36.9 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 53

TỬ PHỦ DẦN THÂN

0

TỬ PHỦ Dần Thân

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

BỘ TỬ PHỦ Dần Thân.

Gồm 2 sao TỬ VI , THIÊN PHỦ, gọi tắt là bộ TỬ PHỦ

NHẬN XÉT:
Đây là một cách cục hay, hoàn chỉnh. Bên trong là bộ TỬ VŨ LIÊM phối hợp hài hòa với bộ PHỦ TƯỚNG. Bên ngoài THẤT SÁT dòm ngó, quan sát. Nếu bên trong không bị phá cách tất THẤT SÁT trở thành lên lính canh gác bên ngoài, bên cửa ải, biên cương xa xôi.

Trái lại bên trong không có trợ cách, lại bị thêm phá cách trầm trọng. Tất bên ngoài trở thành kẻ chiếm đoạt (thế khách mạnh hơn thế chủ). Kẻ bị mất địa vị là đây, thậm chí mất luôn cả sanh mạng.
LUẬN ĐOÁN CÁC CHI TIẾT SAU:
Đây là phần để luận đoán thêm trong trường hợp TỬ PHỦ Dần Thân. Hai bài cần thiết phải đọc kỷ để luận đoán là TỬ VI và THIÊN PHỦ. Phần luận đoán các chi tiết được áp dụng tại đây.

HÀNH ĐỘNG và PHÁN XÉT, HÀNH ĐỘNG và PHỦ DỤ.
Chúng ta thường xem trong truyện Tàu, sau khi đánh chiếm được thành trì của địch, các vị Tướng quân vào thành đầu tiên là vỗ về an ủi bá tính, để khỏi gieo hoang mang lo sợ cho họ, trấn an dư luận. Hành động là TỬ VI. Phủ dụ vỗ về an ủi là THIÊN PHỦ. Một sự kết hợp hài hòa giữa làm và nói. Cao hơn bộ Đào Hồng cũng nói và làm có tính chất loan báo mà thôi. Vì hành động của TỬ VI là hành động có suy nghĩ, vì trách nhiệm mà làm, sau khi LIÊM TRINH đã dò xét xong, VŨ KHÚC tìm cách giải quyết và TỬ VI hành động theo một lối nào đó, không như Đào Hồng vui thì làm. Vậy bộ TỬ PHỦ là một kết hợp rất hay giữa hành động và lời nói.
BAO CHE, BAO BỌC CHE CHỞ. KẺ CHE ĐẬY, TRÁCH NHIỆM phải CHE CHỞ:
Một sao chủ bao bọc là TỬ VI. Một sao chủ che chở là THIÊN PHỦ. Một sao chủ bao lại được một sao chủ che, kết hợp thành một bộ, gọi là bộ bao che.
Chủ bao che, bảo trợ. Tốt là được sự bao che của người cũng như của thần linh, tiên tổ và có thể bao che cho kẻ khác. Xấu (xem phần Kị gặp ở dưới) là không được người khác bao che, bao che không kết quả. Chẳng bao che được cho kẻ khác. Xấu nữa là can tội bao che. Do tính chất kể trên mà có câu:
“TỬ PHỦ đồng cung tối vi phúc hậu, thiết hiềm nội trở TRIỆT TUẦN”
Chữ phúc hậu đó mô tả sự bao che, bảo trợ cho kẻ khác (được kẻ khác đánh giá là phúc hậu thương người, che chở cho họ) và bị mất tác dụng bởi TUẦN TRIỆT. Vì TRIỆT chủ trừ bỏ và TUẦN chủ sự phong tỏa, đề phòng của kẻ khác. Cả 2 sao đều sợ Tuần Triệt bởi thế có câu:
“TỬ PHỦ đồng cung ‘đế vô sở quyền’ nan giải tai ương do như  TUẦN KHÔNG  xâm nhập”
‘Đế vô sở quyền’ Vua không có quyền lấy đâu giải được tai ương cho chính bản thân mình, chứ nói chi cho người khác, một ông vua bị sao TUẦN  nó vòng lại trong một vòng tròn khép kín, một ông vua bù nhìn thì có. Vua phải tuân theo, phải ngoan ngoãn còn gì là vua nữa. Còn TRIỆT thì sao, nửa vua nửa dân, Vua chẳng ra vua dân chẳng ra dân. Chắc chắn không sớm thì muộn chẳng còn làm Vua nữa.
Một số ví du về bao bọc và che chở:
Được bao bọc trong lụa là gấm vóc, được sự che chở của nhân dân. Sống nơi kín cổng cao tường.
Chúng nó bao che lẫn nhau, rốt cuộc chẳng ai có tội.
Có nhiều trường hợp như là bao gái, có kẻ lại được gái bao.
Vấn đề  là được sự bao che của ai? Và bao che cho ai? Bao che che cái gì khó luận đoán hơn.
BẢO với nghĩa như
Đứng ra gánh vác như: Bảo lãnh, bảo hộ, bảo vệ, bảo chứng, bảo hiểm, bảo kê…Vd: Được bảo lãnh đi ra nước ngoài. Là sao TỬ VI có thêm THIÊN PHỦ. Trong cách TỬ PHỦ  còn bao hàm nhiều cách hay khác như Tử Phủ triều viên thực lộc vạn chung.


