọng, uy tín rất cao, hoặc là có năng lực lãnh đạo mạnh mẽ. Người Thái Dương thủ mệnh nếu không hiểu biết điều này chỉ làm chính mình lâm vào hoàn cảnh không tốt, cũng như phải hiểu rằng ở đâu cũng có người giỏi hơn.
(*) Phuc Loc chú thích: so sánh “Đường triều hào phóng nữ” là ý nói phụ nữ thời nhà Đường (Trung Quốc) ăn mặc rất phóng khoáng (hở ngực,…), nét đẹp hình thể phụ nữ được tôn vinh… một phong cách thời trang rất phóng khoáng và tự do (mặc dù lúc đó là thời phong kiến), thời nay phong cách đó ở cô gái Trung Hoa cũng chưa phổ biến. “Đường triều hào phóng nữ” —> Ai đã từng coi phim Hoàng Kim Giáp thì biết !!! 
51. Ba tình huống phối hợp khi Thái Dương tọa mệnh

Thái Dương đồng cung với các chính tinh khác chỉ có ba tình huống. Ở sửu, mùi cùng Thái Âm đồng cung; tại dần, thân có Cự Môn đồng cung; ở mão, dậu cùng Thiên Lương đồng cung. Còn lại, vào Tí, thìn, Tỵ, ngọ, tuất, hợi 6 cung vị, Thái Dương độc tọa.Nhưng khi Thái Dương độc tọa, cũng có ba tình huống khác nhau. Thái Dương tọa hai cung Tí, ngọ, nhất định cùng Thiên Lương xung chiếu nhau; Thái Dương tọa hai cung Tỵ, hợi, nhất định cùng Cự Môn xung chiếu nhau; Thái Dương tọa thìn, tuất cùng Thái Âm xung chiếu nhau. Cho nên các sao phát sinh quan hệ với Thái Dương kỳ thật chỉ có 3 sao Cự Môn, Thiên Lương, Thái Âm, có khác chăng là chia làm 2 loại tình huống đồng cung hoặc đối cung.

Bởi vậy “Trung châu phái” nghiên cứu tính chất Thái Dương rất chú trọng quan hệ của nó cùng Cự Môn, Thiên Lương cũng như Thái Âm, chứ ko chỉ so đo tính toán chú trọng việc Thái Dương bị vây hãm ở cung ban đêm.
Cự Môn chủ ám; Thái Âm chủ phú; Thiên Lương chủ thanh quý. ba loại tính chất cơ bản này có thể ảnh hưởng đến Thái Dương thủ Mệnh, những cách cục này đại khái là Thái Dương ngộ Cự Môn, nếu thiếu cát tinh là người chỉ có hư danh; Thái Dương ngộ Thái Âm, có khả năng phú quý, nhưng cũng có thể thuộc loại tiểu phú quý, thậm chí chỉ là loại kinh tế gia đình (thường thường bậc trung) có chút quyền lực trong phạm vi nhỏ; Thái Dương ngộ Thiên Lương, tất bản thân tuân thủ nguyên tắc quá mức mà thành như nhân vật nổi tiếng chỉ biết làm theo 1 định kiến/nghề nghiệp nhất định, ngược lại mà không nhận ra được cái chung, đại chúng trong xã hội.
Đương nhiên lý thuyết trên chỉ là những đặc tính rất cơ bản, chi tiết cụ thể vẫn là ở sự tương tác biến hóa với các tinh diệu khác mà thành, độc giả không nên chỉ hiểu phần phân tích trên, khi nghiên cứu tính chất sao Thái Dương thủ cung tuyệt đối không phải cứ căn cứ vào ca quyết mà phán định tính chất, mà hẳn là phải căn cứ vào 3 tình huống Thái Dương hội hợp với các sao (đoạn trên) mà xác định. Đó là mệnh pháp (phương pháp luận mệnh), “Trung châu phái” có sự đặc sắc, không ngại mời độc giả tham khảo.

52. So sánh Thái Dương và Tử Vi
Thái Dương thủ mệnh có rất nhiều tính chất cơ bản, tại Đẩu số Thái Âm chủ phú, Thái Dương chủ quý, đây là tính chất cơ bản nhất, cho nên phàm Thái Dương thủ mệnh, cứ từ phương diện “Quý” này mà quan sát, nhận xét.
Người trọng ở quý, cho nên Thái Dương rất mừng gặp được một số trợ tinh chủ quý hội hợp. Như Thiên Khôi, Thiên Việt; Tả Phụ, Hữu Bật; Văn Xương, Văn Khúc; Tam Thai, Bát Tọa; Ân Quang, Thiên Quý; Long Trì, Phượng Các. Các trợ tinh này chia làm sáu cặp, nếu Thái Dương được tất cả những cặp sao này cùng hội hợp, lực lượng hỗ trợ lớn hơn gấp bội.
Ví dụ nếu Thái Dương cùng hội ba cát tinh Văn Xương, Hữu Bật, Thiên Khôi (chỉ 1 sao trong cặp sao)không bằng khi 3 sao này có đủ một cặp sao, như khi hội đủ Tả Phụ Hữu Bật (có đủ cặp), thì lực lượng so với 3 sao bị phân tán trên lại trở nên rất mạnh.
Tam Thai Bát Tọa, Ân Quang Thiên Quý là những sao đi cặp với nhau, một khi bị phân tán thì lực tác động yếu đi, nhưng nếu đủ cặp đi cùng Thái Dương thì lực tác động lại to lớn, thậm chí lực tác động còn lớn hơn ba bốn sao trong lục cát khi chúng không thành đôi (Lục cát tinh tức Xương Khúc, Khôi Việt, Phụ Bật).
Tính chất này của Thái Dương có thể nói so với Tử Vi không khác biệt lắm, bởi vì Tử Vi cũng cần cát tinh triều củng, sau mới có thể phát huy khả năng. Nhưng trong đó cũng có một chút phân biệt:
– Tử Vi mừng có Thiên Phủ, Thiên Tướng triều củng, Thái Dương dường như không thích vậy; Tử Vi sợ “Lục sát”, Tham Lang và Phá Quân, nhưng Thái Dương không sợ, nhưng lại sợ Cự Môn. Tử Vi thủ mệnh là người có năng lực lãnh đạo, phong cách uy nghiêm, khó gần; còn Thái Dương thủ mệnh lực lãnh đạo yếu hơn, nhưng có đặc tính hay giúp đỡ bố thí không cầu lợi lộc, điều này dường như dễ thân cận với người khác.
– Nhưng Thái Dương lại có lực hình khắc mà Tử Vi không có. Tử Vi thủ mệnh, thì quan hệ với cha mẹ, vợ chồng, huynh đệ, con gái tương đối tốt, nhưng Thái Dương thủ mệnh, thì đối với cha, huynh trưởng, con trưởng lại có sự hình khắc, nặng thì tử vong, nhẹ thì sanh ly, hoặc là tình cảm không tốt.
Cho nên tính chất Tử Vi vẫn còn tốt hơn, thậm chí ngay cả so sánh tình trạng sức khỏe cũng tốt hơn một chút.
53. Hai ví dụ (về câu phú) Thái Dương tọa mệnh
Vì Thái Dương vốn có khuyết điểm hình khắc, vì lẽ đó cổ nhân liền cho rằng “Nhật Nguyệt thủ mệnh bất như chiếu hiệp” (Nhật Nguyệt thủ mệnh không bằng chiếu hợp). Lý do, xem cung Mệnh nếu không thấy Thái Dương tọa thủ nhưng đắc Thái Dương củng chiếu, đương nhiên khiến cung Mệnh có được tính chất “Quý” vốn có của Thái Dương, mà lại khả năng giảm bớt được sự hình khắc.
Nhưng chẳng biết tại sao, hiện nay nếu xem một người Thái Dương thủ mệnh, độ hình khắc trên thực tế cũng không thái quá theo như lời cổ nhân. Chính như sự quý hiển, theo lời cổ nhân cũng không quý hiển bằng. Vương Đình Chi xem mệnh một bằng hữu, Thái Dương tọa mệnh, cổ nhân cho rằng “Dữ nhân quả hợp chiêu thị phi”, nhưng bản thân nhân duyên lại tương đối tốt đẹp, hơn nữa đối với cha cảm tình cũng khá tốt. Hiện thực và theo như lời cổ nhân không một chút tương hợp.
Theo Vương Đình Chi suy đoán, sự e ngại này lý do là vì cách thức tổ chức cuộc sống thời xưa và hiện đại không giống nhau. Thời xưa, hai thế hệ cha con cùng đồng cư một nhà, dễ dàng sinh ra mâu thuẫn, không giống hiện nay, kết hôn xong liền rời cha mẹ sống riêng, vì lẽ đó người Thái Dương thủ mệnh, lại có thể phát huy bản chất tình cảm của sao Thái Dương, bất quá về phương diện khác mà nói, sống riêng cũng có thể xem như bị hình khắc nhẹ nhất.
Quan hệ cùng bằng hữu cũng như thế. Người xưa quan hệ xã giao trong phạm vi hẹp, vì cá tính người Thái Dương khá quyết liệt, trong phạm vi nhỏ không một ai tiếp thu du di cho điều đó, có khi lại biến thành không hợp, thành kiến với nhau, mất vẻ tự nhiên,… không giống như ngày nay xã giao trong phạm vi rộng, trước sau cuối cùng thì khi gặp mặt cũng có thể tiếp nhận cái loại cá tính riêng của bằng hữu.
Cho nên dùng Đẩu số đoán mệnh cho người hiện đại, gặp Thái Dương thủ mệnh thì, không thể không cẩn thận một chút, lời giải đoán không thể ứng hoàn toàn y theo ca quyết cổ nhân để lại.
Ví như cổ nhân nói: “Thái Dương cư ngọ, kỳ quý chuyên quyền”, đó là bởi vì mừng cho Thái Dương ví như gặp ánh mặt trời giữa trưa mãnh liệt nhất, trên thực tế, người hiện đại vị tất theo đường chính trị, hơn nữa liên quan đến nó cũng còn ít, thường theo đường kinh thương, vậy Thái Dương tại ngọ thủ mệnh ngược lại dễ dàng biến thành một lão quan rổng ruột vui mừng khi được đứng đầu, điều này thể hiện mặt quý của Thái Dương, vì lẽ đó con người Thái Dương dễ yêu thích hư danh; về phương diện khác Thái Dương không chủ phú, càng yêu cái hư danh càng dễ dàng không tưởng, đến nổi trở thành một lão quan rổng vậy (không tiền cũng không có danh, chỉ có chức quan).
Đơn cử vài ví dụ, tức cũng biết tính chất Thái Dương tọa mệnh.

55. Luận “Nhật Nguyệt giáp mệnh

Đẩu số xem trọng “Nhật Nguyệt giáp mệnh”, cho rằng lá số rất tốt, mệnh cục này trước tiên chúng ta nghiên cứu hai trường hợp:

– Một, cung Mệnh tại sửu, lúc này Thái Âm tại Tí, Thái Dương tại dần. Cung Mệnh có chủ tinh là Vũ Khúc, Tham Lang.

– Hai, cung Mệnh tại mùi, lúc này Thái Âm tại ngọ, Thái Dương tại thân. Cung Mệnh có chủ tinh cũng là Vũ Khúc Tham Lang.

Nói cách khác, chúng ta nghiên cứu người “Nhật Nguyệt giáp mệnh” là nghiên cứu cung Mệnh có 2 sao Vũ Khúc Tham Lang. Vũ Khúc là tài tinh, đồng thời có tính chất độc hành độc đoán, cho nên hành xử cũng rất quyết đoán. Tham Lang là sao tinh xảo nghề nghiệp, đồng thời đại biểu cho năng lực giao tế ứng đối rất tốt. Vì lẽ đó, Vũ Khúc và Tham Lang đồng thủ cung Mệnh thì hai chủ tinh này dễ dàng tác dụng hỗ trợ lẫn nhau.

Một cá nhân, nếu như có năng lực quyết đoán lại có khả năng lý tài, đồng thời có kỹ năng chuyên môn mà lại am hiểu giao tế, chẳng cần phải nói nhiều, đương nhiên là một nhân vật thành công trong thương trường. Nhưng người có mệnh cục này lại có khuyết điểm.

Đầu tiên, Vũ Khúc chủ phát chậm, cho nên chỉ có thể là nhân vật bạch thủ hưng gia (tay trắng làm nên), gian tân khai sáng sự nghiệp.

Tiếp theo, Tham Lang có một mặt yếu kém chính là chủ trầm mê tửu sắc, cờ bạc, bởi vậy cũng rất nguy hiểm, nhẹ thì sự nghiệp vì đó mà không thuận, nặng thì vì tự phụ quá thông minh rồi lầm lỗi thậm chí bị lừa đến tai ương lao ngục. Đó là lý do làm cho người có mệnh cục này thích giở thủ đoạn, giở thủ đoạn rồi vào con đường bất chính, tự nhiên bất lợi.

Người có cách “Nhật Nguyệt giáp mệnh” sợ nhất cung Mệnh gặp Kình Dương, đương mệnh tại sửu cung, cung Tài bạch tất là Liêm Trinh, Phá Quân; đương mệnh tại mùi cung, cung Quan lộc cũng gặp Liêm Trinh, Phá Quân. Liêm Trinh Phá Quân hội Kình Dương ở cung sửu mùi gọi là “Nữu gia đới tỏa” (đeo gông vào cổ)  (*), chủ vì lý do tiền tài hoặc quan lộc mà lâm cảnh hình tụng.

Hơn nữa, không chỉ nói cung Mệnh tại sửu hoặc là tại mùi, mà cung Phúc đức tất kiến Thiên Tướng lạc hãm, cho nên phàm “Nhật Nguyệt giáp mệnh”, cho dù là mệnh tạo tốt, bản thân cũng chủ bôn ba vất vả.

Cổ thư cho rằng “Nhật Nguyệt giáp mệnh” là “quý cục”, kỳ thật phải có rất nhiều điều kiện phụ, cung Mệnh không thấy Kình Dương, cố nhiên ở ranh giới giữa chánh và tà; nếu có Khôi Việt, Phụ Bật, Xương Khúc tắc có thể sự nghiệp thành tựu, nhất là càng mừng nếu gặp Hỏa Linh, bởi vì có Hỏa Linh liền dễ làm suy yếu đi tính cách “hảo tửu tham hoa”.
Chú thích:
(*) “Nữu gia đới tỏa” : nghĩa đen, vặn gông cùm đeo xiềng xích (vào cổ); nghĩa bóng, mắc hình tụng.


56. Tái đàm “Nhật Nguyệt giáp mệnh”

“Nhật Nguyệt giáp mệnh” còn có một trường hợp khác:- Thiên Phủ tại sửu cung thủ mệnh, Thái dương tại Tí, Thái âm tại dần.

– Thiên Phủ tại mùi cung thủ mệnh, Thái dương tại ngọ, Thái âm tại thân.

Thiên Phủ đứng đầu nam đẩu tinh hệ, hơn nữa được ví như ngân hàng trung ương giữa các ngân hàng, bình thường mà nói đương nhiên là có đủ tính chất tốt đẹp, nhưng Thiên Phủ cư cung sửu, mùi lại có một đặc điểm đó là chỉ có một mình chủ tinh độc thủ cung Mệnh, hơn nữa cung Thiên di lại gặp Liêm Trinh Thất Sát, vì đó mà tính chất Thiên Phủ thủ mệnh dễ có rất nhiều biến hóa.
Khi Thiên Phủ thủ mệnh cư vào sửu cung thì thích nhất người tuổi Bính bởi vì có Lộc tồn tại cung Tỵ hội hợp, tăng mạnh lợi ích cho sự nghiệp. Người tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, Canh, Quý tất có Kình Dương hoặc Đà La vừa bao vây vừa quấy nhiễu Thiên Phủ, chẳng thể cát lợi.

Khi Thiên Phủ thủ mệnh cư vào cung mùi thì thích nhất người tuổi Nhâm bởi vì có Lộc Tồn ở cung hợi hội hợp. Người tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, Canh, Quý có Kình Dương hoặc Đà La cũng quấy nhiễu Thiên Phủ. Đặc điểm Thiên Phủ độc thủ cung Mệnh vốn có tính cách bảo thủ, hơn nữa có thể nói là người có chút cò kè thêm bớt; nhưng đối cung là Liêm Trinh Thất Sát, lại hàm chứa sự thích mạo hiểm, hơn nữa có nhiều loại sở thích, cái cương liệt mạnh mẽ này (Liêm Sát) cùng Thiên Phủ độc thủ cung Mệnh có tính chất xung đột lẫn nhau.

Lúc này, nếu có Lộc Tồn trợ giúp, tài lực Thiên Phủ tăng mạnh, đủ để ứng phó làm tiêu hao Liêm Trinh Thất Sát. Ngược lại, nếu không có Lộc Tồn, mà hội hợp Kình Dương Đà La, Thiên Phủ yếu kém trong phương diện ứng phó Liêm Trinh Thất Sát, cuối cùng hóa ra hao tổn mà thôi và cái tính cách bảo thủ và keo kiệt cố hữu lại tự khiến cho đương số đau lòng, lúc này vì hội hợp ảnh hưởng Dương Đà, khiến cho đương số hiểu được không nên tìm cách làm càn rồi tự mình không thể sửa sai được. Vì vậy có cơ mưu đầy rẫy, cũng rơi vào bọn xảo trá quyền thuật mà thôi.

So sánh sự khởi lai cách cục, cư vu sửu cung thì không tốt bằng mùi cung bởi vì Nhật Nguyệt đồng thời cư vượng cung, cục diện khác nhau khá lớn. Nhưng nếu vô cát tinh củng chiếu, ngược lại có Tứ Sát hội hợp, cục diện càng lớn, càng có cơ mưu quyền thuật tà đạo, vì thế mệnh cục loại này có thể có một chút “không tâm đại lão quan” (viên quan hữu danh vô thực, rỗng ruột).

Thế nên “Nhật Nguyệt giáp mệnh” vị tất đại quý, nhất là tại cái xã hội xa hoa và đầu cơ này.

ST

Vương Đình Chi -03 – Cách Cục Luận

0

Vương Đình Chi -03

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

108. Song Lộc vi cung cục
(Song Lộc Cách)
“Song Lộc triều viên cách” cùng “Lộc thai uyên ương” có chổ bất đồng, “Lộc thai uyên ương” là Lộc tinh thủ mệnh, chỉ riêng một Lộc tinh lai hợp; còn “Song Lộc triều viên” là cung Mệnh không có Lộc tinh thủ cung, nhưng Lộc Tồn cùng Hóa Lộc phân ra ở 3 phương chiếu về cung Mệnh. Như cung Mệnh tại Tí, Lộc tồn tại thân, Hóa Lộc cư thìn; thân Tí thìn ba cung tương hợp. Hoặc Lộc tinh tại đối cung cũng có thể hợp cách.
Cổ ca rằng:
Tài quan nhị xử dữ thiên di,
Song Lộc lâm chi tối hữu nghi,
Đức hợp kiền khôn nhân kính trọng,
Thao thao phú quý thế hi kỳ.
(Hai cung Tài Quan và cung Thiên di rất nên có song Lộc tọa thủ là rất tốt, đức hợp với trời đất được người người kính trọng, còn phú quý như nước chảy cuồn cuộn, như vậy thật hiếm thấy)

Cách này nếu song Lộc đồng cung là không hợp cách. Phải cần một thủ cung Tài bạch, một thủ cung Quan Lộc; hoặc một thủ cung Tài bạch, một thủ cung Thiên di; hoặc một thủ cung Quan Lộc, một thủ cung Thiên di, vậy mới là cách đẹp.  Nếu có Kị tinh ở cung Mệnh hoặc ba phương xung phá, thì không thể gọi là hợp cách.”Song Lộc triều viên” tốt ở chỗ dễ phát tài, nhất là song Lộc phân bố vào tam phương hội hợp về, tuần hoàn mỗi mười hai năm, chí ít cũng có ba lần lưu niên ở cung Mệnh hội hợp song Lộc, cách vài năm lại có một lần tiền tài như ý, khí thế tài vận cả đời người vì thế mà cũng dễ dàng hơn.

Nhưng cách cục này vẫn có sự phân biệt cao thấp. Nếu cát tinh thủ Mệnh, hơn nữa mệnh lại cường và có lực, tất cách cục là cao, nhược cung Mệnh thủ sao phù động, như Thiên Cơ, Cự Môn, tất cách cục là thấp. Lại gặp Tứ Sát phân bố ở 3 phương là cung Mệnh hội nhiều Sát tinh, chỉ chủ nhiều tiền tài thì nhiều tai họa.

(hết mục 108)
58. Tài tinh Vũ Khúc có nhiều khuyết điểm
Vũ Khúc là sao thứ sáu trong chòm Bắc đẩu, ngũ hành thuộc kim, được xếp là tài tinh trong khoa Đẩu số. Tài tinh là chính diệu chủ yếu có 3 sao Vũ Khúc, Thiên Phủ, Thái Âm, ba sao cùng là tài tinh nhưng có những đặc tính không giống nhau.
Trong 3 tài tinh, Vũ Khúc mang tính chất cô khắc, nhất là đối với hôn nhân càng ảnh hưởng, bình thường mà nói, nữ mệnh không nên có Vũ Khúc, bởi vì cổ thư cho rằng: “Vũ Khúc chi tinh vi Quả Tú”, nữ nhân gặp chủ quan hệ với đàn ông/chồng bất lợi, hoặc hình khắc vì quá nghiêm, hoặc sanh ly.