THỪA NHẬN:
Được thừa nhận và thừa nhận kẻ khác. Ví dụ được thừa nhận là kẻ kế thừa sự nghiệp tiên tổ, hưởng tước hiệu cha ông để lại. Ví dụ thừa nhận A là con cháu. Xấu là không được thừa nhận, bị phủ nhận.
Thừa nhận những công việc, công lao, đóng góp. Xấu là không được thừa nhận, bao công lao công sức bị lãng quên hoặc người khác thụ hưởng. Trong cách Tử Phủ còn hàm chưa nhiều cách hay như: KẾ THỪA, KẾ TỤC, TIẾP NỐI SỰ NGHIỆP… người viết không đi sâu nhưng các bạn cũng thừa hiểu.
BẢO MẬT cách. CHE ĐẬY BÍ MẬT. BÍ MẬT phải CHE ĐẬY:
Bảo mật gì? Tức che đậy bí mật. Bảo mật là bộ sao TỬ VI THIÊN PHỦ gọi tắt là TỬ PHỦ, trong đó TỬ VI  chủ bí mật, THIÊN PHỦ  chủ che đậy. Tức bí mật phải che đậy. Thành ra đây là bố cục rất hài hòa, hợp lý. TỬ VI cần được nhìn thấy THIÊN PHỦ đồng cung hoặc tam hợp. Có thế mới tốt.
Bảo mật gì? Bảo mật cơ sở, bảo mật tài liệu, tin tức, công việc,… Có nhiều cái chúng ta cần bảo mật, nhất là khi trách nhiệm càng cao, nhiệm vụ càng lớn những chuyện tưởng chừng như đơn giản như đau ốm bệnh tật trong người cũng được bảo mật tối đa, chỉ ngững người có trách nhiệm mới biết. Bảo mật sợ gì? sợ ngộ THIÊN KHÔNG là không kín đáo, không thành. Sợ tiết lộ, sợ khám phá tức nhóm SÁT PHÁ, sợ lộ tức là TRIỆT. Đáng sợ nhất là ngộ Tam KHÔNG, có thể đưa đến chết người, chứ không phải thuần tuý hỏng chuyện mà thôi.
Bí mật có thể là bí mật của bệnh tật, bí mật thân thế, bí mật công việc, bí mật tình yêu trai gái, bí mật hợp tác, bí mật trong nghiên cứu…Có muôn vàn bí mật. Đôi khi nó phơi bày lộ liễu trước con mắt chúng ta, nhưng nó kín đáo trước con mắt của kẻ khác. Bí mật với người này nhưng không bí mật với kẻ khác. Nói chung ai cũng có những bí mật không muốn tiết lộ, hoặc chưa phải thời điểm tiết lộ, trong kinh doanh cũng có muôn vàn bí mật, trong quân sự cái gì cũng có thể là bí mật. Tiêu pha cũng là bí mật.
Từ đó bộ TỬ PHỦ có nghĩa: Có trách nhiệm phải che đậy. Ví dụ: Anh là một Sỹ quan, anh phải có trách nhiệm che đậy mọi công việc anh làm, anh không được tiết lộ cụ thể anh đang làm cái gì.

VÌ SAO phải BÍ MẬT:
Bộ TỬ PHỦ luôn luôn có THÁI ÂM hình như có âm mưu phía trước, THẤT SÁT nhòm ngó, khám phá, phanh phui ở cung xung chiếu. Vì vậy bảo mật là thượng sách. Đây là cách bên trong bí mật che đậy kín đáo, bên ngoài tìm cách quan sát, chiếm đoạt. Bên trong tốt tức bên ngoài không thành, bên trong che chắn không tốt tức bên ngoài đoạt được, cướp đươc, quan sát được, khám phá được.
Điều quan trọng là bí mật có quan trọng không? Bí mật gì? Thành công hay thất bại. Bí mật bao giờ cũng sợ bị khám phá, bị lộ, bị tiết lộ, hoặc không thể che đậy kín đáo được. Đó là lý do bộ sao này kị gặp Tam KHÔNG.
Khi che đậy cái nầy tất phải dương cái khác ra. Cung dương ra là cung THÁI DƯƠNG Tỵ Hợi. Cung có âm mưu là THÁI ÂM tại Mão, Dậu.
Để có cặp mắt tinh tường ( phát hiện đối thủ) trong trường hợp nầy cần có HÓA QUYỀN.
NHÀ LỚN và NHÀ CHÍNH.
“Thâm nghiêm kín cổng cao tường.
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh”
Nhìn hình trên. Bức tường thành mà bạn nhìn thấy là Hoàng thành, vị trí đang đứng là nằm bên trong Kinh thành Huế (gọi theo cách dân gian là Nội Thành). Từ vị trí này muốn vào cung cấm phải đi qua Hoàng Thành (qua 4 cổng, tùy nhiệm vụ phải vào theo cổng nào). Muốn vào nơi ở thâm nghiêm nhất Tử Cấm Thành của Vua cũng hình thành 4 cái cổng. Các cung trong Đại nội cũng đều có tường thành riêng, nơi ở, nơi thờ tự đều có các bức tường thành bao bọc. Lại thấy cổng tiền, cổng hậu các cung nhan nhản…
Chúng ta cũng chẳng phải là Vua chúa nhưng những người có TỬ PHỦ hội họp không nhất thiết đồng cung như tại đây luôn luôn ưa cuộc sống kín đáo, nhà có tường cao (dạng biệt thự) nhà ngang dãy dọc. Thấp xuống là có phòng riêng, buồng riêng.
Khi nói đến các cụm từ: kín cổng cao tường ta phải hình dung ngay đến bộ TỬ PHỦ. Cũng sẽ có một người TỬ PHỦ nào đó, ngữa mặt lên trời than rằng: Ôi! Tử Phủ chi lạ rứa, tôi đang ở trong 1 túp lều cuối một con đường làng hẻo lánh. Thì có gì đâu Tử Phủ ngộ tam Không chưa chết là may rồi.