Thật ra nếu nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất Vũ Khúc, có khi tình trạng này vị tất nghiêm trọng như vậy, vì tính chất cô khắc của Vũ Khúc tất cả đều làm gia tăng tính cương nghị, như dạng phụ nữ sự nghiệp lên hàng đầu, dễ đem tính cách cương nghị vào cuộc sống gia đình, khiến đàn ông cảm thấy gia đình không ấm áp. Xã hội hiện đại phụ nữ cũng có thể có sự nghiệp riêng, có thể phát huy đặc tính Vũ Khúc vào trong sự nghiệp, chứ không nên đem điều đó đối đãi với chồng trong gia đình; ngược lại phải phát huy sự ôn nhu nữ tính, sẽ khiến gia đình tràn ngập hòa khí. Nhưng cho dù được như thế, với chồng cũng ít nhiều khó tránh tình trạng cô khắc. Đây là nhược điểm biểu hiện tại nữ mệnh có Vũ Khúc tọa thủ.

Vũ Khúc có một đặc tính riêng là sợ Hóa Kị nhất, chủ tình cảm vợ chồng phát sinh biến hóa, hoặc chủ tiền tài ra như nước chảy, thậm chí lâm cảnh nợ nần. Người tuổi Nhâm, Vũ Khúc Hóa Kị, nếu lạc vào cung Mệnh, Điền trạch, Phu thê, Tài bạch, Quan lộc thì rất không nên. Nhưng nếu phối hợp nhiều sao tốt, chỉ là ý nghĩa không nên theo đường kinh thương mà thôi. Vương Đình Chi từng chứng kiến một vị thầy thuốc ngoại khoa, có Vũ Khúc Hóa Kị cư cung Quan lộc, nhưng vẫn giàu có.

Vũ Khúc trừ Hóa Kị ra, cũng kị gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Cổ nhân có thuyết cho rằng “Vũ Khúc Hỏa Linh đồng cung, nhân tài bị kiếp” cái gọi là “nhân tài bị kiếp”, không nhất định là gặp phải ăn cướp, bị cướp, mà là tài bạch tổn thất vì nhiều lý do khó cưỡng lại được. Nên nếu Vũ Khúc đi chung với Hỏa Tinh tọa mệnh, thì phá tài rất nhiều, cách hóa giải là giao cho người phối ngẫu nắm giữ. Nhưng nếu Phu thê cung lại không tốt, vậy chỉ thêm nhiều phiền toái mà thôi.

Vũ Khúc vốn là tài tinh, song đã có không ít khuyết điểm, đủ thấy có khi tài tinh chẳng phải nhất định lúc nào cũng tốt.
Trích: “Vũ Khúc có một đặc tính riêng là sợ Hóa Kị nhất, chủ tình cảm vợ chồng phát sinh biến hóa, hoặc chủ tiền tài ra như nước chảy, thậm chí lâm cảnh nợ nần. Người tuổi Nhâm, Vũ Khúc Hóa Kị, nếu lạc vào cung Mệnh, Điền trạch, Phu thê, Tài bạch, Quan lộc thì rất không nên. Nhưng nếu phối hợp nhiều sao tốt, chỉ là ý nghĩa không nên theo đường kinh thương mà thôi. Vương Đình Chi từng chứng kiến một vị thầy thuốc ngoại khoa, có Vũ Khúc Hóa Kị cư cung Quan lộc, nhưng vẫn giàu có.”
Thực chứng 1 : Nam nhân tuổi Nhâm Dần Vũ cư Tuất trúng Kị gia thêm Hổ là cách khắc vợ, đúng câu “trai hai đời vợ, gái hai đời chồng”, Vũ cô đơn đến mức kô con hay có 1 là may mắn rồi.
Muốn Vũ thành túng thiếu, không dễ đâu vì Vũ là tài tinh bậc nhất chủ bảo thủ tồn kho, có Kị càng chặt chẽ giữ tiền thì sao gọi là túng thiếu, chỉ e rằng Kị gặp Hao thêm Thiên Không thành bộ hao túng đì đọa con người chi ly từng cắc như người ăn mày !
Thực chứng 2 : Nữ nhân tuổi Nhâm Tí cũng Vũ Khúc cư Tuất có Kị, cũng xong luận án tiến sĩ mà bác Đinh Văn Tân cũng từng coi số, như vậy đâu gọi là xấu, dĩ nhiên Vũ khắc Mộc mệnh thì cuộc đời cô khổ long đong chuyện chồng con, có Kị an vào hại nữ / nam tình duyên gia đạo trắc trở !
Cả 2 ví dụ trên cho thấy 2 người đều có công danh, no ấm, chỉ vì Vũ khắc nghiệt còn Kị (La Hầu / Kế Đô) là sao ám làm cho cuộc đời ôm một mối hận hành hạ đuơng nhân !
65. Liêm Trinh kiến lộc, thị cát thị hung ?
78. “Phùng phủ khán Tướng”đích bí mật
98. “Phủ Tướng triều viên” trọng Thiên Tướng
Dịch:
65. Liêm trinh kiến lộc, thị cát thị hung ——-> Liêm Trinh cần sao Lộc nhưng lại lúc cát lúc hung
78. Phùng phủ khán tướng đích bí mật —-> Tôi cho rằng là Phủ phùng khán Tướng đích bí mật —->  Thiên Phủ phùng Thiên Tướng thì là người có nhiều suy nghĩ nhưng tâm tư giấu kín , hoặc sự việc còn trong vòng bí mật
98. Phủ Tướng triều viên trọng Thiên tướng —–> cách này trọng Thiên Tướng hơn Thiên Phủ .
59. Vũ khúc và Sát Phá Tham có quan hệ mật thiết:
Vũ khúc phối hợp tinh diệu, cộng có 6 tình huống:
 – Tại Tí, ngọ cung, Vũ khúc Thiên phủ đồng viên.
 – Tại sửu, mùi cung, Vũ khúc Tham lang đồng viên.
 – Tại dần, thân cung, Vũ khúc Thiên tướng đồng viên.
 – Tại mão, dậu cung, Vũ khúc Thất sát đồng viên.
 – Tại thìn, tuất cung, Vũ khúc độc tọa, đối cung là Tham lang.
 – Tại Tỵ, hợi cung, Vũ khúc Phá quân đồng viên.
Các tổ hợp trên dễ thấy Vũ Khúc đặc biệt quan hệ mật thiết với 3 sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. “Sát Phá Tham” là một tổ hợp không tốt và hòa hiệp lắm (tổ hợp chủ hành động/ biến động), điều này ảnh hưởng đến tính chất Vũ Khúc. Hơn nữa, nếu Phu thê cung thấy Vũ Khúc, Thiên Phủ, cung Mệnh tất là Tham Lang; nếu Phu thê thấy Vũ Tướng, cung Mệnh tất vi Thất Sát, điều này có thể thấy được Vũ Khúc bất kể như thế nào, đều không thoát khỏi ảnh hưởng “Sát Phá Tham”, mà quan hệ mật thiết với Thất Sát cùng Tham Lang. Cổ nhân không thích nữ mệnh cung Mệnh hoặc Phu thê cung kiến Vũ Khúc, nguyên nhân một phần cũng là không thích quan hệ với bộ “Sát Phá Tham” này.

Nếu y theo thuyết pháp của cổ nhân, Vũ Khúc chỉ có 1 tổ hợp tốt, khiến xuất hiện câu phú “Vũ Khúc hội Tham Lang, Thất Sát cập Liêm Trinh, liền khứ kinh thương” (Vũ Khúc hội Tham, Sát, Liêm, dễ đi vào đường kinh thương), ta nhận thấy mấu chốt chính là sao Liêm Trinh can dự vào, nhờ đó có thể thay đổi, tinh chỉnh tính chất tổ hợp tinh diệu.
Vũ Khúc phối hợp với các tinh diệu khác không dễ thay đổi kết quả này, vì lẽ đó không nên gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương cùng Đà La là “Tứ Sát”, cổ nhân phú rằng “Vũ Khúc Hỏa Linh đồng cung, nhân tài bị kiếp”, “Vũ Khúc ngộ Kình Dương Đà La, tiện chủ cô khắc”, “Vũ Khúc Dương Đà kiêm Hỏa tú, nhân tài táng mệnh”, “Vũ Khúc kiến Tứ Sát xung phá, cô bần phá tướng, thậm hoặc yểu thọ”.
Tại Úc châu, Vương Đình Chi bị nạn rơi xuống sườn núi cả trăm thước, kết quả điều trị chấn thương ba tháng, mặt mày cơ thể hốc hác vàng vọt, nguyên cớ là do lưu niên trúng cung Thiên di gặp Vũ Khúc lại gặp Đà La, may mà đồng cung còn có một sao Thiên Tướng hơn nữa đại vận đó không quá tầm thường, cho nên mới thoát chết. Nếu gặp sát tinh không phải là Đà La, mà là Hỏa Linh, Vương Đình Chi tin rằng sớm về quê hương với một các xác không hồn.
ST

Vương Đình Chi -02 – Cách Cục Luận

0

Vương Đình Chi -02 – Cách Cục Luận

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

  1. Nhận thức toàn bộ tinh hệ

    “Tử Vi Đẩu Số” có người hiện nay chia ra Giáp cấp tinh, Ất cấp tinh,…cho đến Mậu cấp tinh(1), cách phân loại này có nguồn gốc từ danh gia Bắc phái là Trương Khai Quyển tiên sinh, nhưng Vương Đình Chi cho rằng đáng bàn thảo để đưa đến xác thực, bởi vì cho dù là một sao trong Mậu cấp tinh có khi cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi lưỡng cấp tinh Giáp Ất tạo thành tính chất của tinh hệ, như Tham Lang Liêm Trinh đồng thủ cung Tật Ách, giải thích thông thường là“can dương thượng kháng chi bệnh” (bệnh do gan hoạt động thái quá gây ra), nhưng chỉ cần gặp một sao Thiên Nguyệt trong nhóm “Đinh cấp tinh” thì lại chủ cái mũi mẫn cảm quá, dễ bị cảm lạnh gây nghẹt mũi hay thường chảy nước mũi, chính điều này bị tác động bởi sao Thiên Nguyệt, há chỉ là “Đinh cấp” thôi sao.Bởi vậy, Vương Đình Chi cho rằng đừng quay lưng lại với những kiến thức Tử vi cổ xưa, không cần sáng tạo thành cái mới hoàn toàn mà vẫn theo cổ nhân lấy tinh diệu chia ra làm năm loại chủ yếu là “Chính diệu”, “Phụ diệu Tá diệu”, “Hóa diệu”, “Tạp diệu” và “Lưu diệu” ; và một điều nữa Vương Đình Chi hy vọng độc giả học tập “Đẩu Số” thì quan trọng có một khái niệm về nó, không thể truy nhặt từng sao hội chiếu đến mà hiểu rõ đặc tính được của nó, mà ắt hẳn phải nhận thức trọn cả tinh hệ thủ chiếu. Tỷ như tinh hệ có liên quan với Tử Vi thì có 6 cách cục là “Tử Vi Thiên Phủ”, “Tử Vi Thất Sát” “Tử Vi Phá Quân”, “Tử Vi Tham Lang”, “Tử Vi Thiên Tướng” cùng với “Tử Vi độc tọa”; xa hơn việc giải thích đặc tính 6 hệ này, là tương tác biến hóa với các sao phụ tá, sao hóa, tạp diệu cùng sao lưu, tính chất tinh hệ lập tức sẽ phức tạp lên, hình thành nên những đặc tính mới mà khả năng suy đoán ra những tính chất khác nhau và không nhất quán, phải đi cùng với hoàn cảnh gặp gỡ.

    Nếu chỉ nhận thức, nghiên cứu mỗi một sao có khi khó tránh khỏi tình trạng hoàn toàn không ăn nhập gì nhau, và cố gắng nhận thức toàn bộ tinh hệ là điều cần nhấn mạnh nhất từ “Trung Châu Phái”.
    Chú thích:
    (1) Phân nhóm các sao thành các cấp có khác một chút so với phái Tử Vi VN (như bàng tinh, hung tinh, quý tinh,…) nhưng chi tiết hơn, có sự tác động qua lại hoặc không tác động trong những điều kiện nhất định. Còn lấy tên Giáp, Ất, Bính, Đinh,… chẳng qua là một trong những cách đánh dấu kiểu liệt kê của tiếng Hoa.
    (sẽ giới thiệu sau về các cấp sao này, hiện giờ ko có thời gian lục lại).
    7. Tam đại tinh hệ của Tử vi Đẩu số
    “Tử vi Đẩu số” có 3 nhóm tinh hệ lớn là “Bắc đẩu tinh hệ”, “Nam đẩu tinh hệ” và “Trung thiên tinh hệ”.

    Chủ tinh của Bắc đẩu tinh hệ là Tử Vi, các chánh diệu là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân; trợ diệu là Tả Phụ, Hữu Bật, Kình Dương, Đà La; một số trong những sao này trong khoa Phong Thủy cũng có ứng dụng, tức là cái gọi là “Tham Cự Lộc Văn Liêm Vũ Phá Phụ Bật”. “Trung Châu phái” hẳn kiêm học Phong Thủy, có thể một lúc nào đó ngẫu hứng hãy học nó, nhưng ở khoa Phong Thủy lại không thích hệ thống sao (tinh hệ), nếu mà dùng lại thành “Tử bạch phi tinh, huyền không trang quái” chi thuật, tức phương pháp của “Tam nguyên gia” (1), ấy lại cùng Đẩu số có điều khép mở, không rành mạch.

    Chủ tinh Nam đẩu tinh hệ là Thiên Phủ, chánh diệu là Thiên Cơ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thất Sát, Văn Xương; trợ diệu là Thiên Khôi, Thiên Việt, Hỏa Tinh, Linh Tinh.

    Chủ tinh Trung thiên tinh hệ là Thái Âm, Thái Dương. Chánh diệu là tứ hóa, là Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa Hóa Kị, kiêm quản các sao phụ tá tạp tinh còn lại.

    Ở “Trung Châu phái”, ba hệ thống tinh diệu cộng lại có 145 sao cả thảy, thường sử dụng 115 sao, có 30 sao là tinh diệu trọng yếu thuộc về “Tùng thần gia” (2), nhưng lúc suy đoán Đẩu số thì chỉ khi cần thì mới tìm vị trí của nó; như thấy có nguy hiểm mất tiền của, sau đó mới đi tìm sao “Phi Tài” xem có thể phát sinh việc bị cướp bóc hay không ; hay cần thấy rõ tai ương nguy hiểm máu me ra sao, mới đi tìm sao “Huyết Nhận” và “Sát Nhận” mà xác định tính chất sự việc.
    Chú thích:
    (1) “Tam nguyên gia” : ba phái lớn của khoa Phong thủy, gồm Huyền không, Bát trạch, một phái nữa hình như là Loan đầu (không chắc). Trung quốc hiện nay có rất nhiều phái Phong thủy như Bát trạch, Huyền không phi tinh, Tam hiệp, Huyền không đại quái, Tam nguyên phái,…
    Phong thủy Huyền không của Trung Châu phái có truyền nhân được thừa nhận chính thức chính là Vương Đình Chi, Trung châu phái chỉ truyền cho duy nhất một người mỗi thế hệ (chính truyền), đến VĐC thì phá lệ, ông truyền cho hơn 40 người học trò, chưa kể những người học khác từ những học trò này thì vô số… Phái này đặc sắc ở chổ kết hợp Tử vi và Phong thủy, nên trong bài đề cập đến Phong thủy hơi nhiều.
    (2) “Tùng thần gia”: thần sát thường dùng trong xem trạch cát như : Phi tài, Địa tài, Câu thần, Huyết nhận, Sát nhận,… Thần sát này xuất hiện rộng rãi từ thời Hiếu Vũ Đế, tức vua nhà Tấn Tư Mã Diệu (362 – 396), trong “Sử ký – Nhật giả liệt truyện”, khi chiêm việc mổ xẻ, đụng đến máu me sống chết thì rất xấu (đại hung).
    8. Năm loại sao trong Đẩu số
    Trước đã bàn về “Đẩu số tam đại tinh hệ”, có một số thuật ngữ được dùng dường như bị loạn, bởi vì cổ nhân sử dụng thuật ngữ cũng không định nghĩa quá rõ ràng, bởi thế nên từ “Chánh diệu” liền có hai hàm nghĩa, một là lúc thì như nói về chánh diệu của tinh hệ (hệ thống sao), còn lúc thì như đang suy đoán một chánh diệu thực tế. Bây giờ, Vương Đình Chi căn cứ vào những người nghiên cứu TV hiện nay thì thấy họ thường phân nhóm các sao như sau:

    – Chánh diệu: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân; cộng là 14 sao cả thảy.

    – Phụ tá sát diệu: Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc (thường gọi là Lục cát); cùng với Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La (thường gọi là Tứ Sát) cộng lại là mười sao.

    – Hóa diệu: là hóa khí của mười Can, hóa thành Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, mỗi can bốn sao, cộng lại là bốn mươi sao hóa.

    – Tạp diệu: tức các sao Địa Không, Địa Kiếp, Tam Thai, Bát Tọa, Thiên Hình, Thiên Riêu, Cô Thần, Quả Tú, Hồng Loan, Thiên Hỉ.

    – Lưu diệu: tức 3 tổ hợp lớn sao lưu niên, cùng với các sao lưu niên Lộc Tồn, lưu niên Xương, lưu niên Văn Khúc, lưu niên Thiên Mã, lưu niên Kình Dương, lưu niên Đà La.

    “Trung Châu phái” cũng tính toán phân ra như vậy nhưng thấy khuyết điểm là không chú ý đến Lộc Tồn và Thiên Mã, hai sao này tất nhiên không thể quy là chánh diệu, lại cũng không thuộc về loại sao phụ tá.

    Theo ý kiến Vương Đình Chi, thật ra có thể đem phụ, tá, sát diệu phân loại rõ như sau:
    – Phụ diệu: Tả Phụ, Hữu Bật; Thiên Khôi, Thiên Việt.
    – Tá diệu: Văn Xương, Văn Khúc; Lộc Tồn, Thiên Mã.
    – Sát diệu: Kình Dương, Đà La; Hỏa Tinh, Linh Tinh.

  2. “Cự Cơ đồng lâm” cũng có khuyết điểm

    “Cự Cơ đồng lâm cách” – tức cung mệnh có Cự Môn và Thiên Cơ đồng thủ cung Mão Dậu (có hình). Cổ ca rằng:

Cự Môn miếu vượng ngộ Thiên Cơ

Cao tiết thanh phong thế hãn hi

Học tựu nhất triều đằng đạt khứ

Nguy nguy đức nghiệp chấn hoa di”

(Cự Môn miếu vượng gặp Thiên Cơ,  như đời gặp cảnh cây cao gió mát (hiếm), sự học thành tựu thẳng một đường phẳng lặng mà tạo sự nghiệp vẻ vang, vinh hiển.)

Thiên Cơ Cự Môn đồng cung một tại cung Mão, một tại Dậu. Cổ nhân bình: “Thiên Cơ dữ Cự Môn đồng cư mão dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng” (Cự Cơ mão dậu tất tổ nghiệp suy vi, tự mình phải vực dậy” hay như “Cơ Cự dậu thượng hóa cát giả, túng ngộ tài quan dã bất vinh” (Cơ Cự cư dậu hóa cát, nhưng Tài Quan cư đấy cũng khó vinh hiển), đổi lại cư Mão lại tốt hơn, nguyên nhân vì Thiên Cơ hành mộc, vào cung dậu thụ Kim khắc chế, không bằng tại Mão cung đắc được mộc vượng khí.

Bởi vậy có thể thấy trong “Cự Cơ đồng lâm” cách, Thiên Cơ mới thật sự là yếu tố mấu chốt, chủ yếu do Thiên Cơ chủ cơ biến, linh động, nếu Thiên Cơ bị khắc chế, kềm hãm tất Ám tinh là Cự Môn cũng khó mà dễ dàng dàn xếp ổn thỏa.

Song “Cự Cơ đồng lâm” dù có khuyết điểm, nhưng nó dễ linh động cho phù hợp với hoàn cảnh, có điểm xấu nữa là “đa học vô thành” (học nhiều mà không thành). Cổ ca khi nói sự học là “Học tựu nhất triều đạt đằng khứ”, chỉ là cho rằng “học nghiệp thành tựu”, chứ cho rằng nhất định thành quan công hầu bá, thì e rằng phải xem hậu thiên bổ cứu như thế nào đã.

“Cự Môn giao nhân, thủy thiện chung ác ” (giao du với người Cự Môn, trước lành sau ác), thấy rằng “Cơ cự đồng lâm cách” có khuyết điểm riêng, nhưng nếu nhận biết rõ khuyết điểm ấy mà tiến hành tu chỉnh như gần người quân tử, xa lánh tiểu nhân, tất tự nhiên trở nên “cao phong lượng tiết” (thanh cao độ lượng) vậy.

(hết mục 127)

Trong phần luận giải trên có có vài chỗ Cự Cơ thấy thắc mắc :

“Thiên Cơ dữ Cự Môn đồng cư mão dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng” (Cự Cơ mão dậu tất tổ nghiệp suy vi, tự mình phải vực dậy”

Theo Cự Cơ thì Mệnh có Cự Cơ thì Phụ Mẫu có Tử Tướng vì vậy mà nhận định tổ nghiệp suy vi thì có phần không hợp lý ?

– “thoái tổ” là sự nghiệp dòng họ lâm cảnh suy vi, chỉ yếu tố cung phúc đức, Cự Cơ cư mệnh là Thiên Luơng phúc cung ở Tỵ, chủ : “Phúc cung có Thiên Luơng Tỵ hợi thì có nhiều tai họa, họ hàng ly tán, tha phuơng lập nghiệp, con trai bụi đời, con gái dâm dật khắc chồng con” (Trích sách TV hàm số của N.P.Lộc). Trung Châu Phái coi trọng cung Phúc lắm, bạn có thể tìm lại những bài viết của bác VDTT và Kim Hac trong post “Tin ngắn Tử Vi” để hiểu về trường phái này.

– “tự hưng” là tự bản thân mình (tự) làm cho hưng thịnh (hưng), có thể hiểu nôm na là người có thực tài ko cần nhờ đến cha mẹ dòng họ giúp đỡ, đó là bản chất của Cơ Cự chủ linh động và thích nghi rất tốt với hoàn cảnh, lại có mưu lược tính toán tốt (Cơ) và tài ăn nói (Cự) nên chính mình có thể lập nghiệp (tự hưng là ý này).

– Cự Cơ rất tốt cho người Ất Kỷ Bính Tân, ông Vuơng Đình Chi trích phú là có ý so sánh giữa 2 cung Mão và Dậu mà thôi. Chứ ko phải cho là Cự Cơ tại Dậu xấu.

P/S: PL dịch chứ không  phải bình sách, nếu có gì sai sót, các bạn thông cảm !

  1. “Tả Hữu đồng viên” thuộc về ngụy cách

Tả Hữu đồng viên cách tức Tả Phụ Hữu Bật đồng cung, lại hội hợp thêm các sao khoa danh trong Đẩu số như Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa.

Cổ ca rằng:

Khác phùng Phụ Bật mệnh trung lâm

Gia hội khoa tinh phúc canh thâm

Sự nghiệp ngang ngang truy Ngụy Trịnh

Quan cư đài các vạn nhân khâm.

(Phùng Phụ Bật đồng cung thủ mệnh như người được kính trọng, gia hội các sao khoa bảng thì càng phát phúc, sự nghiệp hiên ngang to lớn như học theo đời nhà Ngụy, nhà Trịnh của Trung Quốc, làm quan thì uy nghi đài các, vạn người tín phục)

Cách cục này, với xã hội hiện đại có thể nhận ra sự vô lý, căn cứ chỉ ra điều đó là cổ nhân cứ cho rằng “Tả Hữu đồng cung, Phi la y tử” (Tả Hữu đồng cung cùng người áo tía lọng vàng), kỳ thật, khi an sao Tả Phụ Hữu Bật đơn thuần căn cứ vào tháng sinh, như sinh tháng 4 tất Tả Hữu đồng cung ở mùi; sinh tháng 10 tất Tả Hữu đồng cung sửu, khi gặp cách cục này, chẳng nhẽ người nào sinh tháng 4 hoặc tháng 10 đều là mệnh tốt, đều là “Phi la y tử” hay “quan cư đài các” cả sao?

Tả Phụ Hữu Bật trong Đẩu số chỉ là sao có tính chất “phụ tá”, ví như tiệc rượu phải có “đồ nhậu nóng sốt” (hữu như diên tịch thượng đích “lưỡng nhiệt huân”), tác dụng của Tả Hữu cũng giống như vây của con cá, bởi vậy Tả Hữu tuyệt đối không thể thành cách khi đứng một mình .

Do tính chất phụ tá, cho nên hai sao này khi giáp biên Tử Vi hoặc Thái Dương cư miếu vượng cung thì giúp cho Tử Vi/ Thái Dương cực mạnh, ngược lại khi đồng cung lực giúp đỡ của Tả Hữu có sự bất cập (thua sút, không bằng giáp cung), nếu Tả Hữu đồng cung có khả năng “sự nghiệp ngang ngang truy Ngụy Trịnh “, vậy “Tả Hữu phò Đế” thành ra lạc cách, há chẳng phải là chẳng cần bọn thuộc hạ giúp Hoàng đế sao?

Cách cục cổ nhân xác định sai đúng, tối nghĩa lẫn lộn, thậm chí phải đọc lời mà tìm nghĩa, “Tả Hữu thủ viên cách” là một trong số đó, tốt nhất là nên lược bỏ để tránh vàng thau lẫn lộn.

 

ST

Vương Đình Chi -01 – Cách Cục Luận

0

Vương Đình Chi Luận Cách Cục

(Tuvivietnam – Sưu tầm)

Tổng Luận

  1. “Tử vi đẩu số” chỉ là thuật số   

Hồng Kông đang lúc cao trào sử dụng “Tử vi Đẩu số” để đoán mệnh, có thể nói đúng là sự việc xảy ra khá đột nhiên, cũng là xu thế tất yếu, chẳng những dạo trên phố sách nhiều như rừng, mà còn có rất nhiều nhà mệnh lý học cũng ra lời kêu gọi dùng “Đẩu số mệnh lý”. Trong ký ức, hơn 10 năm trước chỉ có không ngoài một vị “Quân sư Ngô Dụng” (1), là người công khai lấy Đẩu số phê mệnh; cũng như từng có một vị danh gia ở Thượng Hải là Lục Bân Triệu tiên sinh mở lớp dạy đẩu số ở Hồng Kông, nhưng hiện nay người biết đến không nhiều lắm; trước kia, xem lại ở các thành phố, như Hồng Kông, Ma-cao, quả thực có thể nói là không có danh gia Đẩu Số Mệnh Lý, chỉ lưu hành Tử Bình Mệnh Lý, cũng tức là dùng Bát Tự, an thành “Tứ Trụ” để luận mệnh, mà nói chung phương thức luận mệnh này từ thời Minh tới nay đã trở thành chánh tông.

Nếu mà việc luận mệnh cũng chia làm hai phái “Học” và “Thuật”, hiển nhiên khoa “Tử Bình” chuyên luận ngũ hành sanh khắc chế hóa lại được các nho gia triết học khai thông, nên thuộc về lưu phái “Học”, mà ở “Tử Bình” chuyên luận Thần sát cùng với “Tử vi Đẩu số” “Hà lạc lý số”, thậm chí bây giờ rất ít người hiểu được từ khoa “Ngũ ốc” đến khoa “Thiết bản thần số” đều chỉ là “Thuật” mà thôi.

Lấy “Học” luận mệnh, thắng ở sự linh hoạt, hơn nữa có thể từ triết lý cuộc sống đời thường được kiểm chứng nên hứng thú vô cùng, đồng thời có thể suy đi tính lại đại cục, thấy được một ít bao quát cái cùng-thông-đắc-thất của người; nhưng khuyết điểm của nó là không dễ dàng thấy cái chi tiết, tỉ mĩ. Thí dụ như từ học thuật Tử Bình tuyệt đối nhìn không ra trên người có hay không có nốt ruồi, nhưng “Đẩu Số” lại có thể. Trái lại, lấy “Thuật” luận Mệnh, thắng ở khả năng tính ra được chi tiết, tỉ mĩ; luận hôn nhân, luận tài vận đều có chổ riêng biệt, nhưng bởi vì khuyến điểm của nguyên lý luận Mệnh có khi rất khó nhìn ra từ lá số toàn cục được hay mất, thường bất chợt một sơ xuất mà “Nhân tiểu thất đại” (nguyên nhân nhỏ gây tổn thất lớn).

Vì lẽ đó nếu mà lấy học thuật “Tử Bình” bàn thuật số, dùng để đoán mệnh ứng nghiệm là lý tưởng nhất, nhưng “nhiều hoa thì rối mắt”, quan trọng ở sự thấu hiểu thì thực cũng không dễ dàng, làm thế nào khiến “Học” và “Thuật” hợp thành một sợ rằng vẫn còn là chủ đề nghiên cứu trọng điểm trong giới Mệnh Lý sau này.

Về phần lưu hành của “Đẩu Số Mệnh Lý”, hiển nhiên làn gió mới này từ Đài Loan thổi qua bởi vì “Đẩu Số” nguyên lưu hành ở Phúc Kiến, và loại thuật số đoán mệnh này dễ dàng nhập môn tự nhiên nhất thời trở thành thị hiếu, mà “Đẩu Số danh gia” cũng lập tức từ đó xuất hiện, chỉ tiếc đường học Đẩu Số dễ học mà khó tinh, hơn nữa các sách viết của cổ nhân có rất nhiều chỗ không chịu nói rõ, cho nên nếu xem qua vài quyển “phường bổn” (2) rồi dụng Đẩu Số đoán mệnh tất sinh ra ấn tượng xấu cho người khác.


Chú thích:

(1) Ngô Dụng: một nhân vật có tài quân sự đc ví sánh ngang với Khổng Minh trong truyện Thủy Hử, ban đầu theo phò tá Tiều Cái, sau thành quân sư của Tống Giang, nổi tiếng với khả năng “nhìn trâu đánh trận” (chuyện là, trong triều có nuôi 1 con trâu quý, Ngô Dụng sai do thám đêm đến nhìn trâu ngủ, nếu mặt con trâu quay về hướng nào thì hôm sau cứ hướng đó mà tấn công tất thắng).
(2) “phường bổn”: bản in , khắc của môn phái, ngành nghề nào đó, ở đây chỉ bản in khắc của phái Tử Vi. (Ngày xưa công nghệ làm giấy hiếm, chưa xuất hiện rộng rãi nên chữ chỉ khắc vào gổ/tre rồi ghép từng miếng lại với nhau thành sách).
2. Giải thích “Tử Vi Đẩu Số”
Bài này là muốn giải thích tên gọi “Tử Vi Đẩu Số”. Tên “Tử Vi” chính là chỉ một “Tinh viên” (1) mà không phải một tinh diệu. Ở cực bắc cũng tức là vào “Hợi vị” của la bàn, tức “Tử Vi viên” lấy sao Bắc cực làm chủ, căn cứ thuyết pháp của tinh gia (2) qua các thời kỳ cùng lấy đây là “Đế tọa”, cũng tức đại biểu đế vương nên “Tử Vi viên” nên sáng không nên ám, ám thì quân vương vô đạo chủ quốc gia loạn lạc.

“Tử Vi Đẩu Số” kế thừa phát triển từ “Ngũ tinh” để đoán sự tốt lành của số mệnh, khởi nguyên từ các đạo gia thời nhà Tống, vì việc đoán mệnh Ngũ tinh lưu truyền lại của “Cầm đường phái” truyện không chuẩn, nguyên nhân chủ yếu ở trình độ thuật đoán mệnh thời xưa không tinh, cách mấy trăm năm vẫn y khẩu quyết mà suy đoán tinh diệu phân bố ở mười hai cung, thường gặp sai ở một cung vị nào đó, bởi vậy có người nghĩ nếu mà dùng vị trí bắc cực chủ tinh cố định lại làm chuẩn tắc, phát triển thuật xem mệnh bằng một hệ tinh diệu hẳn là có thể giải quyết được vấn đề nan giải không chính xác này.

Căn cứ vào ý niệm này phát triển thành thuật số, có hai hệ là “Thái Ất số” và “Tử Vi Đẩu Số”; gọi là Thái Ất và Tử Vi, kỳ thực đều là trỏ về bắc cực tinh, đều là “Thí như bắc thần, chúng tinh củng chi” (Tất cả sao đều chắp tay cung kính thần phương Bắc). Nhìn nhận từ quan điểm thiên văn học hiện đại, khái niệm này có sai lầm, nhưng khái niệm của các nhà thuật số lúc ấy lại chính xác.

“Đẩu” là chỉ nam bắc đẩu, lấy nam bắc đẩu trên bầu trời là chính tinh phân bố vào mệnh bàn (lá số) dùng để suy đoán tốt xấu của mệnh, xưng là “Đẩu Số”, bởi sự phân bố tinh đẩu theo sao Tử Vi là chuẩn tắc, khi định vị được sao Tử Vi tất 14 sao nam bắc đẩu cũng được định vị, cho nên mới gọi là “Tử Vi Đẩu Số”.
Chú thích:
(1) “Tinh viên” : chỉ khu vực của ngôi sao.
(2) “Tinh gia”  : Nghề, người xem sao, người coi về các việc xem sao để nghiệm sự tốt sự xấu gọi là tinh gia.
3. Đẩu Số ứng tùy thời đại phát triển
Không dám dối các vị, Vương Đình Chi ngày học Đẩu Số từ tiên sư thật sự là rất xa lìa yếu tố thời đại, như cứ thấy “Quan lộc cung” thì vẫn chú trọng công danh khoa cử như cũ, nhưng lại không biết là ngày nay xã hội thương nghiệp có người “khoa danh” như Bác sỹ Thạc sĩ trái lại chỉ có thể đi làm công, như một ông chủ dưới tay có hơn mười Bác sỹ, nhưng ông này ngay cả tiểu học cũng chưa tốt nghiệp.
Với Cung Tật Ách, cũng chỉ có thể nói ra các loại bệnh tật như “Âm phân khuy tổn” (Phần âm bị hao tổn), “Can dương thượng kháng” (Gan hoạt động thái quá), “Can phong trừu súc” (khí Gan suy yếu đi) (*), không như hiện nay có đủ loại bệnh tật như ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư biểu mô (mũi họng), ung thư máu, cao huyết áp, tiểu đường…

Đối với cung Tử Tức, cũng chỉ suy đoán con cái ngần ấy người, con cái đầu lòng là nam hay nữ, v.v…, không chú trọng lắm cảm tình con cái với cũng không coi trọng xem tính cách con cái để biết cách bồi dưỡng mai sau.

Vương Đình Chi trải qua mười năm xem xét, thống kê một số lượng lớn lá số, hơn nữa coi xét thống kê theo chuyên đề sau đó mới đưa ra tính chất tinh hệ mà tiến hành phát triển, bây giờ có thể chỉ ra đủ loại tinh hệ chỉ “Bệnh thời hiện đại”. Ví như có hơn năm mươi tinh bàn cung cấp cho Vương Đình Chi nghiên cứu, Vương Đình Chi thậm chí có thể cam đoan ngay cả bệnh lý “Ái tư Bệnh” (bệnh AIDS) đều có thể nghiên cứu ra.

Học tập Đẩu Số, ắt hẳn phát triển theo tinh thần này, cho nên thuật số gọi lả bí mật thiếu sót gì thì tùy theo thời đại mà chỉnh lý và bổ sung thêm. Nếu cho rằng Đẩu Số là bí thuật không nên công khai truyền thụ, Vương Đình Chi tuyệt đối không tin.
Chú thích:
(*) những từ thuộc chuyên môn Đông Y, PL chỉ hiểu sơ sơ vậy thôi, ko biết cách dịch đúng 100%.


4. Một ví dụ về phát triển đặc tính Tinh hệ
Nói chuyện “Tử vi Đẩu số” có khả năng tiếp tục phát triển, bất tất xem thành quả nghiên cứu của bậc đi trước là “bí mật”, Vương Đình Chi có thể cử ra một ví dụ tiếp theo.
Cao thủ Bắc phái Trương tiên sinh luận tính chất Thái Âm nhập cung Phúc đức cho là “nam nhân vưu chủ hiền mỹ chi thê vi nội trợ, hãm kiến hung, tắc chung thân vô khuê phòng lạc thú” (nam nhân chủ có vợ hiền xinh đẹp, hãm địa gặp hung tinh, thì chung thân không có niềm vui thú nơi khuê phòng).

Lục Bân Triệu tiên sinh lược nói: “Thái Âm tinh nhập miếu lâm cung Phúc đức, chủ phúc hậu, thích hưởng thụ. Nhật Nguyệt đồng cung thêm tốt đẹp, Thái Âm Hóa Kị chủ bề ngoài an tĩnh, nội tâm bất an, Hỏa Tinh Đà La cùng vây bọc thời tự tìm đến sự bận bịu, hoặc tự tìm phiền não”, chẳng thấy nhắc tới chuyện “khuê phòng lạc thú”.
Tiên sư Huệ lão nói với Vương Đình Chi về quan điểm hai người này rằng: thuyết pháp Trương tiên sinh rất đặc biệt, đáng giá để nghiên cứu, bởi vì cung Phúc đức cùng cung Phu thê hội chiếu, cho nên rất có thể là tinh diệu không tốt cư cung Phu thê, sau cung Phúc đức có Thái Âm lạc hãm lại gặp hung diệu chính chiếu mới chủ không có niềm vui thú nơi khuê phòng. Lý do là vì Huệ lão đồng thời với thầy dạy của ông ấy. Thầy dạy Trương tiên sinh viết: “Thái Âm độc thủ cung Phúc đức lạc hãm, kiến Hình Kị, nữ mệnh độc thủ không vi” (Thái Âm lạc hãm độc thủ cung Phúc đức, gặp Hình Kị, nữ mệnh một mình sau màn trướng, ý nói một mình cô đơn trong khuê phòng), thuyết pháp này tương tự Trương tiên sanh, nhưng lại nói thêm: “Phu thê cung Thiên Cơ kiến Kị vưu đích” (Cung Phu thê có Thiên Cơ gặp Hóa Kị lại càng cô đơn như vậy) vì lẽ đó hẳn là phải xem cả hệ thống sao của cung Phúc đức cùng Phu thê mới đúng.

Nhưng thuyết pháp Lục tiên sinh lại hoàn toàn phù hợp với thầy Huệ lão, cho nên Huệ lão đối với từng thuyết pháp hai ông này mà dễ dàng nghiên cứu tổng hợp lại. Trải qua một số lượng mệnh bàn tương đương thống kê được cho kết luận như sau: Phàm nữ mệnh Thái Âm lạc hãm thủ cung Phúc đức gặp Hỏa Tinh Đà La, chồng nhiều phen bất mãn, nếu tinh hệ cung Phu thê lại bất cát thì chồng có ý ly dị.

Quý vị đừng ngại dùng lá số thực tế mà kiểm tra thuyết pháp ba ông này, theo kinh nghiệm Vương Đình Chi kết luận của tiên sư tựa hồ rõ ràng thỏa đáng. Đây là một ví dụ tốt về phát triển tính chất tinh hệ Đẩu số.

Cho nên bất kể Vương Đình Chi miêu tả tính chất cơ bản của tinh hệ như thế nào, cũng chỉ có thể cung cấp cho độc giả một khái niệm sơ khởi, độc giả nhất thiết không thể xem lời Vương Đình Chi là “nguyên tắc vàng ngọc”, xuất phát từ khái niệm cơ bản và thông qua ví dụ thực được nghiệm chứng, cùng một ít phát hiện phù hợp với tính chất hiện đại mà viết ra. Cứ mang cái thái độ học tập như vậy vào Đẩu số thì mới không khiến Đẩu số trở thành công cụ cho mê tín dị đoan.


5. Phải học “Phép An sao”

Vương Đình Chi từng tham gia “Hội nghiên cứu thảo luận Tử vi Đẩu số” do Ích Triệu hội chủ sáng lập, một đêm tập thể hội viên trú ở thôn Trừng Bích, thảo luận nghiên cứu đến hai giờ khuya, đến khi người tham gia vừa lòng mới giải tán. Nhưng Vương Đình Chi lại không hài lòng, do phát hiện rằng người tham gia nghiên cứu thảo luận phần lớn không coi trọng “Phép an sao”.

Ngày nay người học tập Tử vi Đẩu số do mỗi quyển sách đều có bảng để tra cho nên lười ghi nhớ “An tinh pháp” chỉ là lật sách kiếm sao trong bảng mà an ra, cho dù đã xong việc song bởi thế mà sinh ra cái tai hại. Tai hại ở lúc suy tính đại hạn lưu niên, không thông thạo “An tinh pháp” liền lập tức phát sinh trở ngại, vì một chút suy tính này mà không thông thạo hệ thống sao lưu niên tạp diệu không thể an các sao lưu theo Can như tứ Hóa; lưu Lộc tồn; lưu Dương; Lưu Đà; Lưu Xương; lưu Khúc; lưu Khôi; lưu Việt cộng là 11 sao, cùng với ba vòng sao lưu niên tạp diệu, tức Bác Sỹ, Lực Sỹ, Thái Tuế, Hối Khí…Tướng Tinh, Phàn An…, cộng lại là 36 sao.