TRONG ĐỊNH, NGOÀI ĐOẠT:
Bên trong quyết định (nhận định, ý định, thừa nhận, phủ nhận) nhưng bên ngoài lại đoạt. Có nghĩa là bên trong có ý định, nhưng quyền lại nằm bên ngoài. Muốn vậy thì cái cung xung chiếu phải xấu hơn 1 tí thì cách TỬ PHỦ mới toàn quyền định đoạt. Cho nên cách TỬ PHỦ kém hơn cách TỬ VI  cư Ngọ là vì thế (Bên trong quyết đinh bên ngoài mới được tham gia). Tuy nhiên đây là thuộc hạng cách hay, càng hay hơn khi cung chính chiếu là THẤT SÁT yếu hơn một tí, bằng không cung tọa thủ bị uy hiếp nặng nề, có thể đưa đến mất quyền định đoạt như đã nói, đến mất địa vị, mất sự bao che và cho đến mất mạng. Cái khó của cách TỬ PHỦ phải cần thật tốt mới đoạt phía bên ngoài.
NHẬN ĐỊNH, NHẬN XÉT:
Chủ nhận định tình hình, tình thế, sự tình, sự việc…Tốt là nhận định đúng. Xấu là nhận định sai có thể đưa đến thất bại, khi nhận định sai một tình huống sự kiện.
Cách TỬ PHỦ cư Dần Thân cần gặp và kị gặp.
CẦN GẶP:
TẢ HỮU: ưu tiên hàng đầu để hưởng cách “Nhất hô bách nặc”. Và cần thiết có TẢ PHÙ, HỮU BẬT mới đắc lực.  Nói chung có người để trợ giúp. Nếu có thêm LỘC TỒN chỉ ngần ấy thôi không bị phá cách cũng phú quí hơn người. Được phê “Quí bất khả ngôn” Quí không hết lời để mô tả.
LỘC TỒN chủ sự trường tồn, tồn tại vững bền. Đồng thời tránh được khó khăn và cản trở của bộ Kình Đà gây ra.
KHOA QUYỀN LỘC thành đạt lớn càng lớn hơn khi có thêm các sao dưới đây. Cần có đủ tam Hóa mới hay, Nhị Hóa các bộ KHOA QUYỀN. KHOA LỘC là hay.
KHÔI VIỆT, XƯƠNG KHÚC… nhóm Văn tinh lợi cho trình độ, tài năng.
TỨ LINH : Lợi cho sự kính trọng mến mộ.
CÁO PHỤ, QUANG QUÍ… Vẽ vang
THAI TOẠ  lợi cho sự thanh nhàn….