Vương Đình Chi không tin rằng lúc suy tính đại vận lưu niên có thể một mặt tra biểu một mặt động não, hơn nữa lại có khả năng suy đoán ra được tính chất biến hóa của tinh hệ. Không chỉ như vậy, cho dù là sắp xếp tạp diệu cố định ở trên lá số, vào suy đoán thì cũng có quan hệ lớn, tỷ như xem tình huống Bệnh mãn tính chủ yếu tìm sao Thiên Nguyệt (1), xem tiêu tai giải nạn lại xem sao Hoa Cái, nếu thành thục “An tinh pháp” thì cứ căn cứ năm sanh, tháng sanh, gần như ngay lập tức mà hoàn toàn không cần động não để có thể tìm ra cung đóng của những sao này trên lá số, còn ví như tra bảng sẽ khiến suy đoán phân tâm ảnh hưởng đến sự chuẩn xác của suy đoán.

Trung Châu phái có một bộ “An tinh chưởng quyết”, có khả năng sổ bấm ngón tay tìm ra cả trăm cung vị của sao, người y theo đó mà tập cho thành thục đều hiểu được so với tra biểu thì thuận tiện hơn. Năm ấy, Trương Khai Quyển tiên sinh sáng tạo ra “Bảng an nhanh” chỉ là vì muốn thuận tiện cho người mới học, người già nhập môn, Vương Đình Chi hy vọng học giả lúc nhập môn vẫn nên dành thời gian luyện tập và ghi nhớ “Phép an sao”. Khi quen thuộc an sao sẽ không gặp trở ngại khi lưu thời vận suy đoán, hơn nữa, có thể mọi lúc mọi nơi chỉ cầm một tờ giấy trắng mà an sao ra lá số, lấy nó làm đề tài câu chuyện khi “trà dư tửu hậu”.
Chú thích:
(1) Thiên Nguyệt: an theo tháng sinh
An Thiên nguyệt quyết:

Chánh nguyệt tại tuất nhị nguyệt Tỵ, tam nguyệt thìn hề tứ nguyệt dần,

Ngũ nguyệt mùi lai lục nguyệt mão, thất hợi bát mùi cửu tại dần,

Thập nguyệt tại ngọ thập nhất tuất, thập nhị thiên nguyệt dần thượng tầm.

2 10 5,8
3
6 Tháng

01 và 11

4,9,12 7

hoặc:

Nhất khuyển nhị xà tam tại long tứ hổ ngũ dương lục thỏ cung,

Thất trư bát dương cửu tại hổ thập mã đông khuyển tịch dần chung.

 

ST

SAO PHÁ QUÂN II

0

Sao Phá Quân II

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Phá quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí là “hao“.

Phá quân miếu ở ba cung Tí, Ngọ, Mùi, hãm ở ba cung Dần, Thân, Dậu.

Trong Đẩu Số, sao Phá quân là sao tiên phong, gặp núi thì mở đường, gặp nước thì làm cầu, hơn nữa còn xung phong phá trận, cho nên tính chất cơ bản của nó là có thể “công” mà không thể “thủ”. Tính chất này khiến cho người có Phá quân thủ mệnh dễ có tính khí nóng nảy, bộp chộp, nhưng lại chính trực, cứng rắn; ở trong hoàn cảnh khốn khó sẽ biểu hiện tài năng lãnh đạo và phách lực khai sáng cục diện mới.

Do tính cách sở trường về khai sáng mà không giỏi thủ thành, nếu cung Phúc đức gặp Tử vi, Thiên phủ đồng cung, sẽ thành người có năng lực, chịu khó và tính chủ quan rất mạnh, không thể nhẫn nại một khi đã thành cục diện phát triển, thậm chí lúc sự nghiệp đã ổn định, có khi còn muốn thay đổi cục diện mới.

Sao Phá quân tranh thành đoạt trại, phá hoại trước rồi kiến thiết sau, cho nên bản thân phải chịu nguy nan cũng nhiều, dễ biến thành vượt quá tầm kiểm soát, rơi vào tình cảnh nguy khốn, mà không thể tự đứng lên được. Khi xử sự, thường dễ biến trở ngại nhỏ thành trắc trở lớn.

Cho nên, sao Phá quân rất ưa gặp sao Lộc, tiền tài là nguồn viện trợ phía sau không ngừng bổ xung, gọi là “có gốc rễ“. Sao Phá quân có Lộc tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung là tốt nhất, hội hợp với chính diệu Hóa Lộc khác là kế đó, trường hợp hội hợp với Lộc tồn là kế đó nữa.

Có Hóa Quyền, Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật hội chiếu hoặc đồng độ với Phá quân, có thể làm tăng khí thế sáng lập sự nghiệp. Nếu gặp Địa không, Địa kiếp thì một đời nhiều trở ngại. Gặp tứ sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, phàm mỗi khi có biến động đều gặp bất lợi trước. Gặp Thiên khốc, Thiên hư chủ về tâm hồn trống rỗng.

Do Phá quân có hàm nghĩa “phá hoại trước kiến thiến sau”, nên cuộc đời và sự nghiệp phải gặp biến động lớn. Nhưng hễ có biến động thì đều có tính chất “bỏ cũ mà canh tân”, cho nên trong kinh doanh làm ăn, phần nhiều đều từ sự nghiệp cũ mà lập nên cục diện mới, phần lớn cũng chủ về có hai sự nghiệp cùng mọt lúc; làm công ăn lương thì cũng chủ về kiêm thêm chức vụ khác, hoặc thường gánh vác công việc quá mức, quá với sức bản thân. “Người giỏi làm nhiều” chính là hình ảnh của sao Phá quân đóng ở cung mệnh.

Nữ mệnh Phá quân, thông thường đều nên kết hôn muộn; gặp Kình dương, Đà la thì càng như vậy. Nếu Phá quân Hóa Lộc, có khuynh hướng thích tu sửa sắc đẹp; lúc này cần lưu ý xem Tiểu hạn có tương hội sao Hình, Sát, Kị hay không, nếu đúng thì phải cẩn thận kẻo để lại dấu vết.

1. Phá quân ở cung Mệnh viên
       
      Phá quân thủ mệnh độc tọa ở Tí hoặc Ngọ

Phá quân thủ mệnh độc tọa ở Tí hoặc Ngọ, cung Thiên di có Liêm trinh và Thiên tướng đồng độ, Liêm trinh là sao có lợi về làm công chức, Thiên tướng thì chủ về vất vả thay cho người khác, cho nên khi hai sao này đồng cung, xung chiếu Phá quân, càng khiến cho Phá quân thủ mệnh thành người thủ đoạn, nhưng lại là mưu tính cho người, mà không mưu tính cho bản thân.

Cho nên Phá quân an mệnh ở Tí hoặc Ngọ, đời người tuy ít biến động thay đổi, hơn nữa sẽ không chủ động thay đổi, nhưng một khi bị hoàn cảnh gây ảnh hưởng, không thay đổi thì không được, thì sự biến động thay đổi của người mệnh Phá quân sẽ rất kịch liệt, khiến cho người khác kinh ngạc.

Nếu không có các sao Sát Kị hội chiếu, Phá quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền ở cung mệnh, hoặc có Lộc tồn đồng độ (Lộc tồn ở cung Phúc đức đồng độ với Tử Phủ cũng được), người này sẽ rất độ lượng, khí phách anh hùng, rất thích hợp theo võ nghiệp. Ngày nay, ngoại trừ gia nhập quân đội hay cảnh sát, còn có thể phục vụ trong ngành công thương nghiệp, và nên làm công việc mang tính khai sáng.

Phá quân không ưa Văn xương, Văn khúc, chỉ ưa gặp Thiên khôi Thiên việt, và rất ưa Tả phụ Hữu bật đồng độ hay hội chiếu, chủ về được bạn bè giúp đỡ, ủng hộ. Nếu gặp Văn xương Văn khúc mà không gặp sao Lộc, trái lại sẽ chủ về tính không tốt không xấu, nhưng tinh thần hay suy diễn theo sự không tưởng rất nhiều, và thiếu hành động thực tế. Nên lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu, phải xem trọng bản thân, một khi có ý nghĩ trong đầu thì lập tức lên kế hoạch thực hiện.

Không ưa gặp Sát tinh đến hội hợp hoặc đồng độ, vì sẽ khiến cho người Phá quân thủ mệnh cảm thấy rất cô tịch, nếu lại gặp Thiên hư, thì càng chủ về tinh thần trống rỗng, nếu lại gặp Thiên nguyệt, ắt sẽ mắc bệnh mãn tính.

Nữ mệnh Phá quân ở Tí hoặc Ngọ, rất ngại gặp Địa không, Địa kiếp, Cô thần, Quả tú, chủ về nửa cuộc đời cô tịch, tinh thần nhiều đau khổ. Nếu cung Phu có Vũ khúc Hóa Kị gặp Thiên hình, thì rất có thể không có chồng (hoặc không có vợ).

Phá quân – Tử vi thủ mệnh ở Sửu hoặc Mùi

Sao Phá quân thủ mệnh ở Sửu hoặc Mùi, luôn luôn có Tử vi đồng độ. Đây là kết cấu tinh hệ rất có lực khai sáng. Phá quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử vi cầm cương điều khiển, lực phá hoại của Phá quân nhờ vậy mà được giảm thiểu, sức sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có thành tựu.

Nhưng lúc Phá quân Hóa Quyền sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá quân, vì vậy mà đời người càng thêm thay đổi. Nếu có Tả phụ Hữu bật hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả; nếu gặp tứ Sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.

Nếu Phá quân Hóa Lộc, đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất được sung túc, để bù đắp những vất vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời tình cảm cũng gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến cho mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp Liêm trinh và Tham lang đồng độ ở Tỵ (hoặc ở Hợi), do hội với Phá quân Hóa Lộc mà phát huy tác dụng.

Bất kể Phá quân Hóa Quyền hay Hóa Lộc, cũng chủ về khiến cho mệnh tạo trở thành phú quý, nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao Sát Hình Kị, thì tuy giầu có sung túc, nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình dương, Thiên Hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng, thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.

Tinh hệ Tử vi – Phá quân chủ về biến động, bởi vậy trong kinh doanh làm ăn, cần phải chú ý khi cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng sẽ đồng thời kinh doanh hai ba lãnh vực có liên quan với nhau, hoặc cùng một thời điểm phải giải quyết hai ba việc. Nếu là nhân viên làm thuê, thì chủ về kiêm ngành, kiêm chức, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.

Tử vi – Phá quân đóng ở cung mệnh, là người thẳng thắn, nhưng nếu gặp Hoa cái, thì thích hợp nghiên cứu tôn giáo hoặc triết học.

Có điều, do mệnh tạo hay lo toan nghĩ ngợi, nhiều biến động, lại xét thấy Thiên phủ ở cung Phúc đức chủ về lo toan chu đáo, nên khi gặp các sao Sát, sao Không, sẽ biểu hiện tính tự tư ích kỷ. Cổ nhân nói: “Tử vi Phá quân, làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu” (Tử vi Phá quân, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu), còn nói: “Tử vi Phá quân mà không có Tả Hữu đồng cung, là phường quan lại hung ác” (Tử Phá đồng cung vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác tư lại chi đ), tức là đã chỉ ra bản tính tự tư ích kỷ và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có Cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.

Đại hạn hoặc Lưu niên mà gặp Tử vi – Phá quân đồng độ, chủ về “khứ cựu canh tân” (bỏ cũ để đổi mới). Được Cát tinh hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp Sát tinh, thì nên suy nghĩ kỹ, không được vội vã thay đổi. Nếu Sát tinh và Cát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau có cát hay không để quyết định làm hay dừng.

Phá quân thủ mệnh ở Dần hoặc Thân

Sao Phá quân độc tọa ở Dần hoặc Thân, cung Thiên di có hai sao Vũ khúc và Thiên tướng đồng độ. Vũ khúc là sao có tính chất cô độc và hình khắc, vì vậy nên chú trọng tình hình cát hung của cung Phụ mẫu; nếu cung Phụ mẫu có các sao Sát Kị trùng trùng, hoặc cung mệnh có “Lộc Mã giao trì” mà gặp Sát tinh, đều chủ về từ nhỏ đã rời xa gia đình, là mệnh cách lưu lạc chân trời góc bể.

Có điều, bị Thiên tướng gây ảnh hưởng, nên còn chủ về là người “hành hiệp trượng nghĩa“, gặp chuyện bất bình thì lập tức ra tay; cho nên tuy tính tình cứng rắn, nhưng cũng được người đời ủng hộ và yêu mến. Hơn nữa, cần phải có một nghề tùy thân, sau đó có thể lưu lạc tha hương.

Nếu gặp tam cát hóa Lộc Quyền Khoa và Lộc tồn hội chiếu, lại có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, thì tuy hiếu động, trôi nổi, bất ổn, nhưng vẫn chủ về sự nghiệp có thành tích, có thể rời xa quê hương để phát triển. Nếu vẫn ở nơi sinh ra, tính chất hời hợt, hiếu động sẽ biến thành không chuyên một nghề nào, sự nghiệp và chức vị luôn thay đổi, hoặc hoàn cảnh công tác cũng luôn bị thay đổi.

Sao Phá quân an mệnh ở hai nơi này, nếu gặp Văn xương, Văn khúc, là văn sỹ nghèo nàn, thất chí; nếu gặp Sát tinh trùng trùng hội chiếu, thì một đời cô độc phiêu bạt. Gặp Hóa Kị, Kình dương, Đà la tụ hội ở cung Mệnh thì chủ về tàn tật, nhưng tính hiếu chiến hung dữ vẫn không thay đổi.

Nữ mệnh dễ trụy lạc phong trần, nhất là khi mệnh lập ở tại Thân thì càng nghiệm, phần nhiều còn có quan hệ hôn nhân không chính thức.

Phá quân – Liêm trinh thủ mệnh ở Mão hoặc Dậu

Phá quân và Liêm trinh đồng độ ở Mão hoặc Dậu, tam phương tứ chính có các sao mạnh mẽ hội hợp, vì vậy chủ về không giữ tổ nghiệp, cũng không được cha mẹ che chở, tay trắng làm nên, tự lập.

Về phương diện tính cách, nói mặt tốt thì cương nghị, kiên nhẫn, có lực xung kích, suy nghĩ tới công ích và có lòng chính nghĩa, còn có hoài bão lý tưởng, là nhân tài tốt để sáng lập sự nghiệp; nhưng nói mặt xấu, thì e rằng cuộc đời không được an định, không cách nào sống cho được yên ổn, một đời vì khai sáng sự nghiệp mà lao tâm lao lực.

Do tính chất của các sao chủ về biến động thay đổi, vì vậy không nên kinh doanh làm ăn, nếu không dễ đứng núi này trông núi nọ, không giữ một nghề, mà còn vì lý tưởng quá cao, dẫn đến đầu cơ mạo hiểm nên thất bại. Tuy là nhân viên làm thuê, nhưng thường thường lại được ông chủ cho đảm nhiệm công tác có tính khai sáng. Nếu không có công việc mang tính khai sáng, thì cũng dễ được chỉ định làm công việc bộ môn, chuyên môn, cũng chủ về kiêm nhiệm nhiều chức vị khác nhau, cho nên rất vất vả.

Nếu trong cung Mệnh có đủ các sao đào hoa tụ tập, thì dễ thành chủ quản một số người khác giới, hoặc tính chất của nghề nghiệp có liên quan đến người khác giới.

Nhưng bất kể thế nào, phàm Phá quân – Liêm trinh tọa thủ cung Mệnh, lúc còn bé ắt bị nạn tai bệnh tật; nếu cung Phụ mẫu gặp Sát tinh, thì lúc bé không có duyên với cha mẹ, đến khi bước chân ra đời làm việc, phải trải qua nhiều biến động thay đổi, gian nan nguy hiểm, rồi mới có thể thành tựu. Vì vậy, nói về phương diện hưởng thụ, tinh hệ Phá quân – Liêm trinh không chủ về phúc trạch. Đây là điều không may mắn thuộc về tiên thiên của mệnh tạo.

Phá quân – Liêm trinh tọa thủ cung mệnh rất ưa Liêm trinh Hóa Lộc, hoặc có Lộc tồn hội hợp, chủ về vất vả nhưng vẫn phú quý. Gặp Văn xương Văn khúc thường biểu hiện sở thích nghiệp dư thanh nhã, những sở thích vui thú này có tác dụng giảm thiểu những trắc trở, gập ghềnh trên đường đời, cân bằng cuộc sống cho mệnh tạo.

Nếu có tứ Sát hội chiếu, có thể làm nhân viên hành chính. Cổ nhân nói: “Liêm trinh Phá quân gặp tứ sát, chủ về nhờ tay nghề khéo mà yên thân“. Nhưng nếu Sát tinh quá nhiều lại lạc hãm, thì chủ về một đời ắt nhiều thị phi, tranh chấp, còn dễ bị thần kinh suy nhược, hay bệnh tim mạch, dễ bị chứng da mẫn cảm, dị ứng; nếu có các sao Sát Kị Hình cùng chiếu, thì có thể thất bại do phạm pháp.

Người sinh năm Bính, Liêm trinh Hóa Kị mà còn gặp Sát tinh, nếu cung mệnh có Thiên hình đồng độ, nên đề phòng tai nạn giao thông. Tinh hệ có kết cấu Liêm trinh Hóa Kị gặp Phá quân và Thiên hình, dù không ở cung mệnh, mà ở cung Thiên di, cũng chủ về dễ xảy ra tai nạn giao thông.

Nếu gặp Kình dương ở cung đối diện, tức Thiên di gặp Kình dương (hoặc tinh hệ này ở cung Thiên di, gặp Kình dương ở bản cung hoặc bản mệnh), thì họa càng nặng. Tính chất này càng chính xác khi tinh hệ Phá quân – Liêm trinh ở tại Dậu, không thể không đề phòng. Phép “xu cát Tỵ hung” là nên gia nhập quân đội hay cảnh sát, hoặc làm công tác nghiên cứu, hoặc công việc xét nghiệm máu.

Phá quân – Liêm trinh ở tại Dậu, có Hỏa tinh đồng độ, do Hỏa tinh lạc hãm, nên biến thành tinh hệ có kết cấu khác. Tính cách người này thiếu tình thân, hơn nữa còn mang tính phản bội. Nếu Liêm trinh Hóa Kị, gặp thêm Thiên hình, thì dễ vì sự nghiệp thất bại mà nảy sinh ý nghĩ không còn muốn sống.

Nữ mệnh Phá quân – Liêm trinh, phần nhiều nếu chồng có tình nhân bên ngoài, thì trái lại, có thể giữ chồng đến bạc đầu. Vì vậy, nên lấy sự nghiệp làm trọng, nếu không, sẽ xảy ra sóng gió trắc trở một cách vô ích; nếu ở cung Mệnh hoặc cung Phúc đức có sao đào hoa tụ tập, thì bản thân người phụ nữ này sau kết hôn cũng dễ trở thành người ngoại tình.

Phá quân thủ mệnh ở Thìn hoặc Tuất

Phá quân độc tọa ở Thìn hoặc Tuất, cung Thiên di có Tử vi – Thiên tướng. Sao Phá quân một mặt bị kềm chế ở “Thiên la – Địa võng”, một mặt lại bị Tử vi kềm chế; thêm vào đó Phá quân có bản chất “tướng ở ngoài mặt trận, không thụ mệnh vua“, sẽ càng phản kháng sự kềm chế của Tử vi ở cung Thiên di, cho nên kết cấu tinh hệ này có nhiều tính cách mâu thuẫn.

“Mâu thuẫn” ở đây có biểu hiện cụ thể ở nhiều phương diện. Chí lớn mà tài sơ là một. Lý tưởng cao mà không có hành động thực tế là hai. Thích đầu cơ mạo hiểm mà tính toán không đủ là ba. Lúc có Xương Khúc hội chiếu, lại ưa thích văn hóa văn nghệ, trong khi nghề nghiệp và chức vị chẳng có liên quan gì đến văn hóa văn nghệ là bốn. Có một nghề sở trường nhưng lại không biểu hiện, đến lúc cần biểu hiện lại không chịu biểu hiện là năm.

Những mâu thuẫn này, chỉ có gặp Hóa Lộc mới có thể giải cứu, làm cho điều hòa, kế đó là được Hóa Lộc ở cung Phúc đức, kế đến nữa là cung Phúc đức hội hợp với Hóa Lộc. Trường hợp sao Hóa ở cung Phúc đức mà gặp Lộc tồn, chủ về người keo kiệt bủn xỉn, không phù hợp với tính cách của Phá quân. Nếu không có những điều như đã luận thuật ở trên, thì mệnh tạo ắt phải gặp nạn tai, hoặc mắc bệnh mãn tính, như bệnh ở não bộ, bệnh về tim mạch, bệnh về thận hoặc đường tiêu hóa. Nếu Vũ khúc Hóa Kị hội hợp với cung Phu thê, lại gặp thêm các sao Hung như Thiên nguyệt, Âm sát, Thiên hình, thì chủ về bị khiếm khuyết năng lực tính dục, hoặc bản thân bị lãnh cảm, hoặc có khuynh hướng đồng tính luyến ái.