KỊ GẶP:
KỊ HÌNH: Vi phạm pháp luật, sương đọng mây tan.
ĐÀO HỒNG KHÔNG KIẾP: yểu. Chỉ có ĐÀO HỒNG không có KHÔNG KIẾP vẫn tốt.
“TỬ VI mạc phùng KHÔNG KIẾP HỒNG ĐÀO nhập Mệnh giảm thọ”. Mạc phùng là đừng gặp, nếu gặp là tạo ra tai họa cho mình.
TAM KHÔNG: Dễ chết. Gặp THIÊN KHÔNG khó thành, Nhiệm vụ không hoàn thành… TRIỆT bí mật bị lộ, nửa chừng đứt gánh… Gặp TUẦN bị phong tỏa, chịu sự sai khiến của kẻ khác. TỬ VI có thể gặp Tuần hay TRIỆT nếu như 2 sao này đóng ở Tài cung.
Có thể gặp HOẢ LINH càng tốt, có tính chuyên môn. Cần có thêm Quyền chủ Lịnh lạc khẩn cấp là yếu tố quan trọng trong lãnh đạo. Nếu thấy LINH Vị có thể gặp cách LINH XƯƠNG LA VŨ.
Có thể gặp HOÁ KỊ nhưng đừng có THIÊN HÌNH, như giải thích ở trên. Cần gặp thêm Quyền. Quyền cấm đoán chỉ lãnh đạo cao cấp mới có.
THIÊN HÌNH có thể gặp cần có LỘC TỒN hay nói cách khác phù hợp với bộ BINH HÌNH TƯỚNG ẤN. Cần có thêm QUYỀN được quyền trừng phạt. Có LỘC TỒN tức có thể tránh hình thành các bộ HÌNH KÌNH , HÌNH ĐÀ…Có HÌNH kị gặp thêm các sao: KỊ, KHÔI, VIỆT, KHÔNG KIẾP…
KHÔNG KIẾP: Đi với THIÊN KHÔNG là nhiệm vụ không thành. Đi với KIẾP là gánh tai gánh họa. Tự làm khổ mình. Đủ bộ là không thành mà còn là tai họa. Nếu có ĐÀO tự mua họa vào mình càng khó tránh.
KÌNH DƯƠNG: nếu có tất buôn bán lớn. Nên Kinh thương.
ĐÀ LA: là kém sút, thua thiệt ưa thối lui vào hậu trường không ưa đua tranh, dễ bị thua thiệt.

MỘT SỐ CÂU PHÚ LIÊN QUAN:
“Lưỡng LỘC Ngọ Dần nhi phùng TỬ VŨ Đinh Kỷ âm nam phú đa danh thọ”
TỬ PHỦ cư Dần tuổi Đinh Kỷ được hưởng câu này, tất nhiên không có các sao ở thành phần Kị gặp.
“Cấn Canh TỬ  PHỦ vi phật nhi”
Cách TỬ PHỦ Dần Thân có dáng dấp bệ vệ đài các như Phật. Xuất thân trong đền đài dinh thự không cao sang sao được.
“TỬ PHỦ đồng cung vô sát tấu. Giáp nhân hưởng phúc chung thân”
Đương nhiên không có Sát tinh tụ tập. Sát Tinh đây là ông KHÔNG KIẾP. Nếu có Hỏa Linh Kình Đà tất các sao này quay qua hỗ trợ KHÔNG KIẾP. Chỉ KHÔNG KIẾP thôi là đã hỏng cách rồi.
“Trương Tử Phòng thao lược đa mưu phùng TỬ PHỦ  KỊ QUYỀN”
Chủ quyền biến, được quyền cấm đoán, không cần lịnh Vua. Ở chốn chiến trường các Tướng Quân được toàn quyền quyết định, chờ lịnh Vua thì đã muộn rồi.
“TỬ PHỦ triều viên LỘC TỒN phùng. Chung thân phúc hậu chí Tam công”
Có LỘC TỒN thôi cũng sung sướng một đời, nhờ tồn chủ tồn tại đi với Liêm chủ dài lâu. Hình thành bộ trường tồn. Nhưng nếu thêm KIẾP vào là trường tồn một tai họa không có thể phá bỏ.
“TỬ PHỦ triều viên thực lộc vạn chung”
Có vạn chung thóc ăn cả đời không hết. Được bao lại được che mà.
“LỘC  MÃ được ngồi kề TỬ PHỦ. Ở Dần Thân phú hậu chung thân”
“Dần mộc PHỦ VI hữu hội TAM KỲ KÌNH BẬT cư lai. Thân mệnh xuất võ do văn, uy quyền qui phụ chung thân mạc phùng KHÔNG KIẾP hư vô”
Câu này mô tả một trường hợp cá biệt nào đó. TỬ PHỦ tại Dần có KÌNH (tức các tuổi BÍNH MẬU, TÂN mà các tuổi kể trên không thể nào có đủ bộ tam Kỳ (KHOA QUYỀN LỘC). Câu phú này còn mở rộng các trường hợp tại Dần cung có Tử Phủ hội họp, như cách VŨ TƯỚNG cư Dần, THẤT SÁT cư Dần… Dù có tam Kỳ, tam lạ gặp KHÔNG KIẾP là ông ấy lắc đầu đành chiều theo ý của ông. Bởi thế Bửu Đình đã phong cho là vị giám khảo cuối cùng.
“TỬ VI nam Hợi, nữ Dần cung. Nhâm Giáp sinh nhân phú quí đồng”
Câu này nói không rõ ràng. Chỉ thấy Giáp nam hay nữ ở Dần cũng hay. Nếu ở Hợi thì tuổi Nhâm hay. Có LỘC TỒN tại MỆNH khỏi bị rối ren bởi KÌNH ĐÀ.
“TỬ VI THẤT SÁT gia KHÔNG VONG hư danh thụ ấm”
Có một trong 3 sao Vong (tam Không) là hư danh không thực tài chẳng qua là thụ ấm trạch của cha ông để lại mà thôi.
“TỬ VI QUYỀN LỘC hội DƯƠNG ĐÀ tuy hoạnh cát nhi vô đạo vi nhân tâm thuật bất chính”
Thực chất, đây là hình ảnh bon chen, đội đạp lẫn nhau trong vòng danh lợi. Quân tử tại dã, tiểu nhân tại vị.
“Cái vòng danh lợi loanh quanh.
Kẻ hòng ra khỏi người mong bước vào”.
Trong cái vòng đó có lắm người bất mãn rút lui thà rằng làm quân tử nghèo nơi thôn dã. Còn hơn vào lòn ra cúi công hầu mà chi.
“Lưu Huyền Đức đạt thừa Hán nghiệp, thi ư TỬ PHỦ, KHOA QUYỀN, HÌNH ẤN, HỒNG KHÔI Mệnh, Thân.”
Câu này chứng tỏ Hình nằm đúng bộ vị vô hại, tự nó có nơi có chỗ để hình, hình trong việc bắt bẻ trong tác phong, quan phục… ăn mặc như thế nào đi đứng ra làm sao.
“TỬ PHỦ ngộ KHOA QUYỀN LỘC hựu gia TUẦN TRIỆT KIẾP KHÔNG, HÌNH HOẢ. Phú nhi bất quí hữu hư danh”
Câu này, nếu gặp trường hợp trên, tất thị KHOA QUYỀN LỘC chỉ là ảo vọng mà thôi. Vì tam Hóa ngộ tam Không lo làm giàu danh vọng chi nữa, vào công danh gặp nạn thì có. Hưởng chữ phú chắc chi đã trọn vẹn. Vì THIÊN PHỦ tối kị tam Không vì ông nhà giàu mở miệng nói tam Không trong đó chắc chắn có không phải nhà giàu đâu…
ST