      Phá quân – Vũ khúc thủ mệnh ở Tỵ hoặc Hợi

Phá quân và Vũ khúc đồng độ ở Tỵ hoặc Hợi, cổ nhân đối với kết cấu này chẳng đề cao, mà còn có thuyết “Vũ khúc Phá quân khó quý hiển“, về quan điểm này có quan hệ tới thuyết “Vũ khúc ở cung nhàn phần nhiều làm nghề thủ công“.

Phàm người Phá quân – Vũ khúc đóng ở cung mệnh, phần nhiều ưa nghiên cứu tìm hiểu về kỹ năng chuyên môn, dù hội hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc, Văn xương, Văn khúc, cũng ít lưu ý đến tri thức chuyên môn đối với lĩnh vực tài chính kinh tế. Quyết không chọn theo con đường lớn, mà chỉ thích làm những công việc thông thường mang tính đơn giản. Nếu cung mệnh có Sát tinh đồng độ, thì nên tập trung vào một nghề cần tay nghề khéo léo để an thân.

Trong xã hội cổ đại, nhất là trong thời đại khoa cử, người có tri thức chuyên môn và tay nghề khéo, thông thường địa vị xã hội không cao. Vì vậy có thuyết “khó quý hiển“. Ngày nay, nếu cung mệnh hội hợp với các sao phụ, tá, hoặc gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì có khả năng nhân tài chuyên nghiệp đạt tới đỉnh cao, như kỹ sư, giáo sư khoa kỹ thuật, giáo sư tài chính kinh tế, chủ quản bộ môn tài chính kinh tế … Dù gặp Sát tinh, cũng có thể dựa vào nghề nghiệp mà mưu sinh.

Thông thường, người Phá quân – Vũ khúc thủ mệnh gặp khó khăn đối với kinh doanh làm ăn, nhưng nếu Tử vi – Tham lang của cung Sự nghiệp gặp Lộc tồn, Thiên mã, hoặc Hỏa tinh, Linh tinh, thì dễ có cơ hội phát đột ngột. Nữ mệnh Phá quân – Vũ khúc, chủ về có khí khái đàn ông, nếu gặp các sao Cát lại gặp thêm Thiên hình, ắt là bậc nữ sỹ được xã hội biết tên, nhưng bất lợi về hôn nhân. Nữ mệnh, trong hạn Lưu niên Phá quân – Vũ khúc, chủ về có cơ hội thay đổi. Thay đổi tốt hay không, cần phải xem gặp các sao Cát Hung thế nào mà định. Rất sợ Hóa Kị, có nguy cơ bị đình chức vụ, hoặc thất nghiệp, gặp Kình dương, Thiên hình thì có thể phải phẫu thuật.

Nữ mệnh Phá quân, chỉ có an mệnh ở hai nơi Tí hoặc Ngọ là tốt nhất, tuy nên kết hôn muộn, nhưng nếu không gặp Sát tinh hay ác tinh, thì vẫn chủ về giai lão bạc đầu, chồng con song mỹ; khi ở Dần hoặc Thân nếu không phải nhị phòng hay kế thất, phần nhiều chủ về chia ly hay hình khắc, hơn nữa còn sớm rời xa cha mẹ, thậm chí làm con nuôi người họ khác, hoặc rơi vào chốn phong trần mà chẳng có gia đình, không nơi nương tựa. Nhưng cũng có nhiều trường hợp suốt đời không lấy chồng, các tình hình như vậy, cần phải xem xét kỹ tinh hệ của các cung mà định. Ở Thìn hoặc Tuất, thì dễ có khí chất văn nghệ, dẫn đến tính cách không hợp với chồng.

Cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Phá quân, chủ về có cơ hội bỏ cũ đổi mới, đổi mới có tốt đẹp hay không phải xem các sao ở đại hạn, hoặc lấy lưu niên vài năm sau để định. Nếu Phá quân Hóa Lộc, thì gặp cơ hội mới từ nghề nghiệp cũ. Nếu gặp Vũ khúc Hóa Kị và Sát tinh đến hội hợp, thì chủ về phá tán thất bại, thậm chí sự nghiệp đình đốn.

Chỉ khi Phá quân độc tọa thủ mệnh ở Thìn hoặc Tuất của Lưu niên, nếu gặp Kình dương, thì năm đó chủ về sinh con, nếu không sẽ là tai nạn chảy máu, hoặc có tang.

2. Phá quân ở cung Huynh đệ

Phá quân chủ về anh em ở riêng hoặc hình khắc.

Phàm là Phá quân thủ cung Huynh đệ, bản thân thường là con cả, hoặc tuy ở hàng thứ hai hay ba, nhưng trong một số tình hình tuy không phải là con cả mà cũng giống như anh cả. Như trường hợp anh cả mất sớm hoặc làm con nuôi người khác, hoặc chị gái đi lấy chồng, hoặc bản thân làm con nuôi người khác; nếu không, bản thân cũng gánh vác trách nhiệm của trưởng nam hay trưởng nữ.

Phá quân có lục Cát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về anh em nương tựa lẫn nhau.

Phá quân thủ cung Huynh đệ, có Sát tinh hội chiếu, thì chủ về hình khắc cô độc.

Phá quân đồng độ cùng với sao Tử vi, chủ về ba người con, nhưng anh em bất hòa hoặc có anh em khác mẹ, đồng sự thì dễ kết bè kết đảng.

Phá quân đồng độ cùng với Vũ khúc, chủ về hai người, gặp Sát tinh thì một người nhưng thiếu hòa mục.

Phá quân đồng độ cùng với Liêm trinh thì chỉ một người.

3. Phá quân ở cung Thê (Phu)

Nam mệnh chủ về khắc vợ, hoặc chia ly rồi lấy người khác, nên kết hôn muộn; thường gặp nhiều sóng gió, trắc trở, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, sở thích không hợp nhau, dễ vì giận hờn mà chia ly, trong hạn Cát thì có thể tái hợp.

Gặp thêm lục cát tinh thì tình cảm vẫn ở trong tình trạng thiếu thú vị, hoặc chủ về vợ lớn tuổi hơn chồng, hoặc ở chung mà không có nghi lễ chính thức, hay sau khi kết hôn thì ở hai nơi.

Có Vũ khúc đồng độ chủ về sinh ly, có thêm Hóa Kị chủ về người phối ngẫu bị nạn tai bệnh tật. Có Liêm trinh đồng độ chủ về có người tình bên ngoài. Đồng độ cùng Tử vi thì nên lấy người lớn hơn tuổi. Nếu gặp Lộc tồn, Hóa Lộc thì trái lại, sẽ chủ về bất lợi cho gia đình, nam mệnh thì vợ chế ngự chồng, nữ mệnh thì chồng có tính gia trưởng, ưa chi phối vợ.

Phá quân độc tọa cung Thê ở Tý hoặc Ngọ, chủ về người phối ngẫu tính cương, vợ đoạt quyền chồng. Phá quân Hóa Quyền thì vợ chồng tuổi tác ngang nhau.

Phá quân độc tọa cung Thê ở Dần hoặc Thân, nữ mệnh chủ về trước hôn nhân hủy bỏ hôn ước, hoặc yêu người đã có vợ, còn chủ về người phối ngẫu bận rộn vất vả. Nam mệnh có thể lấy vợ hiền thục. Nhưng bất kể là nam hay nữ mệnh, đều chủ về vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều.

Phá quân độc tọa cung Thê ở Thìn hoặc Tuất, chủ về vợ tính cương cường. Nếu cung mệnh hoặc bản cung gặp sao Kị, sao Không, Tả phụ, Hữu bật thì dễ chia ly; nữ mệnh nên giúp chồng về sự nghiệp, phối hợp với chồng gánh vác trách nhiệm gia đình.

4. Phá quân ở cung Tử nữ

Sao Phá quân nhập cung Tử nữ, chủ về con đầu bị “hình thương”, phần nhiều sinh thiếu tháng, sinh non; nhị phòng hay kế thất sinh con trai thì đỡ hơn, lập con thừa tự trước cũng được.

Phá quân nhập miếu, chủ về có ba con trai, tính cương cường. Gặp sao Lộc thì con cái làm hưng thịnh gia nghiệp.
Phá quân thủ cung Tử nữ gặp tứ Sát, chủ về có một con trai nhưng không đắc lực.

Phá quân gặp Kình dương Đà là, là tương sinh mà có khắc chế, chủ về có một con trai nhưng khó nhờ.

Phá quân gặp Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, chủ về có một con trai nhưng khó nhờ.

Phá quân nhập cung Tử nữ, con trưởng dễ bị phá tướng, hoặc nói cà lăm, sinh thiếu tháng.

ST

SAO PHÁ QUÂN III

0

Sao Phá Quân

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Phương Vị: Phá Vỡ Chia Rời
Tính: Âm
Hành: Thủy
Loại: Quyền Tinh, Hao Tinh
Đặc Tính: Hao tán, phu thê, anh hùng, dũng mãnh
Tên gọi tắt thường gặp: Phá
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 8 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung
  • Miếu địa ở các cung Tí, Ngọ.
  • Vượng địa ở các cung Sửu, Mùi.
  • Đắc địa ở các cung Thìn, Tuất.
  • Hãm địa ở các cung Mão Dậu, Dần Thân, Tỵ Hợi.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Người có Phá Quân thủ mệnh thì thân hình đẫy đà, cao vừa tầm, da hồng hào, mặt đầy đặn, mắt lộ, hầu lộ, lông mày thưa. Nếu hãm địa hay đắc địa thì hơi thấp.
Tính Tình
Sao Phá Quân ở cung miếu địa, vượng địa, đắc địa, là người thông minh, nhanh nhẹn, ít chịu ngồi yên, có tài thao lược, anh hùng, đôi khi hiếu thắng, tự đắc, thích phiêu lưu, phong lưu, văn nghệ, nghệ thuật, thích nghiệp võ, hoặc săn bắn, đua xe, lái máy bay, du thuyền, thể thao. Người nữ thì đảm đang, tài giỏi, hay ghen.
Sao Phá Quân ở cung hãm địa, cũng là người thông minh, nhanh nhẹn, ít chịu ngồi yên, hiếu thắng, hay làm chuyện ngược đời, hoặc có sáng kiến lạ đời, có óc kinh doanh, có tài khéo về văn nghệ, nghệ thuật, thủ công, kỹ thuật, có tài thưởng thức, pha chế, chế biến, đa tình.
Công Danh Tài Lộc
Sao Phá Quân dù đắc địa cũng còn bản chất phá tán, tiêu hao, nên dù cho có ý nghĩa tốt thì cái tốt đó cũng thăng trầm, không lâu bền. Vì vậy, Phá Quân đắc địa thì được giàu, sang nhưng gặp nhiều thăng trầm thất thường, khi được, khi mất.
Riêng đối các tuổi Đinh, Kỷ, Quý, Phá Quân lại tốt: phú quý song toàn, uy quyền hiển hách. Còn đối với những tuổi Bính, Mậu, Dần, Thân, Phá Quân miếu địa tuy có hay, nhưng hay mắc tai họa. Cái tốt của Phá Quân, tự nó không vẹn toàn, vẫn phải lệ thuộc vào những tuổi nhất định và có thêm cát tinh hội tụ hoặc sát tinh đắc địa đi kèm.
Các sao hợp với Phá Quân miếu địa gồm có:
  • Cát tinh: Xương Khúc, Tả Hữu, Tam Hóa.
  • Sát tinh đắc địa: Kình, Đà, Không, Kiếp.
Các sao phá hoại Phá Quân miếu địa gồm có:
  • Sát tinh hãm địa.
  • Đại, Tiểu Hao, Hổ, Kị, Hình.
Các sao phá hoại Phá Quân hãm địa gồm có:
  • Sát tinh hãm địa.
  • Đại, Tiểu Hao, Hổ, Kị, Hình.
Nếu Phá Quân hãm địa gặp sát tinh đắc địa thì được giàu sang, nhưng chóng tàn hay bị tai họa.
Ngoài ra, Phá Quân hãm địa ở một số vị trí nào thì đỡ nhẹ cho những tuổi nhất định:
  • Phá Quân hãm ở Mão, Dậu hợp với tuổi Ất, Tân, Quý.
  • Phá Quân hãm ở Dần Thân hợp với tuổi Giáp, Đinh, Kỷ.
  • Phá Quân hãm ở Tỵ Hợi, hợp với tuổi Mậu.
Trong ba trường hợp này thì đỡ lo về tai họa và tương đối khá giả.
Các sao giải những bất lợi cho Phá Quân hãm địa gồm có: Hóa Khoa, Tuần, Triệt, Nguyệt Đức.
Phúc Thọ Tai Họa
Sao Phá Quân là hung tinh và hao tinh, thích hợp với nam giới hơn là nữ giới. Nữ giới gặp sao này thường bị những bất trắc về tình duyên, gia đạo vì Phá Quân chủ về phu thê, hao tán.
Mặt khác, Phá Quân là sao võ cách, thích hợp với người có võ tính, cương tính. Đi với phụ nữ thì cũng không hay.
Sao Phá Quân đắc địa, ý nghĩa tai họa nhẹ nhất là sự thăng trầm, thất thường của công danh tài lộc.
Sao Phá Quân hãm địa thì hay mắc nạn, bị tù hình, giảm thọ, bị bệnh khó chữa, nghèo hèn, cô độc, phiêu bạt, chết thảm. Cái tốt không nhiều, cái xấu thì nhiều và rất nặng.
Những Bộ Sao Tốt
  • Phá Quân ở Tứ Mộ gặp Hình, Lộc: Uy quyền lớn, danh cao.
  • Phá Quân, Toái đồng cung: Tiếng tăm lừng lẫy.
  • Phá Quân, Khoa, Tuần, Triệt ở Thìn Tuất: Thẳng thắn, lương thiện. Nếu thêm cả Nguyệt Đức càng tốt.
Những Bộ Sao Xấu
  • Phá Quân ở Tí Ngọ: Sớm xa cách anh em, cha mẹ; nếu không cũng khắc vợ, chồng hoặc hiếm con, nhất là đối với phái nữ.
  • Phá Quân, Tham Lang, Lộc, Mã: Kiếm tiền dễ dàng. Người nam thì phong lưu, tài tử, phóng đãng, người nữ thì đa tình.
  • Phá Quân, Hỏa: Phá sản, bán sạch tổ nghiệp.
  • Phá Quân, Phục, Hình, Riêu, Tướng Quân: Vợ chồng ghen tuông đi đến chỗ giết nhau.
  • Phá Quân, Triệt, Cô: Chết đường, bất đắc kỳ tử.

Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Phụ Mẫu
Sao Phá Quân chủ về hao tán, ở vị trí nào cũng sớm mất cha hay mẹ, ít ra hai người xa cách hoặc bất hòa. Chỉ trong trường hợp Phá Quân ở Tí, Ngọ và đồng cung với Tử Vi thì cha mẹ khá giả.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Phúc Đức
Sao Phá Quân ở cung Phúc đều có nghĩa họ hàng ly tán và riêng mình phải tha phương lập nghiệp. Nếu Phá Quân ở Tí Ngọ thì được phúc, sống lâu; ở Thìn Tuất thì riêng mình không có phúc nhiều, nhưng họ hàng quý hiển; ở Dần Thân thì kém phúc, bị họa, họ hàng sa sút; nếu đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì vất vả, lao khổ, xa quê mới sống lâu.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Điền Trạch
  • Không có điền sản nếu Phá Quân ở Dần Thân.
  • Có sản nghiệp buổi đầu rồi phá tan, về sau mới giữ của được nếu Phá Quân ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Tử, Liêm, Vũ.
  • Mua nhà đất rất nhanh chóng, nhưng cơ nghiệp sa sút về già, không giữ được di sản, nếu Phá Quân ở Tí Ngọ.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Quan Lộc
  • Đơn thủ tại Tí, Ngọ: Công danh hiển đạt nhưng thăng giáng thất thường. Lập công danh trong thời loạn. Thành công trong những việc khó khăn và nguy hiểm. Có nhiều mưu trí và dũng mãnh.
  • Đơn thủ tại Thìn, Tuất: Đi vào công danh thì có chức vụ, có uy quyền, đôi khi cấp trên phải nể phục.
  • Công danh lúc đầu thường hay gặp trắc trở, hoặc có chức vụ mà không vừa ý, không hạp với tài năng của mình, nếu khá giả cũng không lâu bền. Nên kinh doanh, buôn bán hay chuyên về kỹ nghệ nếu Phá Quân ở Dần, Thân hoặc đồng cung với Vũ Khúc, Liêm Trinh.
  • Tử Vi đồng cung: Công danh thăng giáng thất thường nên làm nghề buôn bán, kinh doanh, nghề có liên quan đến kim loại, máy móc, xe cộ.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Thiên Di
  • Đơn thủ tại Tí, Ngọ: Được xã hội trọng nể, dễ kiếm tiền, nhưng đôi khi mắc nạn nguy hiểm.
  • Đơn thủ tại Thìn, Tuất: May rủi liền nhau, quý nhân và tiểu nhân đều có, nhiều tai ương, chết xa nhà.
  • Đơn thủ tại Dần, Thân: Ra ngoài hay bị tai nạn xe cộ, vì người ám hại, chết xa nhà.
  • Tử Vi đồng cung: ra ngoài giao thiệp với người quyền quý, được quý nhân nhân giúp đỡ và được kính nể.
  • Vũ Khúc đồng cung: ra ngoài khó nhọc vất vả, dễ gặp tai nạn nguy hiểm. – Liêm Trinh đồng cung: Ra ngoài bất lợi, hay gặp rủi ro.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Tật Ách
Sao Phá Quân ở Cung Tật Ách mà không có sao xấu là số có sức khỏe tốt, ít bệnh tật. Thông thường lúc nhỏ tuổi hay bị mụn nhọt, có ghẻ, máu nóng, có tính ưa thích về xe cộ, máy móc, phiêu lưu, nay đây mai đó, nên dễ gặp tai nạn xe cộ, duyên nợ lận đận.
  • Phá Quân, Hao, Mộc, Kị: Có ung thư, nếu không cũng phải mắc bệnh cần phải mổ mới qua khỏi được.
  • Phá Quân, Riêu, Hồng: Bệnh mộng tinh.
  • Phá Quân, Hỏa Tinh nhất là ở cung Ngọ bị rối trí, điên.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Tài Bạch
  • Giàu có dễ dàng bằng kinh doanh táo bạo, nếu Phá Quân ở Tí Ngọ.
  • Tiền bạc vô ra thất thường nếu Phá Quân ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Liêm Trinh.
  • Chật vật buổi đầu, về sau sung túc nếu Phá Quân đồng cung với Tử Vi hay Vũ Khúc.
  • Khó kiếm tiền, thu ít, chi nhiều nếu Phá Quân ở Dần, Thân.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Tử Tức
Sao Phá Quân đóng trong cung Tử thông thường có nghĩa hiếm con, xung khắc với cha mẹ dù ở cung nào và đi với sao nào cũng vậy.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Phu Thê
Sao Phá Quân thường chủ sự hao tán về duyên nợ. Nam hay nữ dù có lập gia đình cũng phải có sự bất hòa, ly thân, ly hôn, chắp nối, hôn nhân trắc trở, hoặc hay ghen tuông, gây gỗ, đôi khi có sự ích kỷ, nóng tánh, hoặc vì hoàn cảnh thời cuộc mà phải xa cách nhau một thời gian sau mới tái hợp lại. Tuy nhiên nếu không có sao xấu thì duyên nợ tốt, chóng thành, người hôn phối có tài năng, liêm khiết, trung trinh, biết lễ độ, thẳng thắn, mạnh bạo, tánh khí cương cường, đôi khi khó tánh.
  • Phá Quân tại Tí, Ngọ: Tuy vợ chồng khá giả nhưng nên muộn đường hôn phối. Nếu không trong đời phải có lần xa cách nhau.
  • Phá Quân tại Dần, Thân: Gia đình suy bại, vợ chồng bất hòa, hình khắc.
  • Phá Quân, Tử Vi đồng cung: Vợ chồng khá giả, hợp tánh nhưng phải hình khắc, chia ly, nên muộn đường hôn phối.
  • Phá Quân, Vũ Khúc đồng cung: Gia đình nghèo khổ, thiếu hòa khí nhưng vợ chồng vẫn xum hợp lâu dài.
  • Phá Quân, Liêm Trinh đồng cung: Vợ chồng làm ăn khó khăn, hay bất hòa, xa cách.
Ý Nghĩa Phá Quân Ở Cung Huynh Đệ
  • Hiếm anh em, anh em bất hòa, xa cách nhau nếu Phá Quân ở Tí Ngọ.
  • Càng hiếm hơn và anh em ly tán hoặc có tật và bất hòa nếu Phá Quân ở Thìn, Tuất, Dần, Thân hay đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.
Phá Quân Khi Vào Các Hạn
Nếu Phá Quân sáng sủa thì hạn gặp tài, danh thành đạt. Ngược lại, nếu hãm thì rất nhiều tai họa (tội, tang, mất chức, bệnh).
  • Phá Quân, Tuế, Kị: Lo âu, bực dọc vì cạnh tranh, kiện cáo.
  • Phá Quân, Liêm, Hỏa: Phá sản, bị tù, có thể chết.
  • Phá Quân, Việt, Linh, Hình: Bị súng đạn.
  • Phá Quân, Tướng, Binh, Thai, Riêu: Bị phụ tình, đàn bà thì bị lừa gạt, thất trinh, thất tiết.

ST

CÁC THUẬT NGỮ CƠ BẢN

0

Các thuật ngữ cơ bản về Âm Dương ngũ hành của Thiên Can, Địa Chi và bản Mệnh

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

1.1. Nhận xét chung

     Sáu mươi hoa Giáp, được cấu thành bởi 10 Thiên can và 12 Địa Chị. Thiên Can và Địa chi cũng được phân định Âm Dương ngũ hành rõ ràng.
     Từ việc ghi nhớ các thuật ngữ, quy ước của nội dung này, giúp ta phân biệt được Âm (Dương) Nam, Dương (Âm) Nữ để tiến hành phép an sao trong Tử Vi.
     1.2. Các thuật ngữ cơ bản về Âm Dương ngũ hành của 10 Thiên Can và 12 Địa Chi
     1.2.1. Phân định tuổi Âm hay Dương
a. Phân định Âm Dương theo Thiên Can của năm sinh
    b. Phân Âm Dương theo Địa Chi của năm sịnh
     Việc phân biệt tuổi Âm hay Dương theo hai cách trên đều có kết quả như nhau và được định nghĩa như sau:
     Nếu là nam, tuổi Dương thì gọi là Dương Nam, tuổi Âm thì gọi là Âm Nam.
     Nếu là nữ, tuổi Dương thì gọi là Dương Nữ, tuổi Âm thì gọi là Âm Nữ.
     1.2.2. Phân định Ngũ sắc, Ngũ hành, Bát quái và Phương hướng
    1.2.3. Phân định hợp, phá của Thiên Can
   1.2.4. Phân định các nhóm, hợp xung của Địa chi
    a. Các nhóm của Địa Chi
     Tứ sinh: Dần Thân Tỵ Hợi;
     Tứ mộ: Thìn Tuất Sửu Mùi;
     Tứ chính: Tí Ngọ Mão Dậu.
    b. Tam hợp của Địa Chi
     – Tam hợp: Dần Ngọ Tuất;  – Tam hợp: Tỵ Dậu Sửu;
     – Tam hợp: Thân Tí Thìn;   – Tam hợp: Hợi Mão Mùi.
     c. Nhị hợp của Địa Chi
     – Tí hợp Sửu;                      – Tình hợp Dậu;
     – Dần hợp Hợi;                    – Tỵ hợp Thân;
     – Mão hợp Tuất;                   – Ngọ hợp Mùi.
     d. Xung nhau của Địa Chi
     – Tí xung với Ngọ;               – Tỵ xung với Hợi;
     – Mão xung với Dậu;            – Thìn xung với Tuất;
     – Dần xung với Thân;           – Sửu xung với Mùi.
     1.2.5. Phân định Ngũ hành và quy luật Sinh Khắc của Ngũ hành
     Ngũ hành bao gồm các hành: Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong đó:
     Kim: là vàng hay các kim loại;
     Mộc: là gỗ hay các thảo mộc;
     Thủy: là nước hay các chất lỏng;
     Hỏa: là lửa hay khí nóng;
     Thổ: là đất đá.
     Ngũ hành tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy dưỡng Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
     Ngũ hành tương khắc : Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
   1.3. Phương pháp tìm bản Mệnh
     Khi đã rõ tuổi của hàng Can, Chi, muốn tìm xem Bản mệnh thuộc Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ
     Việc xác định Ngũ hành bản Mệnh trong Tử Vi rất quan trong. Dựa vào Bản Mệnh để xem xét xem ta thuộc bố cục của sao, bộ sao nào từ đó có định hướng để xem xét luận giải.
     Để ghi nhơ được Bảng tổng hợp trên rất khó khăn. Đa phần cần bảng để tra cứu. Tuy nhiên không phải khi nào chúng ta cũng có Bảng và mang theo để tra cứu. Do đó cần có phương pháp ghi nhớ mỗi khi cần thiết và tiện cho việc ứng dụng, nghiên cứu, xem xét. Sau đây xin giới thiệu một phương pháp tìm Bản Mệnh.
     Để hiểu được trước hết cần ghi nhớ được vị trí của 12 Địa Chi qua hai phương pháp an trên giấy và trên bàn tay
     Trong đó:
     Cung Tí đọc Giáp – Ất.
     Cung Sửu đọc Bính – Đinh.
     Cung Dần đọc Mậu – Kỷ.
     Cung Mão đọc Canh – Tân.
     Cung Thìn đọc Nhâm – Quý.
     Bước 2: Xác định Địa Chi trên lòng bàn tay (Hình 1-3)
     Trong đó:
     Cung Tí đọc Tí – Sửu.
     Cung Thìn đọc Dần – Mão.
     Cung Mão đọc Thìn – Tỵ.
     Cung Tí đọc Ngọ – Mùi.
     Cung Thìn đọc Thân – Dậu.
     Cung Mão đọc Tuất – Hợi.
     Lưu ý: Địa chi ở đây được an ngược chiều kim đồng hồ từ Tí đến Thìn rồi Mão và lập lại chu kỳ trên cho hết 12 Địa chi.
     Bước 3: Xác định Ngũ Hành
     Từ cung Địa chi (địa chi của lá số cần xác định) này đọc thuận theo chiều kim đồng hồ năm cung đó các Ngũ hành là Kim – Thủy – Hỏa – Thổ – Mộc gặp Thiên Can (của tuổi cần xác định) ở đâu lấy Ngũ hành đó làm Ngũ hành của Hoa giáp.
     Ví dụ 1: Xác định Bản Mệnh của tuổi Nhâm Tuất;
     Theo bước 1, “Hình 1-2” Can Nhâm thuộc Cung Thìn
     Theo bước 2, “Hình 1-3” Chi Tuất thuộc cung Mão.
     Theo bước 3, tại vị trí Chi Tuất thuộc Mão (Hình 1-3) kể là Thủy đếm thuân theo Thiên Can (Hình 1-2) đến cung Thìn thuộc Nhâm Quý. Do vậy Nhâm Tuất thuộc Thủy Mệnh.
     Ví dụ 2: Xác định Bản Mệnh của tuổi Bính Dần;
     Theo bước 1, “Hình 1-2” Can Bính thuộc Cung Sửu
     Theo bước 2, “Hình 1-3” Chi Dần thuộc cung Thìn.
     Theo bước 3, tại vị trí Chi Dần thuộc Sửu (Hình 1-3) kể là Thủy đếm thuân theo Thiên Can (Hình 1-2) đến cung Sửu thuộc Bính Đinh. Do vậy Bính Dần thuộc Hỏa Mệnh.
1.4. Xác định Can Chi khi biết số năm
     Để thực hiện phép xác định này ta cần ghi nhớ một số nguyên tắc sau:
     Nguyên tắc 1: Ghi nhớ các vị trí đinh danh của Địa Chi trên Địa bàn (Hình 1-1);
     Nguyên tắc 2: Được thực hiên trong chu kỳ của 100 (một thế kỷ) tính từ năm đầu tiên: 100, 200, 300, …1900,…2000,…3000,…;
     Nguyên tắc 3: Ghi nhớ 09 bội số của 12 trong 100 năm bao gồm: 0, 12, 24, 36, 48, 60, 72, 84, 96;
     Nguyên tắc 4: Ghi nhớ các số cuối của năm tương ứng với: 0-Canh, 1-Tân, 2-Nhâm, 3-Quý, 4-Giáp, 5-Ất, 6-Bính, 7-Đinh, 8-Mậu, 9-Kỷ.
     Các bược thực hiện
     Bước 1: Giữ lại hai số cuối của năm, các số còn lại thực hiện phép cồng dồn với nhau sao cho kết quả có giá trị nhỏ hơn 10.
     Bước 2: Kết quả của “Bước 1” đem chia cho 3 nếu:
     – Kết quả không dư: khởi tại cung Thân;
     – Kết quả dư 1: khởi tại cung Tí
     – Kết quả dư 2: khởi tại cung Thìn.
     Bước 3: Từ kết quả của “Bước 2” dùng hai số cuối của năm kết hợp với các “Nguyên tắc 1, 3, 4” để thực hiện phép tìm Can Chi của năm.
     Khi áp dụng Bước 3 cần lưu ý: sử dụng bội số của 12 (Nguyên tắc 3) có giá trị gần nhất với hai số cuối của năm cần tìm. Từ cung khởi “Bước 3” đếm tiến hay lùi đến năm cần tìm để xác định Địa Chi kết hợp với Nguyên tắc 4 để xác định Thiên Can.
     Ví dụ 1: Xác định Thiên Can, Địa Chi của năm 2012
     Bước 1: giữ lại hai số cuối (12) sử dụng các số còn lại (20) để thực hiện phép tính công dồn: 20=2+0=2;
     Bước 2: Kết quả của “Bược 1”(2) đem chia cho 3, ta được kết quả: 2:3=0,6 dư 2 do vậy cung khởi là cung Thìn.
     Theo “Nguyên tắc 3” thì 12 là cung Thìn, theo “Nguyên tắc 4” số cuối cung của năm là 2 nên là “Nhâm” do vậy:
     Năm 2012 là năm Nhâm Thìn.
     Ví dụ 2: Xác định Thiên Can, Địa Chi của năm 39287
     Bước 1: giữ lại hai số cuối (87) sử dụng các số còn lại (392) để thực hiện phép tính công dồn: 392=3+9+2=14=1+4=5;
     Bước 2: Kết quả của “Bước 1”(2) đem chia cho 3, ta được kết quả: 5:3=1 dư 2 do vậy cung khởi là cung Thìn.
     Theo “Nguyên tắc 3” thì 87 có giá trị gần với bội số 84 của 12 nên từ cung Tí kể là Tí đếm lùi 4 cung kể cả cung Tí ta có cung cần xác định là cung Dậu, theo “Nguyên tắc 4” số cuối cung của năm là 7 nên là “Đinh” do vậy:
     Năm 39287 là năm Đinh Mùi.
ST

THUẬT NGỮ CƠ BẢN TRONG TỬ VI

0

Thuật ngữ cơ bản trong Tử Vi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

2.1. Nhận xét chung

     Thực tế lá số Tử Vi có hình tròn. Để việc xem xét thuận mắt và dễ dàng trong việc chấm lá sô nên lá số Tử Vi được chuyển thành hình Vuông hay Chữ nhật cho tiện.
     Trên lá số Tử Vi phần ô vuông ở giữa là Thiên bàn; dùng để ghi các thông tin cơ bản của đương số như: Họ và tên, Ngày tháng năm sinh, Giờ sinh,…
   
Phương pháp an trên giấy               Phương pháp an trên bàn tay
Hình 2-1: Vị trí 12 cung và vị trí Thập nhị chi trên Địa Bàn
     Mười hai cung số bao quanh Thiên bàn được gọi là Địa bàn. Địa bàn để ghi 12 cung của Tử Vi. Phần Địa bàn bao gồm 12 Địa chi từ Tí đến Hợi và được chia làm 4 hướng chính trong đó: Cung Tí thuộc Bắc (Khảm), Ngọ thuộc Nam (Ly), Mão thuộc Đông (Chấn) và Dậu (Đoài) thuộc Tây.
   2.2. Các lưu ý cần nhớ
     Chúng ta cần lưu ý một số cách viết trong cách luận Tử Vi và các nội dung khác của cuốn sánh. Cần phân định rõ để tránh nhầm lẫn giữa các Sao, Cung, thuật ngữ với nhau và để hiểu được cách viết khi tiếp cận các Tài liệu Tư Vi được cung cấp:
     Các ngôi sao trong Tử Vi đều viết “in hoa” để có thể dễ dàng nhận biết các sao, bộ sao khi đọc, học, nghiên cứu: Ví dụ: viết PHÁ QUÂN chứ không viết Phá Quân
     Tử Vi: ý nói là môn Khoa Học Tử Vi
     TỬ VI: đang nói về ngôi sao TỬ VI trong Khoa học Tử Vi
     Các định danh về 12 Cung viết: Mệnh, Phụ Mẫu (Phụ), Phúc Đức (Phúc), Điền Trạch (Điền), Quan Lộc (Quan), Nô Bộc (Nô), Thiên Di (Di), Tật Ách (Tật hay Ách), Tài Bạch (Tài), Tử Tức (Tử), Phu Thê (Phối), Huynh Đệ (Bào).
     Các định danh về Địa Chi viết: Tí, Sửu Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuât, Hợi. Cần lưu ý cách viết hai cung Tí (chứ “y” dài) và Tỵ (chữ “i” ngắn).
     Không gọi các sao (không phải là Chính tinh) là Phụ tinh, gọi chung là: Bàng tinh (Bàng Tinh), Cát tinh (Cát Tinh), Hung tinh (Hung Tinh), Sát tinh (Sát Tinh), Tứ sát (Tứ Sát) (chữ cái đầu tiên hoặc hai chữ cái đầu của hai từ viết “hoa”).
     Viết “Chính tinh” hoặc “Chính Tinh” chứ không viết “CHÍNH TINH” hay “chính tinh
     Cách ghi Hạn: Đại Hạn, Tiểu Hạn, Mệnh Hạn (Viết “hoa” hai chứ đầu của hai từ).
     Cung “an Thân” được phân biệt với cung “Thân” (Địa Chi) bằng chữ “an
    Kết luận
     Tất cả các sao trong Tử Vi được viết hoa.
     Các thuật ngữ được viết hoa chữ cái đầu của từ thứ nhất hoặc cả chữ cái đầu của từ thứ nhất và chữ cái đầu của từ thứ 2.
     2.3. Các thuật ngữ cần nhớ
     Các thuật ngữ về Thiên Can, Địa Chi và quan hệ giữa các Thiên Can, Địa Chi sử dụng trong Tử Vi cũng được phân định giống như các thuật ngữ cơ bản về âm dương ngũ hành của Thiên Can và Địa Chi trong Phần 1. Ngoài ra trong Tử Vi sử dụng một số thuật ngữ cơ bản khác sẽ được hệ thống trong các mục tiếp theo sau đây.
    2.3.1. Thuật ngữ 12 Địa Chi
     Tứ Mộ: bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi luôn luôn có sao Mộ đóng gọi là Tứ mộ, các tuổi kể trên cũng thường gọi là Tứ mộ cho ngắn gọn.
     Tứ Chính: bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu gọi là Tứ chính, chỉ đúng 4 hướng.
     Tứ Sinh, Tứ Tuyệt: bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi vì luôn luôn các sao SINH và TUYỆT luôn luôn đóng tại đây. Cung có sao TUYỆT (mất hẳn, bế tắt) là cung Tuyệt xứ. Cung Hợi cũng bị gọi là Tuyệt xứ, nếu có TRƯỜNG SINH đóng gọi là cách Tuyệt xứ phùng Sinh, bế tắc lại thông, tức là các trường hợp Mộc Tam Cục.
     Nếu gọi theo thứ tự từ cung Dần, qua Sửu đến Tí là Sinh, Mộ, Chính chứ không phải là Sinh Mộ Tuyệt như các sách đã viết. Sao TRƯỜNG SINH đóng tại 4 cung Tứ Sinh, nơi nào bị TUYỆT mới gọi là tuyệt xứ.
     Củng chiếu: một sao Tam hợp chiếu và 1 sao Xung chiếu, hay một sao Nhị hợp, Lục hội (cùng nhóm). Các sao từ Nhị hợp, Lục hội chiếu về cũng gọi là Củng chiếu. Để phân biệt với các trường hợp Tam hợp chiếu, Xung chiếu gọi là Củng chiếu. Rất dễ gặp với HỎA LINH, các cách Song LỘC, Minh LỘC ám LỘC, KHOA Minh LỘC ám.
     Hội họp: là từ người viết hay dùng, để bất kỳ các trường hợp chiếu về Mệnh từ các cung Xung chiếu và Tam hợp chiếu.
     Nhị hợp, Ám hợp: hai phần Địa bàn đối xứng nhau qua trục Tung “Hình 2-2” được gọi là thế Nhị hợp bao gồm: Tí với Sửu. Dần với Hợi, Mão với Tuất, Thìn với Dậu, Tỵ với Thân, Ngọ với Mùi. Hợp nhau chưa chắc đã là tốt, quan trong là đem lại họa hay phúc cho nhau. Không phân biệt được hợp hay bị hợp.


     Vô Chính Diệu: các cung trong Tử Vi không có Chính tinh được gọi là Vô Chính Diệu. Cung Vô Chính Diệu như một ngôi nhà vô chủ, như một con người không có lập trường rõ ràng. Vì thế nó bị ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu.
     Lục hội: hai phần Địa bàn đối xứng nhau qua trục Hoành “Hình 2-3” được gọi là thế Lục hội bao gồm: Tí với Mùi, Sửu với Ngọ, Dần với Tỵ, Mão với Thìn, Thân với Hợi, Dậu với Tuất. Các sách thường dùng từ Lục hại. Người viết dung từ Lục hội cũng hội họp với nhau chắc gì đã hại, tùy thuộc vào Hung Cát tinh. Gieo 1 ấn tượng xấu như thế là không tốt.
     Tam hợp: từ vị trí một cung bất kỳ trên Địa bàn đếm thuận và nghich đến cung thứ 5 thì được gọi là 3 cung Tam hợp với nhau bao gồm các Tam hợp: Tam hợp Dần Ngọ Tuất, Tam hợp Thân Tí Thìn, Tam hợp Hợi Mão Mùi và Tam hợp Tỵ Dậu Sửu. Các Tam hợp được thể hiện qua “Hình 2-4”.
     Xung chiếu: hai cung đối nhau trên Địa bàn được kể là xung chiếu nhau bao gồm: Tí với Ngọ, Sửu với Mùi, Dần với Thân, Mão với Mùi, Thìn với Tuất, Tỵ với Hợi. Thế xung chiếu được thể hiện qua “Hình 2-5”.
2.3.2. Thuật ngữ các cung trong Tử Vi
     Các cung chỉ về người: dùng để mô tả nhanh các cung Phụ, Nô, Tử, Huynh, Phối.
     Các cung tài sản: muốn nói các cung Điền và Tài.
     Các cung ban ngày và ban đêm
     Chỉ dùng để lý luận cho bộ NHẬT NGUYỆT, HỎA LINH và Vận Hạn. Trăng thì sáng về đêm, ngày thì cần Mặt trời. HỎA LINH là 2 sao chủ lịnh lạc khẩn cấp, về đêm là quá khẩn, còn là 2 sao chủ giận và hờn. Đêm khuya không ngủ lại giận với hờn nó đáng sợ hơn là ban ngày. HỎA LINH còn là sao lửa cháy nhanh vì thế ban đêm khó cứu hơn ban ngày.
     Vận Hạn, Đại Hạn đóng ở cung ban ngày nổi bật hơn là các cung ban đêm.
     Các cung ban ngày: từ Dần Mão Thin Ti Ngọ Mùi.
     Các cung ban đêm: từ Thân Dậu Tuất Hợi Tí Sửu.
     Dương cung và Âm cung
     Các cung Dương: Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Các tuổi kể trên cũng được gọi là tuổi Dương (Dương nam hoặc Dương nữ).
     Các cung Âm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Các tuổi kể trên cũng được gọi là tuổi Âm (Âm nam hoặc Âm nữ).
     Ngũ hành các cung
     – Cung Thổ: bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi;
     – Cung Kim: hai cung Thân, Dậu;
     – Cung Thủy: hai cung Hợi, Tí;
     – Cung Mộc: hai cung Dần, Mão;
     – Cung Hỏa: hai cung Tỵ Ngọ.
     Các cường cung và nhược cung
     Cường cung: bao gồm các cung Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài, Phối;
     Nhược cung: các cung còn lại bao gồm Phụ, Điền, Nô, Tật, Tử, Huynh.
     Các sao tài năng, thành công nằm ở cung cường mới đáng quí. Nếu nằm ở các cung nhược là cung của người, may ra mình cũng được thụ hưởng.
     Các Tam hợp 
     Cũng giống như cách tìm Tam hợp của 12 Địa chi, các cung cách nhau 5 cung kể từ cung bắt đầu đến cung kết thúc được gọi là Tam hợp. Mười hai cung trong Tử Vi có 04 Tam hợp như sau:
     – Tam hợp Mệnh Tài Quan (đọc theo chiều nghich) hay Mệnh Quan Tài (theo chiều thuận);
     – Phụ Tử Nô (chiều nghịch) hay Phụ Nô Tử (chiều thuận);
     – Bào Tật Điền (chiều nghịch) hay Bào Điền Tật (chiều thuận);
     – Phúc Phối Di (chiều nghịch) hay Phúc Di Phối (chiều thuận).
     Các xung chiếu
     Hai cung đối nhau trong Tử Vi được kể là xung chiếu nhau và bao gồm các Cung sau;
     – Mệnh và Di;     – Điền và Tử;
     – Phụ và Tật;     – Quan và Phối;
     – Phúc và Tài;   – Nô và Bào.
     Mệnh: là tư tưởng, là chí hướng, tính cách và khả năng của con người; Mệnh mỗi người có một hướng đi rất rõ ràng, trong vô thức ta vẫn đi rất đúng hướng. Mệnh là “cái hồn” của ta, cái chí của ta. Có người Mệnh chẳng là cái gì, nhưng Thân họ sướng vẫn cứ sướng. Cần chi tài năng cứ sinh ra làm cậu ấm, cô chiêu ưa chi có nấy, không lo phần nhà cửa (cha mẹ chỉ lo đừng quậy là được).
     Để an được cung Mệnh cần biết Tháng sinh và Giờ sinh. Vị trí cung Mệnh được an như sau:
     Bắt đầu từ cung Dần là tháng Giêng, đếm theo chiều thuân đến tháng sinh, rồi từ cung ấy, gọi là giờ Tí, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào an Mệnh ở cung đó.
     Các cung tiếp theo được an từ vị trí cung Mệnh theo nguyên tắc như sau: Từ vị trí cung Mệnh theo chiều thuận (thuận kim đồng hồ) an lần lượt các cung: Phụ Mẫu (Phụ), Phúc Đức (Phúc), Điền Trạch (Điền), Quan Lộc (Quan), Nô Bộc (Nô), Thiên Di (Di), Tật Ách (Tật hay Ách), Tài Bạch (Tài), Tử Tức (Tử), Phu Thê (Phối), Huynh Đệ (Bào).
    Thân: là thân thể, thân phận, xác thân, xác thịt là con người thật của ta, thân đóng tại đâu ta chịu ảnh hưởng tại đó. Cái tốt đẹp tụ tập tại cung Thân chỉ sướng Tấm Thân thôi. Không đem lại Vinh Quang cho Mệnh. Tạm thời bạn nên chấp nhận Thân là thể xác còn phần minh chứng ở phần tiếp theo.
     Thân cần nhất là sự khỏe mạnh để chuyên chở cái Mệnh, như câu người ta nói “Một tinh thần mạnh khỏe trong một thân thể tráng kiện”. Một tinh thần chọc trời khuấy nước nằm bẹp dí trên giường ai mà sợ, thương hại thì có. Chỉ cần một thân thể bình thường thôi là quý với một ý chí hơn người là tốt. Một thân thể hùng vĩ, khôi ngô đầu óc thiếu trình độ thì làm… vệ sỹ. Dẫu sao cũng sướng kề cận quý nhân. Tệ nữa làm bốc vác,…
     Cung an Thân được an theo Tháng và Giờ sinh
     Bắt đầu từ cung Dần, là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, từ ấy gọi là giờ Tí, đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào an Thân ở cung đó.
     Thân chỉ có thể an vào Mệnh, Phu Quân, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê và Phúc Đức.
     Có thể nhận biết ví trị cung an Thân qua Giờ sinh như sau:
     – Sinh giờ Tí, Ngọ Mệnh và Thân đồng cung;
     – Sinh Giờ Sửu, Mùi cung Thân an tại Phúc Đức (Phúc);
     – Sinh Giờ Dần, Thân cung Thân an tại Quan Lộc (Quan);
     – Sinh Giờ Mão, Dậu cung Thân an tại Thiên Di (Di);
     – Sinh Giờ Thìn, Tuất cung Thân an tại Tài Bạch (Tài).
     – Sinh Giờ Tỵ, Hợi cung Thân an tại Phu Thê (Phối).
     2.4. Hạn
     Hạn là cung Mệnh+Thân thứ 2.
2.5. Định Giờ sinh trong Tử Vi
     Lá số Tử Vi được lập thành trên cơ sở Ngày Tháng Năm và Giờ sinh Âm lịch. Nếu có ngày tháng năm và giờ Dương lịch thì ta phải chuyển sang Âm lịch trước rồi mới lập lá số.
     Để chuyển ngày tháng năm Dương lịch sang Âm lịch thì ta cần cuốn lịch để chuyển đổi.
     Để chuyển giờ sinh Dương lịch sang giờ Âm lịch thì ta căn cứ vào qui định sau:

Bảng 2-1: Bảng quy ước giờ sinh trong Tử Vi
     Như vậy mỗi giờ Âm lịch có thời gian bằng hai giờ Dương lịch và nếu sinh từ 11 giờ đêm (23h-pm) trở đi thì ngày sinh coi như là sinh vào ngày hôm sau.
     Chú ý:
     Cần phải điều chỉnh lại giờ sinh cho chính xác trước khi chuyển đổi giờ vì giờ Dương lịch của Việt Nam có thay đổi tăng lên so với thực tế:
     – Từ 1/1/1943 đến 31/3/1945 thì giờ sinh cần giảm một giờ;
     – Từ 1/4/1945 đến 31/3/1947 thì giờ sinh cần giảm hai giờ;
     – Từ 1/4/1947 đến 30/6/1955 thì giờ sinh cần giảm một giờ;
     – Từ  1/1/1960 đến khoảng 1977 thì giờ sinh cần giảm một giờ (chỉ áp dụng cho miền Nam).
ST

Phá Quân I

0

Phá Quân

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Phá quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, thuộc dương Thủy. Trong Đẩu Số, sao Phá quân là “tướng tiên phong”, cho nên chủ về “xung phong”, mà không chủ về “lui lại phòng thủ”. Phàm người có Phá quân thủ mệnh, chỉ có thể “công” mà không thể “thủ”, hơn nữa, sau khi “công” thành trì xong cũng sẽ bàn giao cho người khác cố thủ, bản thân lại phải đi xung phong ở trận chiến khác.

Biểu hiện cụ thể của người có Phá quân thủ mệnh, đó là không lúc nào được yên thân, nói về góc độ công việc, ví như người chủ giao nhiệm vụ khó khăn cho anh ta, đợi giải quyết xong khó khăn, người chủ lại điều phái đi làm việc khác, cuộc đời dường như không bao giờ ngồi không mà hưởng, thậm chí còn không được hưởng thành quả do bản thân nỗ lực mà có.

Khi luận đoán tình huống cát hung của Phá quân, cần phải xem xét Phá quân có tính “an định” hay không, và năng lực khai sáng của Phá quân là lớn hay là nhỏ. Điều đáng chú ý ở đây, đó là bản thân Phá quân có thể sáng lập được sự nghiệp hay không, hay chỉ hợp với tính “bận rộn vất vả vì người khác”.

Phá quân rất ưa gặp Lộc tồn và Hóa Lộc, ưa nhất là bản thân Phá quân được Hóa Lộc, khi gặp được sao Lộc, chủ về khai sáng có thu hoạch, nếu không gặp được sao Lộc, cuộc đời sẽ chủ về “bận rộn vất vả vì người”, chỉ mất công vô ích, còn giá trị của bản thân được hưởng rất ít.

Khi Phá quân Hóa Lộc, mệnh cách sẽ kiêm nhiệm nhiều nghề, nhiều việc, nhiều chức vụ, hoặc gánh vác chức trách một cách quá mức.

Khi Phá quân Hóa Quyền, so với Phá quân Hóa Lộc, thì mức độ vất vả tăng hơn nhiều, nhưng thanh thế thêm phần hiển hách.

Nếu Phá quân không gặp sao Lộc, lại không gặp Hóa Quyền, thì cần phải gặp Tả phụ Hữu bật, mới chủ về có trợ lực, giảm thiểu được vất vả và lo lắng.

Nếu không gặp Cát hóa, lại không gặp các sao Phụ Tá cát, trái lại, gặp các sao Sát Kị cùng đến xâm phạm, thì cuộc đời mệnh tạo chỉ có thể làm công việc thuộc mẫu người chuyên phá hoại, mà thiếu tính khai sáng.

Cổ nhân nói “Phá quân gặp Hỏa tinh Linh tinh, chủ về bôn ba vất vả, phạm pháp kiện tụng” (Phá quân Hỏa Linh, bôn ba lao lực, quan phi tranh môn), còn nói “Phá quân có Kình dương Đà la đồng cung, chủ về bị tàn tật” (Phá quân Dương Đà đồng cung, chủ hữu tàn tật), lại còn nói “Sao Hình và sao Kị đồng cung, chủ về bị tàn tật” (Hình Kị đồng cung, chủ hữu tàn tật), là nói lý lẽ này.

Thâm chí ở cung Sự nghiệp cũng không nên có kết cấu như vậy. Cổ nhân nói “Phá quân gặp Kình dương Đà la ở cung Quan lộc, chủ về đi xứ khác kiếm ăn” (Phá quân Dương Đà quan lộc vị, đáo xứ cầu khất).

Trong số các Cát tinh, Phá quân không ưa Văn xương, Văn khúc, vì khí chất của chúng khác nhau. Cổ nhân nói “Phá quân có Văn xương Văn khúc đồng cung, chủ về một đời là bần sĩ” (Phá quân Xương Khúc đồng cung, nhất sinh bần sĩ). Chỉ khi Phá quân độc tọa ở Dần, có Cát tinh, mới ưa Văn xương, Văn khúc, vì cổ nhân nói “Phá quân ở Dần có Văn xương Văn khúc đồng cung, chủ về quý” (Phá quân Xương Khúc đồng cung vu dần chủ quý).

Liên quan đến Thiên mã, có một số tổ hợp chủ về không ổn định. Bởi lực phá hoại của Phá quân là do khí chất không ổn định, gặp thêm Thiên mã ắt ý chí bất định, rời xa người thân, lưu lạc phóng đãng, không làm nghề chính đáng. Nữ mệnh Phá quân nếu gặp thêm đào hoa, càng chủ về ý chí bạc nhược, thấy mới là thay đổi. Khẩu quyết của phái Trung Châu là “Phá quân không có cát hóa, Lộc tồn và Thiên mã hội hợp với Sát tinh, nam nữ mệnh đều chủ về phóng đãng. Nữ mệnh đẹp thì cũng như Hồng Phất” (Phá quân vô cát hóa, Lộc Mã hội sát, nam nữ lãng đãng. Nữ mệnh giai giả diệc như Hồng Phát), theo sách sử, Hồng Phất là tỳ của Dương Nghiệp, người đời Đường, đã lén bỏ theo Lý Tịnh.

Sát Phá Tham đều chủ về biến hóa thay đổi, nhưng tính chất hoàn toàn khác nhau.

Biến hóa thay đổi của Tham lang thiên về nhu hòa, có ý vị tư lợi, phấn son, trang điểm, do đó chủ về ngầm thay đổi, không có hành vi bộc lộ kinh thiên động địa, thậm chí cũng có ý vị tu bổ, bảo trì, sửa chữa.

Biến hóa thay đổi của Thất sát có thể đến đột ngột, khiến người ta không liệu tính được, hơn nữa, sự biến động thay đổi của Thất sát chưa chắc có liên quan đến chuyện cũ, nghề cũ, có thể là một hành động hoàn toàn mới, như đồi việc làm, đổi nghề.

Biến hóa thay đổi của Phá quân, thì phải “từ chuyện cũ mà sáng lập ra cái mới”, từ việc nhỏ đến việc lớn, bất kể cải biến ra thứ to tát gì, cũng đều có liên quan đến chuyện cũ. Do Phá quân có ý vị “phá hoại trước rồi mới kiến thiết sau”, do đó nguyên nhân sẽ vì “chuyện cũ” mà phát sinh khó khăn. Sau khi giải quyết xong những khó khăn này lại khai sáng cục diện mới. Người có Phá quân thủ mệnh đặc biệt vất vả là vì lý do này.

Sau khi Thất sát và Tham lang biến hóa thay đổi, có thể an hưởng thành quả của mình, còn Phá quân thì không, lại chủ về “công” mà không chủ về “thủ”, nếu Phá quân ở tình cảnh bị buộc phải “thủ”, trái lại, sẽ sầu khổ, nếu ở cung Phúc đức thì càng như vậy.

Phá quân chỉ có một tổ hợp tinh hệ cấu tạo, vừa có thể “công” vừa có thể “thủ”, gọi là cách “Anh tinh nhập miếu”.

Kết cấu của cách này, là khi Phá quân độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng”, có Phá quân của bản cung Hóa Quyền, còn Liêm trinh ở cung đối diện Hóa Lộc đến chiếu, lại có các sao Phụ Tá đến hội hợp, không bị các sao Sát Kị hội chiếu. Đây là thượng cách của Phá quân, cổ nhân nói “Anh tinh nhập miếu, địa vị đến bậc tam công” (Anh tinh nhập miếu, vị chí tam công). Người sinh năm Bính, ngại vì Phá quân không có sao Lộc, hơn nữa còn có Liêm trinh Hóa Kị đối củng, chủ về cuộc đời nhiều lo toan, họa hoạn, thị phi.

Phá quân có một hung cách, đó là khi Phá quân thủ mệnh, chỉ có một mình Văn khúc Hóa Kị đồng độ, không thấy Văn xương đến hội hợp, hoặc tuy có gặp Văn xương, nhưng đồng thời còn gặp các sao Sát Kị Hình, thì được gọi là “Phá quân ám tinh”, Văn khúc Hóa Kị trở thành “ám tinh” đối với Phá quân, ở đây không chỉ Cự môn.

Cổ nhân nói “Phá quân và ám tinh cùng ở một chỗ trong nước, làm mộ phần” (Phá quân ám diệu cộng hương thủy trung, tác chủng), khiến cho người đời sau hiểu lầm là nói về tai nạn sông nước, thực ra không phải, mà ý cổ nhân nói “Phá quân gặp ám tinh ở ba cung Hợi Tý Sửu, giống như nhập vào mộ phần, chủ về khốn khó đình trệ, chứ chẳng phải nói tai nạn bất ngờ”, ba cung Hợi Tý Sửu thuộc chính phương của thủy, cho nên nói là “trong nước” (thủy trung) mà thôi. Còn việc hiểu lầm Văn khúc là “ám tinh” thành Cự môn “ám tinh”, đã xảy ra nhiều tranh cãi. Người biết thì xem đây là điều cực kỳ bí mật, không chịu nói cho ai biết, khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số gặp nhiều khó khăn.

Phá quân ở trong 12 cung luôn luôn đối nhau với Thiên tướng, ảnh hưởng của Phá quân tới Thiên tướng rất quan trọng, đối với Thiên tướng thuộc vào cách nào, thuộc về cách “Tài ấm giáp ấn” hay thuộc về cách “Hình kị giáp ấn”.

Phá quân độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng” đồng độ; ở Mão hoặc ở Dậu có hệ “Liêm trinh Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là tổ hợp “Liêm trinh – Phá quân – Thiên tướng”

Phá quân độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất, cung đối diện là hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ; ở Sửu hoặc ở Mùi là hệ “Tử vi Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tổ hợp “Tử vi – Phá quân – Thiên tướng”.

Phá quân độc tọa ở Dần hoặc ở Thân, cung đối diện là hệ “Vũ khúc Thiên tướng” đồng độ; ở Tị hoặc ở Hợi là hệ “Vũ khúc Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp “Vũ khúc – Phá quân – Thiên tướng”.

Cấu tạo tinh hệ

Phá quân quan hệ với các tinh hệ, bố trí của Phá quân trong tinh bàn có sáu loại như sau:

–      Ở Tý hoặc ở Ngọ, Phá quân độc tọa, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng” đồng độ.

–      Ở Sửu hoặc ở Mùi, Phá quân đồng độ với Tử vi.

–      Ở Dần hoặc ở Thân, Phá quân độc tọa, cung đối diện là hệ “Vũ khúc Thiên tướng” đồng độ.

–      Ở Mão hoặc ở Dậu, Phá quân đồng độ với Liêm trinh.

–      Ở Thìn hoặc ở Tuất, Phá quân độc tọa, cung đối với là hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ.

–      Ở Tị hoặc ở Hợi, Phá quân đồng độ với Vũ khúc.

Phá quân cũng như Thất sát và Tham lang bài bố tại 12 cung trong tinh bàn, khi nhập các cung thuộc Dương (Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất) thì Phá quân độc tọa, khi nhập các cung thuộc Âm (Sửu Mão Tị Mùi Dậu Hợi) thì Phá quân đồng độ với một tinh diệu khác. Đặc tính quan trọng này, là cơ sở để luận giải sự phối hợp giữa “mệnh nạp âm”, nguyên tắc “hợp Cục nhập Cách” và “tính lý” của các tổ hợp tinh hệ trong mệnh bàn.

Từ các tổ hợp trên có thể biết, các sao có quan hệ mật thiết nhất đối với Phá quân, ngoài Thất sát và Tham lang tương hội ở tam phương, còn có bốn sao Tử vi, Vũ khúc, Liêm trinh, Thiên Tướng.

Thông thường, Phá quân rất ưa gặp Tử vi, bởi vì Tử vi có thể khiến tính “phá hoại” của Phá quân, khi phá hoại thì đúng mục đích, đúng nơi đúng chỗ, khẳng định giá trị và hiệu quả, hơn nữa, còn khiến cho Phá quân giảm bớt lực phá hoại, hay bộc phát phá hoại một cách vô cớ. Trong tình huống này, Phá quân như con ngựa bị cương tỏa, bị kiểm soát, khiến cho cấu tạo của tinh hệ tràn đầy mâu thuẫn. Cho nên, hễ Phá quân thủ mệnh ở Thìn Tuất Sửu Mùi, đều chủ về tinh thần của mệnh tạo bất an, nảy sinh tâm lý khó chịu, thường chủ động tìm cách bộc lộ phát tiết, để giải tỏa sự mất quân bình về tâm lý. Nếu Phá quân gặp các sao Sát Kị, thì phần nhiều cảnh ngộ đời người sẽ trắc trở, gập gềnh, bất đắc chí, tâm lý mất quân bình càng nặng hơn. Nói “tính phản nghịch” của Phá quân, tức là nói đến kết quả của sự ảnh hưởng kềm chế lẫn nhau giữa hai sao Tử vi và Phá quân khi đồng độ. Tuy nhiên “tính phản nghịch” này sẽ không biểu hiện một cách tùy tiện.

Hệ “Tử vi Phá quân” thêm vào tính chất của sao Thiên tướng, dễ phát triển thành mẫu người có hệ thần kinh kích thích đột biến, trừ khi cung mệnh gặp sao Lộc, mà còn phải tụ tập đủ các Cát tinh, khiến cảnh ngộ đời người thuận lợi toại ý. Nếu không mệnh cách loại này đột nhiên phản ứng dữ dội, mà bản thân họ cũng không thể khống chế kiểm soát được tâm trạng này.

Phá quân và Liêm trinh đồng độ hội hợp trong tình hình tốt, có thể cương nhu chế hóa lẫn nhau. Nếu hội hợp trong tình hình xấu, thì biến thành xung đột thị phi, mệnh cách sẽ không từ thủ đoạn nào để giải quyết mâu thuẫn.

Vũ khúc có tính chất “cô độc và hình khắc”, khi hội hợp đồng độ cùng với Phá quân, khiến mệnh cách có tính lạnh lùng, nghiêm khắc một cách quá đáng, dễ phát triển thành tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân. Muốn thay đổi tính cách này, cần phải có nỗ lực hậu thiên rất lớn. Kết cấu tinh hệ “Vũ khúc Phá quân”, rất kị gặp các sao khoa cử công danh, bởi vì, có thể phát triển thành tính nết kỳ quái lạnh lùng, trong khi nội tâm lại rất ưa có danh tiếng. Trời rét thấu xương mà không chịu mặc áo ấm, là mẫu người có kết cấu tinh hệ kiểu này.

Phá quân thủ mệnh không ưa an định

Phá quân có lực phá hoại khá nặng, cổ nhân cho rằng nó hóa khí là “hao. Ý nghĩa của “hao” là “tiêu ma”, vì lực phá hoại của Phá quân sẽ không đến một cách đột nhiên, mà thường có mang tính chất “tiêu ma”, khiến cho sự tình đang từ tiệm biến chuyển thành đột biến. Hành động của con người ở hậu thiên có thể bổ cứu cho sự thiếu xót của tiên thiên, Phá quân là một ví dụ, bởi vì trong quá trình chuyển biến, mệnh tạo có rất nhiều cơ hội để xoay chuyển tình thế của mệnh cách cũng như của mệnh vận. Khi luận đoán cần chú ý.

Cổ nhân ưa an định, mà không ưa biến động, thay đổi, do vậy không đề cao tính cách của Phá quân. Đối với nữ giới có Phá quân thủ mệnh, nhất là người dung nhan xinh đẹp, cổ nhân nói “Nếu nữ mệnh gặp Phá quân, chủ về không có bà mai mà tự gả”, “Sao Phá quân tính bất minh”, chú thích viết “Đây là sao cô độc dâm dật, không thích hợp với nữ mệnh; thêm tứ sát, ắt sẽ vì gian dâm mà hại chồng, vì ghen ghét mà hại con, không phải vậy thì là xương kỹ, tỳ thiếp thấp hèn”. Những nhận xét này, có thể đúng phần nào với xã hội cổ đại, bởi vì phụ nữ thời cổ đại không có sự nghiệp riêng. Người có Phá quân thủ mệnh, cần phải tìm kích thích, để cho tâm lý được quân bình, cho nên dễ dẫn tới gia đình bất hòa, thậm chí luân thường đảo lộn. Nhưng, xã hội hiện đại thì khác, phàm là nữ mệnh có Phá quân tọa mệnh, nhất định không chịu làm bà nội chợ, bởi vì có thể tìm được kích thích từ sự nghiệp, sức mạnh “tiêu ma” của Phá quân cũng từ gia đình dời vào trong cương vị công tác.