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU III

0

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU III

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Vô Chính Diệu tại Tỵ Hợi duy nhất chỉ có cách LIÊM THAM.
NHẬN XÉT:
Tại Tỵ cách Vô Chính Diệu có LIÊM THAM với bố cục bộ ÂM DƯƠNG sáng, trái lại tại Hợi bộ ÂM DƯƠNG lạc hãm. Cũng một cách nhưng tại Tỵ dễ chịu hơn nhờ các cung Huynh, Nô sáng, vận hành qua các cung này cũng thuận lợi hơn. Nhưng cũng có điểm bất lợi Anh em. Bạn bè tốt hơn ta dễ bị lu mờ hơn.
Liêm Tham tại Hợi là nơi gọi là Tuyệt xứ (cùng đường). Nếu gặp TRƯỜNG SINH gọi là cách ‘Tuyệt xứ phùng Sinh’ trở thành tốt đẹp.
Đây còn là trường hợp VCD không lấy gì làm tốt đẹp bất lợi đối với nữ Mệnh vì cách THAM LANG hội Phu.

Thực chất bên trong là cách PHỦ TƯỚNG, bên ngoài là cách LIÊM THAM. Người đàn ông và cô gái đoan chính còn ta lại can dự vào, chiếm đoạt mới có thành ra hoàn cảnh y như Hồ Xuân Hương.

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng…”
Phú Hán có câu: “THAM LANG hội Phu cung. MỆNH hữu chính diệu tắc đích Vô Chính Diệu tắc thiếp”. Phú Nôm dịch là: “Phu Quân có THAM LANG vì. Chính tinh làm cả bàng thì làm hai”. Câu phú này cũng gây ra ngộ nhận. Vì THAM LANG ở phu. MỆNH luôn luôn có THIÊN TƯỚNG nhưng ở đây người ta nói hội họp tại Phu và không ít nhiều người hiểu lầm câu phú này cho là vô lý. Và đây chính là nơi áp dụng câu phú trên. Kể cả các trường hợp như Vô Chính Diệu có TỬ THAM xung, Vô Chính Diệu có THAM VŨ xung. Hay nói cách khác đồng nghĩa với tất cả các trường hợp Vô Chính Diệu có THAM LANG xung, bên trong có bộ PHỦ TƯỚNG.
Vậy Vô Chính Diệu có Tham xung dễ lâm vào hoàn cảnh làm lẽ mọn, làm thiếp, kẻ đến sau… Mặc dù có trong tay nhiều lá số làm thiếp, 2 chị em lấy một chồng… nhưng người viết chưa ghi nhận cụ thể lá số nào có cách này làm vợ lẽ. Nhưng điều này cũng rất hợp lý vì cung Phu Thê có sao THẤT SÁT muốn có ắt phải đoạt.
ĐÁNH GIÁ CHUNG:
Trên là bàn về mặt tình cảm lứa đôi bất lợi đối với nữ. Nhưng về các mặt khác lại là tốt nhờ có cách PHỦ TƯỚNG đồng lai hội mệnh cung nên luôn luôn được sự thương yêu vỗ về, che chở bảo trợ giúp đỡ của kẻ khác nhờ đó không những tốt đẹp về mặt tình cảm mà còn tốt đẹp về mặt kinh tế. Tuy nhiên bộ sao này rất kị gặp KÌNH hình thành cách “LIÊM TRINH THIÊN TƯỚNG KÌNH DƯƠNG hiệp đa chiêu hình trượng nan đào”. Chủ tiếp tay chống đối. Che chở để chống đối và bị theo dõi và trừng phạt.
Bạn cần phải biết. Nếu đứng ở vị trí Liêm Tham ta có các cách VŨ SÁT và TỬ PHÁ ta dễ bị kích động bởi TỬ VI và sự cổ vũ của VŨ KHÚC nhưng trái lại từ vị trí Vô Chính Diệu ta lại có PHỦ TƯỚNG và LIÊM THAM xung cho nên một số tình tiết của LIÊM THAM không thể ứng dụng tại đây, tại đây tất cả những gì của cách PHỦ TƯỚNG đều có thể áp dụng. Hoàn cảnh là do thương yêu bảo bọc tương trợ dễ đưa ta đến chỗ tiếp tay, bao che, giúp đỡ… tùy tình huống mà dùng chữ. Cái họa ở đây là thế. Trong lúc bên ngoài luôn luôn có kẻ dò thám và theo dõi. Nếu như ta chẳng có vấn đề gì đôi khi còn có lợi. Ví dụ cho dễ hiểu. Mầy coi thử để ý (dò xét, theo dõi) vợ chồng con cái thằng A cuộc sống có no đủ không, để tao giúp đỡ nó.
Vô Chính Diệu tại đây thực chất là hình ảnh bộ PHỦ TƯỚNG nhưng bị can dự vào, chen dự vào bộ LIÊM THAM có thể đem lại sự may mắn cũng có và cả sự bất ổn. Các đặc điểm của bộ Phủ Tướng là:
Chọn lựa và nuôi dưỡng.
Lợi cho các việc tiếp nối, thừa kế, kế tục.
Hàn gắn.
Hợp tác
Ủng hộ, phán xét.
Thừa ủy nhiệm. Quản lý như quản lý tài sản, quan thủ thư viện, quản gia… thất nghiệp thì ngồi đó “trông nhà’.
Và trong hoàn cảnh như thế bên ngoài có kẻ luôn luôn thăm dò, tìm hiểu, theo dõi và can dự vào, và ta thì dễ dàng tham gia, tham dự, hợp tác cùng họ. Đối với nữ giới từ đó dễ chấp nhận dễ chấp nhận làm người tình hờ, làm cô vợ lẽ.
Từ hoàn cảnh trên có thể đưa đến sự hợp tác, ủng hộ, tiếp tay, che chở… cho đến cùng tham gia tùy hung cát tinh mà có thể gặp họa hoạn
Vô Chính Diệu LIÊM THAM xung cần gặp và kị gặp.
 CẦN GẶP:
HOÁ KHOA. Chủ có trình độ lợi cho khoa bảng không ngại LIÊM TRINH xung hay nhất là có thêm HOÁ QUYỀN. LIÊM TRINH là ngôi sao có uy lực rất mạnh mẽ không những nó dòm ngó các cung hội họp mà còn theo dõi cả 2 cung lân cận. Trường hợp có bộ KHOA QUYỀN phải kể là hay.
HÓA QUYỀN: Rất cần thiết để bảo vệ mình vì mình là người có uy tín, không sợ mất quyền công dân. Có câu:
“THAM cư Hợi Tí hạnh phùng QUYỀN PHƯỢNG biến hư thành thật “ư Giáp, Kỉ tuế phú danh viên  mãn”. Sao PHƯỢNG chủ sự ngưỡng mộ. Sao QUYỀN chủ sự uy tín.
HOẢ LINH vẫn là tốt vì THAM LANG ưa gặp bộ sao này. Đi với Hỏa phát phú, đi với Linh phát quí. Cần có thêm QUYỀN KHOA
“HỎA diệu phùng TUYỆT Hợi cung nhi hội THAM LINH. Uy danh quán thế”. Tuyệt tại đây biến thành tuyệt vời, dù ở đâu THAM gặp Hỏa cũng là hay, chủ tham vọng cháy bỏng trong lòng, chỉ có người có tham vọng mới thành công, không tham vọng lấy đâu mà thành công.
XƯƠNG KHÚC hay nhất tại Hợi. Được phê Phi vinh tắc Phú  (không vinh hoa cũng giàu). Đồng thời tính tình cũng tốt đẹp nhờ bộ sao văn nghệ này, mẫu người cả quyết muốn đạt tham vọng mới thôi.
TUẦN: Biết phòng bị, đề phòng, biết hướng tham vọng, hoài bảo đi đúng hướng, đồng thời tính khí cũng ngoan hiền, dễ dạy bảo, chung thủy, trung thành… Hay nhất của trường hợp Vô Chính Diệu này là có TUẦN.