Về đại thể, người có Phá quân thủ mệnh, nhất định không chịu sống nhàn hạ, dù sự nghiệp đã thành cục diện ổn định, họ cũng phải tìm cho được chuyện làm để khiến người ta phải kinh hãi. Nếu sức mạnh bảo thủ quá lớn, thì họ dễ trở thành người làm mưa làm gió. Do đó muốn đánh giá Phá quân, cần phải tính đến đặc tính này. Giả dụ có thể đặt người này vào một cương vị độc lập sáng tạo, họ có thể phát huy được sở trường, khiến sự nghiệp có thể thành tựu một cách đột phá, sáng tạo ra cục diện mới. Nếu có ý định không thay đổi, thì không thích hợp với người có Phá quân thủ mệnh. Đây chính là điểm mà cổ nhân đã lấy làm căn cứ, để bình luận về nữ mệnh Phá quân. Vì vậy, ở thời hiện đại, có một số người Phá quân thủ mệnh cực kỳ oan uổng, họ bị xem là “bọn gây ra thị phi”. Thực ra, có thể vì thượng cấp của họ không biết dùng sở trường của họ.

Phân biệt các “động tinh”

Trong Đẩu Số, gồm mấy sao có tính chất “động” cần phân biệt một cách tinh tế, như: Thiên cơ, Thất sát, Phá quân, Tham lang, Thiên mã.

Tính “động” của Thiên cơ là “động” của “động não”, như thay đổi kế hoạch, mưu tính,…

Tính “động” của Thất sát, Phá quân, Tham lang, về đại thể, là chỉ một giai đoạn biến động thay đổi về sự nghiệp hoặc cuộc sống, như sự nghiệp căng thẳng, nhân sinh quan thay đổi,…

Tính “động” của Thiên mã, là chỉ “động” của thân thể, như đến nơi khác ở, hay đi tiếp xúc công việc, hoặc bôn ba vì sinh kế,…

Đây là đại cương phân biệt các “động tinh”, nhưng có lúc về chi tiết rất dễ lẫn lộn. Ví dụ như, nhìn vào mệnh bàn, phát hiện ra mệnh tạo có sự thay đổi về công việc, đây là vì lưu niên gặp Thiên cơ, nhưng cũng có người là vì gặp phải Thất sát, Phá quân, Tham lang, làm sao phân biệt ? Về đại thể, vì tính “động” của Thiên cơ mà xảy ra thay đổi, là thuộc về tính hế hoạch, còn vì Thất sát, Phá quân, Tham lang mà xảy ra thay đổi, thì ít nhiều cũng mang ý vị khai sáng.

Ví dụ như, có người bôn ba, bận rộn là vì ảnh hưởng của Thiên cơ, nhưng có người lại vì cung Mệnh hoặc cung Phúc đức gặp Thiên mã. Làm sao phân biệt các trường hợp này ? Về đại thể, bôn ba của Thiên cơ vẫn là vì kế hoạch; còn bôn ba của Thiên mã là do nghề nghiệp phải như vậy. Ví dụ như một thương nhân, vì phải bàn bạc kế hoạch đầu tư, nên phải đi máy bay thường xuyên giống như đi taxi, đây là “động” của Thiên cơ, nhưng một nữ tiếp viên hàng không, cũng phải đi máy bay thường xuyên giống như đi taxi, thì lại thuộc tính “động” của Thiên mã, cũng chủ về “động”, là “động” do nghề nghiệp phải như vậy.

Ba sao Thất sát, Phá quân, Tham lang ở trong mệnh bàn, là then chốt của sự biến động. Ở xã hội cổ đại, người xưa quan niệm nên “tĩnh” không nên “động”, mọi việc đều chú trọng phòng thủ, đi buôn xa không bằng mở hiệu buôn bán tại chỗ, người có học thì sợ sự nghiệp có sự thay đổi, thay đổi thì danh tiếng sẽ không như ý, cho nên ba sao Sát Phá Tham bị xem là “Trúc la tam hạn”.

Nhìn từ quan điểm của xã hội hiện đại, sự nghiệp thay đổi chẳng có gì phải đáng sợ, trái lại, đây còn có thể là cơ hội của đời người, do đó cách đánh giá “Sát Phá Tham” cũng sẽ phải khác với thời cổ đại. Tuy về đại thể, mỗi sao đều có tính chất biến động thay đổi trong cuộc đời hoặc sự nghiệp, nhưng mỗi sao vẫn có đặc tính khác nhau.

Tính cách của Thất sát chủ về “độc lai độc vãng”, có sức khai sáng mạnh, mà còn “phá hoại trước rồi kiến thiết sau”, nhưng thiếu thận trọng. Cho nên, cổ nhân đánh giá không cao người có Thất sát thủ mệnh, cho rằng khó được vinh hiển. Xã hội ngày nay khác với xã hội cổ đại, người có tính cách mạo hiểm, trái lại, sẽ dễ khai sáng sự nghiệp, hơn nữa, cơ hội khai sáng cũng nhiều hơn. Tại sao lại khó vinh hiển ?

Phá quân giống Thất sát, cũng có đặc tính phá hoại, chủ về biến động cực kỳ lớn, có thể ảnh hưởng cả cuộc đời, nhưng khi phân tích tỉ mỉ thì vẫn có sự phân biệt. Phá quân thích hợp ở vai trò khai sáng, mà bất lợi ở vai trò phòng thủ,  cho nên, sau khi khai sáng sự nghiệp được một thời gian vài ba năm thì bắt đầu chán, mất hứng thú; còn người Thất sát thủ mệnh thì trái lại, vẫn có thể tiếp tục phát triển sự nghiệp. Thất sát tuy có tính “độc lai độc vãng”, nhưng lực phá hoại lại nhẹ hơn Phá quân. Vì vậy mà Cổ thư đánh giá Phá quân thấp hơn Thất sát, nói Phá quân là “phóng đãng”.

Tham lang cũng chủ về biến động thay đổi, nhưng nhỏ mà còn ổn trọng. Vì vậy thiếu tính khai sáng, tính chất biến động thay đổi lại thiên nặng về quan hệ xã giao. Nên người có Tham lang thủ mệnh chỉ tiếp cận một số người trong nhất thời, qua một thời gian là bắt đầu xa lánh. Nói tính cách này bất lợi đối với sự nghiệp, nhưng ngày nay, tính cách này của Tham lang cần phải có cách nhìn khác, để phù hợp với hoàn cảnh xã hội khi giao thời.

 

ST

LỘC TỒN VÀ BÁC SĨ

0

LỘC TỒN và BÁC SĨ

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

* BÁC SĨ  luôn luôn đồng cung với LỘC TỒN nhưng người ta thường nói đến LỘC TỒN kẻ để dành, mấy ai nhắc đến  BÁC SĨ kẻ học rộng. Thậm chí phú TỬ VI nói LỘC TỒN uyên bác nhưng thật ra đâu phải vậy, đó là công lao của sao BÁC SĨ. Nói LỘC TỒN có tính thị phi oan cho sao này, thật ra đó là sao  BÁC SĨ còn mang tên kẻ bài bác, bài xích…
* LỘC TỒN thật ra cầm đầu một nhóm sao đặc biệt gồm LỘC TỒN KÌNH DƯƠNG ĐƯỜNG PHÙ QUỐC ẤN ĐÀ LA..
* BÁC SỸ cầm đầu nhóm sao mà ta thường gọi là vòng LỘC TỒN. Việc gọi sai lâu ngày thành thói quen, vả lại vô hại cho nên người viết cũng để yên như vậy. Chính danh tại đây không cần thiết.LUẬN ĐOÁN CÁC CHI TIẾT SAU:

TỒN TẠI, CÒN ĐÓ…

LỘC TỒN chủ tồn tại, còn đó thì đối cung của nó là sao PHI LIÊM chủ tan rã, ly tán, phân chia, chia ly. Khi bên nầy tồn tại bên ngoài kia PHI LIÊM tan rã ra thành những mảnh vụn. Tạo ra quy luật “ta còn thì mầy mất”. Trong đời thường ta thường gặp các câu hỏi. Anh ấy có còn không? Công ty ấy còn tồn tại không? Mối tình ấy có còn không?… Hằng trăm câu hỏi xoay quanh chữ “Còn”. Nếu không bị phá cách thì thấy LỘC TỒN ta có quyền nói còn. Đúng chưa? Nhưng quan trọng là cái gì còn? Còn đau à, còn ngoại tình à, còn theo giặc à, còn khổ à… Nếu thấy vui như ĐÀO HỒNG HỈ ta nói vui, nếu thấy TANG KHỐC lại còn khóc nữa. Vì thế Hạn LỘC TỒN có người lại nói còn đó trong tôi một nỗi buồn. Cũng có người lại nói Địa vị còn thế là vui rồi.

DÀNH DỤM, DỒN CẤT, ĐỂ DÀNH, Kẻ để dành…

* Đó là tính chất của kẻ ưa để dành có thế mà giàu. Đi với LƯU HÀ thành cách lưu trữ. Trái tính với LỘC TỒN là PHI LIÊM là đem chia chác ra, phân chia ra. Hai sao ở 2 thế đối đầu nhau luôn xung chiếu lẫn nhau.
* LỘC TỒN lấy câu ‘Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn’ làm phương châm lẽ sống, đến miếng giẻ rách cũng dành dụm cho… con cháu đời sau. Vì LỘC TỒN là cái kho chứa  tài lộc, mà ta đang ở thời kỳ (quan niệm cách đây trên 2000 năm) cái gì cũng tài lộc được hết. Bạn cũng từng thấy những kho hàng đồ sộ, đến những kho nho nhỏ trong nhà bạn, đến chẳng có gì gọi là kho, biến tủ thành kho, biến túi xách thành kho… tùy thuộc rất nhiều vào các sao Tầm quan trọng chỉ sự to lớn như KHÔI VIỆT, HỒNG LOAN… Cụ thể LỘC TỒN đi với các sao nầy ta có quyền đoán. Ôi! cái kho gì to thế. Do là cái kho sao nầy ưa sao Tài Sản (là VŨ KHÚC) để ta nhìn vào kết luận kho nầy chứa tiền. Còn ham muốn một ngôi sao chủ về nhà kho là THIÊN PHỦ. Thế là bạn biết kho và nhà kho. Ví dụ ta có VŨ PHỦ + LỘC TỒN không bị phá cách, thế là thoải mái.
Trở lại với dành dụm và để dành nhưng cũng có kẻ dành dụm nước mắt, có kẻ để dành tai họa lưu lại về sau như thị phi, như nợ nần cho cháu phải trả, những oán hờn, nghiệt ngã.

KẺ HỌC RỘNG, Kẻ Sỹ Đây Rồi:

Sỹ là người có học, người đi học. Sỹ phu là người đàn ông có học, Kẻ Sỹ là kẻ có học tùy quan niệm của mỗi người, như Nguyễn Công Trứ nào là chưa ra làm quan phải như thế nào, làm xong rồi phải sống như thế nào, đó là quan niệm cá nhân. Cũng như Khương Tử NH a ngồi câu nơi sông Vị với lưỡi câu thẳng là huyền thoại nhưng có kẻ tin (tin thì theo đó mà làm để chết đói, ngây thơ hết chỗ nói) chẳng qua ông ấy chưa gặp sao “Thời Cơ”, sao “Khúc rẻ cuộc đời”, sao “Bước Khởi Đâu” ẩn dật, âm thầm câu cá mưu sinh gặp Minh Quân phát hiện vời ra giúp nước. Y sỹ, Họa sỹ, Văn sỹ, Nhạc sỹ, Thi sỹ, Tu sỹ… có phải là kẻ sỹ không? Không phải Sỹ sao người đời phong cho Sỹ? Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có phải kẻ sỹ không? Cuối đời ông ấy làm nghề bói toán kiếm sống. Các Sỹ đâu có cần thiết phải được ông Vua công nhận là kẻ sỹ, chịu chữa bệnh cho Vua mà không chữa cho dân lành, các Sỹ đều giống nhau ở chỗ sỹ diện của người có học không chịu phục vụ cho kẻ ác, kẻ bất tài. Kẻ sỹ không thể hôm nay viết như thế nầy, ngày mai viết thế khác, không thể hôm nay ca ngợi người nầy ngày mai ca ngợi người khác. Thậm chí có người không thèm ăn thóc nhà Chu, đúng là ngốc sỹ, nhà Chu cũng ăn thóc từ nhân dân mà ra. Kẻ sỹ chỉ là người có học mà thôi, tùy theo nghề học mà ta có một họa sỹ khác với một thợ vẽ. Một Họa sỹ gởi gắm tâm trạng trong bức tranh, thợ vẽ chỉ sao chép lại mà thôi. Đói thì cũng vẽ chân dung bậy bạ kiếm sống, cần thì pano cũng chơi, làm gì có chuyện cầm cọ chờ vẽ râu Vua mới được gọi là Họa sỹ.
Ngôi sao Bác sĩ có cách đây vài ngàn năm với nghĩa kẻ học rộng, kẻ bài xích không liên quan gì đến ông Bác Sỹ ngày nay hết. Vì sao y bác bỏ, y bài xích. Xem tiếp.

 BÁC BỎ, BÀI XÍCH, BÀI BÁC…

Là tính chất của sao BÁC SĨ nếu có TRIỆT thành cách bài trừ (một sao bài bác gặp thêm một sao trừ bỏ). BÁC SĨ bài bác vì PHI LIÊM ở đối cung phỉ báng, mạ lỵ, hàm hồ quá và sao này còn làm nhiều điều sai trái, bất chính. Cho nên MỆNH Hạn ngộ sao  BÁC SĨ vướng phải thị phi. Bác bỏ luận điệu sai trái là sao BÁC SĨ, sao nầy luôn luôn đi chung với LỘC TỒN.
Nhưng điều muốn nói tính chất văn học của sao BÁC SỸ rất là cao, buồn cười sao “cái kho” hưởng hết. Sao BÁC SỸ chung sống với LỘC TỒN bị lu mờ bởi sao tài lộc nầy (sống với người giàu chịu thiêt, trình độ của BÁC SỸ bị LỘC TỒN hưởng hết). Ngoài đời cũng có một câu ca dao mới cũng hay: “Thủ kho to hơn thủ trưởng, đến nhà thủ trưởng lại tưởng là kho, đến nhà thủ kho lại to hơn thủ trưởng”

THĂM HỎI, TƯỞNG NHỚ…

Thăm hỏi ai còn hay mất. Tưởng nhớ thăm hỏi. Hợp với sao ĐIẾU KHÁCH
Đặc biệt vận hạn đến sao LỘC TỒN lòng thường tưởng nhớ đến ai đó, vì từ LỘC TỒN ta có bộ TƯỚNG ẤN và TƯỚNG QUÂN, BỆNH PHÙ  tam hợp, bộ nầy thực chất là ấn tượng vui buồn, vinh nhục… khiến lòng ta có những phút giây hồi tưởng mạnh nhất là có thêm KHÔI VIỆT từ đó ta luôn băn khoăn ai còn, ai mất..
Điều đáng nói nữa LỘC TỒN trong nhịp đời chủ sự tồn tại, đi với Cát tinh có nghĩa là tồn tại trong niềm vui, trong thành công. Hợp với LIÊM TRINH là trường tồn như đã nói, hợp với LƯU HÀ là tồn tại và lưu lại. Đi với tài tinh như VŨ KHÚC, THIÊN PHỦ là giàu sang, đi với CƠ LƯƠNG là phú quý ông. Đóng ở MỆNH hưởng tổ nghiệp, đồng thời là “trọng hậu đa y thực” (lo lắng dành dụm về sau có nhiều áo quần và thức ăn). Đóng ở Điên, Tài là “đôi kim tích ngọc” (vàng chôn ngọc cất). Tuy nhiên LỘC TỒN không phù hợp với một số sao điển hình là CỰ MÔN , PHÁ QUÂN, KHÔNG KIẾP , HÓA KỊ. Đáng sợ là đi với KHÔNG KIẾP.
“LỘC đảo MÃ đảo kị THÁI TUẾ chi hợp KIẾP KHÔNG.”
“KIẾP KHÔNG, THÁI TUẾ suy vi. LỘC MÃ ngộ TRIỆT ích gì mà mong.”
“LỘC ngộ KIẾP KHÔNG đồng qui.
Cũng là vô dụng hoá vi cơ hàn.”
LỘC TỒN khi tốt và khi xấu
KHI TỐT:
Là kẻ có trình độ được quyền bài xích, bài trừ, bài bác cái xấu.
Là tồn tại lâu dài với quyền lực, địa vị, tài sản.
Bảo tồn, bảo tàng tài sản, di sản, sự nghiệp cha ông để lại đến ngày sau. Tồn tại theo năm tháng
Là dành dụm được, dồn cất được, là của để dành.
Là cái kho tài sản do dành dụm mà có.
KHI XẤU:
Không tồn tại, là mất đi, là không còn. Từ không còn địa vị, tài sản đến không còn tính mạng. Không bảo tồn được địa vị, di sản, sự nghiệp cha ông để lại. Nếu có còn là còn tai, còn hoạ, còn oán, còn thù, còn buồn phiền uất hận, ngậm ngùi theo năm tháng. Còn lại thân thể tật nguyền với con tim thương tích. Là cái túi rỗng không tiền, thậm chí không có giấy tờ minh chứng.
Là bị cấm cất trữ, cấm giữ gìn dù cho đó là di vật, di sản của tiền nhân, là kỷ niệm của bản thân, là công lao cả cuộc đời bồi đắp. Thậm chí còn can tội lưu trữ, tàng trữ. Xấu quá thì đôi khi không còn cả mồ mả, không còn con cháu phụng thờ.
MỘT PHÁ CÁCH của LỘC TỒN.
CỰ MÔN+ LỘC TỒN:
“CỰ phùng TỒN TÚ cát giả tàng hung”.
Cách cát giả tàng hung, hay còn gọi là cát xứ tàng hung. Chữ giả nầy các sách TỬ VI âm qua chữ Việt là dã hoặc dả nghĩa của nó là giả so với thật, vậy thì viết giả là chính xác. ‘Cát giả tàng hung’ là Tốt giả ẩn tàng hung họa thật. ‘Cát xứ tàng hung’ là trong cái tốt đẹp ẩn tàng hung họa. Ví dụ rất cụ thể, rất thực dụng là con heo quay, con gà quay trông rất ngon lành, rất đẹp mắt màu sắc đẹp không chối cãi nhưng chắc chắn rằng, tôi có 2 con heo, một tươi và một con chết bệnh. Dĩ nhiên tôi chọn con chết vì bịnh tôi quay. Thế thôi, cho nên thịt heo ngon nhất là thịt heo luộc. Con gà ngon nhất là con gà luộc.
* Trong cái tốt đẹp ẩn tàng hung họa. Trong đó nổi bật sự bất mãn, sự không hài lòng tồn tại.  Liên quan đến sự dồn cất, gởi cất, dành dụm, để dành. Vì những cái dành dụm không hiệu quả, phản tác dụng, gây hậu quả. Cái mà CỰ MÔN phản đối, CỰ MÔN chê bai chỉ trích, CỰ MÔN là ông Vua thứ 3 đã quyết không nên cất giữ nó, dành dụm nó… Thế mà LỘC TỒN chỉ là một bàng tinh thôi cứ để dành. Vậy thì cái gì tồn tại đó là tồn tại sự bất mãn. Cảnh chồng nói là việc chồng, vợ làm theo ý mình. Và ngược lại để rồi thấy chưa. Cất vàng làm gì? Vàng đâu có lên giá. Mua đất làm gì để giờ đây sụt giá. Chứng khoán thì khi cao không bán, chừ rẻ bán cho ai?… vô số chuyện khôn lường.
* Cũng là cách xung đột mâu thuẩn của kẻ trên và người dưới, mạnh ai nấy làm. Trên bảo dưới không nghe. Trên phản đối dưới bài bác. 2 cái mâu thuẩn cùng tồn tại song song với nhau. Trong gia đình là sự bất mãn của cha mẹ với con cái, của chồng đối với vợ, của anh đối với em…
* Cũng còn là cách. Ngôn ngữ bất cẩn.
Một lời nói bất cẩn với kẻ trên, hoặc với kẻ ngang hàng nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người khác không xóa nhòa được. Cũng quy về tồn tại sự bất mãn. Bất mãn là CỰ MÔN mà tồn tại là LỘC TỒN = Tồn tại sự bất mãn. Nói mấy mọi việc vẫn Vũ Nh ư Cẩn con của ông Vẫn Nh ư Cũ.
Còn đó trong tôi một nỗi buồn
Mây trời xanh ngắt gợi nhớ thương
Lối cũ ta về không gặp lại
Thì hỏi làm sao không vấn vương?
ST
- Advertisement -