TRIỆT: Trừ bỏ mọi tham vọng xấu xa. Nhưng ở Hợi không thể ngộ TRIỆT chỉ có tại Tỵ mới ngộ TRIỆT nhưng tuổi Bính có Kị xung không mấy hay, vì sao này gây ta sự nghi ngờ tính đạo đức, liêm khiết của bản thân. Có TRIỆT án ngữ không sợ KHÔNG KIẾP hội họp.
TUẦN, TRIỆT: Nếu có 2 sao này cần có THANH LONG mới hay. Vì THIÊN PHỦ gặp TUẦN TRIỆT là phá cách. THIÊN PHỦ chủ phán xét rất cần gặp THANH LONG để phán xét đúng, sai đồng thời tiếng nói cũng cần lộ ra ngoài. Nếu không có THANH LONG chỉ Tuần Triệt thôi mất quyền phán xét. Nhưng không vì thế mà xấu, vì đây là trường hợp Vô Chính Diệu cần 2 sao này án ngữ tại bản cung. Nếu có KHÔNG KIẾP đắc là cách Vô Chính Diệu đắc tam không. Nếu có Song Lộc là phú quý một thời.
LỘC TỒN: Hợp cách chủ thương yêu dài lâu, giàu có dài lâu. Chủ sự bền vững, trường tồn nhưng tối kị bản cung có KỊ hoặc có KHÔNG KIẾP, hoặc KHÔNG KIẾP giáp 2 bên lại hỏng cách. Có câu:
“THAM toạ thuỷ cung giáp biên tứ sát bần khổ chung thân”. Lúc đó KÌNH ĐÀ không còn là rào chắn bảo vệ LỘC TỒN mà a dua theo KHÔNG KIẾP gây hại cho bản cung. Không những tại cung Hợi mà tại cung Tỵ cũng không hay.
TẢ HỮU hợp cách “nhất hô bá nặc”. Nếu đắc Sinh Vượng (Trường Sinh Đế Vượng ) suốt đời may mắn. Thường có sống ly hương.
CÁO PHỤ hợp cách lợi cho công danh. THIÊN TƯỚNG thích hợp với sao này. Chủ phong thưởng. Còn lợi cho tuổi thọ vì nó chủ lời bảo ban của bậc cao niên.
THÁI TUẾ: Hợp cách chủ cao tuổi lợi cho chữ thọ, còn được ngưỡng mộ dễ gặp đủ bộ Tứ Linh.
HỒNG LOAN: Nữ MỆNH cũng đa truân.
KỊ GẶP:
TANG MÔN đồng cung dễ trở thành kẻ xấu, có tính tham ô.
HÀ SÁT (Lưu Hà Kiếp Sát) có tính tham nhũng, gây nhũng nhiễu hà hiếp.
BẠCH HỔ: Dễ tù tội, lâm vào hoàn cảnh xung đột giữa lớn và nhỏ nhưng nhỏ mạnh, lớn yếu. Kị nhất là cách BẠCH HỔ lại thêm ĐƯỜNG PHÙ (tức là có thêm Kình, Đà hội họp). Dễ đáo tụng đình do thái độ bày tỏ.
KÌNH DƯƠNG: tạo thành cách Tương Kình (THIÊN TƯỚNG + KÌNH) gây ra sự xung đột mâu thuẩn không chịu nhường nhịn nhất là cách KÌNH có KIẾP SÁT vì hình thành cách LIÊM TRINH THIÊN TƯỚNG KÌNH DƯƠNG hiệp đa chiêu hình trượng nan đào. Kị gặp thêm HÌNH KỊ dễ lâm vào hoàn cảnh tranh giành xung đột ẩu đả đi đến phạm pháp. Thấy KÌNH DƯƠNG chú ý các sao đi theo nó nếu KÌNH THÁI xung đột mâu thuẩn vì thái độ.
TẢ HỮU, KÌNH DƯƠNG là tao hình đạo tặc
“THAM hội DƯƠNG ĐÀ cư Hợi Tí danh vi phiếm thuỷ đào hoa”
Tại Hợi thấy KÌNH ĐÀ là cách ăn chơi tính mê gái. Có dâm tính mạnh nhất là có thêm ĐÀO. Kị gặp thêm bộ KỊ DIÊU lại tửu sắc.
HÓA KỊ: Có vấn đề về đạo đức vì hình thành bộ LIÊM KỊ lòng trong sáng bị nghi ngờ.
KỊ DIÊU: Dễ gặp thuỷ tai, ăn chơi.
DIÊU: Tọa thủ kị gặp giáp KHÔNG KIẾP rất dễ đau ốm đưa đến chết người. DIÊU tại cung Hợi lại là minh mẫn, thông minh.
HÌNH phong lưu bị ăn đòn.
KỊ HÌNH: Dễ gặp thuỷ tai. Phạm pháp can tội tiếp tay, che chở. Còn là cách dễ chết. Có câu:
“Hình Diêu Tham Kị ngộ Liêm. Ở cung Tỵ Hợi là điềm mạng vong”
ĐÀO HOA: Cách Liêm Tham vốn có tính ăn chơi trai gái vì cả 2 sao đều có tính ham vui gặp ĐÀO HOA tính ăn chơi thêm mạnh, Nhưng nếu có TUẦN khống chế thì tâm hồn vẫn thư thái vì TUẦN chủ Giáo Dục đi với ĐÀO chủ đào tạo, thành một bộ sao hay của một người có nền giáo dục tốt nhưng tối kị gặp KHÔNG KIẾP lại mang tính phản tác dụng.
KIẾP KHÔNG: lãng lý hành thuyền. Bấp bênh như đi thuyền trên sóng, vì lòng ham muốn mà dễ gặp những tại họa không ngờ, không thể lường trước được. Ham muốn những cái rất tai hại.
Nếu không thấy KHÔNG KIẾP kiểm tra có KHÔNG KIẾP giáp 2 bên không. Nếu có một là xuất thân trong nghèo hèn (bần tiện) hai là dễ yểu. Trong đó có sự thiếu chăm sóc.
HAO. Cách THAM HAO tức có KÌNH hay ĐÀ hội họp.
HAO đồng cung biết dấu kín những ham muốn xuống tận đáy lòng. Mặc dù bị thôi thúc bởi Kình ưa vươn lên, hoặc Đà ưa phát triển ra. Đồng thời cũng là cách. “Cầm bằng nhịn đói chứ không để lệ nhòa miếng ăn.” Đây là cách dù có QUYỀN LỘC đi chăng nữa khi hết QUYỀN hết LỘC thấy tủi hổ vì cái ăn.
MÃ: Là người hay đi lại, hoặc làm việc bằng tay chân. Rất kị gặp HÌNH đồng cung chân tay dễ bị thương tích, nhất là cung an Thân cũng hội họp tại đây (tức Thân cư tại MỆNH hoặc Quan Tài Di) lại càng kị hơn khi có thêm LINH (vì hình thành bộ LINH HÌNH). Rất kị bộ  LINH HÌNH nhất là có KIẾP.
ST

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU II

0

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU II

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Vô Chính Diệu
Có bao nhiêu trường hợp Vô Chính Diệu? Có 24 trường hợp Vô Chính Diệu. Ta có thể tóm gọn như sau.
Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT hội họp (miễn sao có 2 sao này tam hợp như Vô Chính Diệu có CỰ ĐỒNG xung, một sao hợp một sao xung chiếu như Vô Chính Diệu có CƠ ÂM xung, Đồng Âm xung)
Vô Chính Diệu có THÁI ÂM xung (như CƠ ÂM, ÂM DƯƠNG xung)
Vô Chính Diệu có THÁI DƯƠNG xung ( CỰ NH ẬT)
Vô Chính Diệu có THIÊN LƯƠNG xung (như Cơ Lương, Đồng Lương,)
Vô Chính Diệu có THAM LANG  xung (như Liêm Tham, Tử Tham, Tham Vũ)
Vô Chính Diệu có CỰ MÔN xung (như CỰ CƠ xung)
Có thể rút gọn xuóng còn 4 dạng Vô Chính Diệu có NHẬT hay NGUYỆT cả NHẬT NGUYỆT  hội họp. Và quan trọng là NHẬT NGUYỆT sáng hay tối. Và 3 trường hợp khác là Lương, Tham, Cự xung.
Vô Chính Diệu là gì? Là không có chính tinh tại bản cung, như một ngôi nhà vô chủ, như một con người không có lập trường rõ ràng. Vì thế nó bị ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu. Ta cần biết lá số TỬ VI vuông vức như bạn thấy, thực tế phải vẽ cho tròn trịa mới hợp lý nhưng vẽ tròn coi bộ khó quá. Thôi thì vẽ vuông vức cũng được miễn sao hiểu rằng: cung chính chiếu ngay trước mắt, như ngôi nhà đối diện bên kia đường nhà bạn. Cung Vô Chính Diệu không có chủ tất bên kia nhảy vào làm chủ ngôi nhà hoang.
Nhưng trong này còn có Bàng tinh như KÌNH DƯƠNG, KHÔNG KIẾP… nó đâu chịu? Bàng tinh chẳng qua là đồ dùng mà thôi, bạn ơi! Toàn bộ chòm THÁI TUẾ  là sao chỉ cá tính, trạng thái (tốt xấu) vui buồn. Chòm BÁC SỸ là đồ dùng, các sao khác chẳng qua là tình trạng, tình hình báo cho biết xấu tốt. Dùng được hay không dùng được, dùng sinh họa hay dùng sinh lợi các sao Hóa khí sẽ báo cho ta biết.
Ví dụ cũng KÌNH DƯƠNG là cây viết, cây viết sẽ viết trên tờ giấy ra văn phẩm XƯƠNG KHÚC, nếu không có, đành chờ đáo hạn XƯƠNG KHÚC đem ra sử dụng (khổ nổi có người đem theo có người thấy không dùng được vất đi rồi).
KÌNH DƯƠNG không còn là viết thì có thể là dụng cụ nhà nông như cuốc, mai… công cụ như dao… có điện, lửa chớp chớp biến thành vũ khí (ngày xưa múa gươm, vũ khí nói chung ánh sáng lấp loáng). Giải thích như vậy để bạn hiểu Bàng tinh như là công nhân. Chính tinh như một chủ nhân. Nhìn công nhân ta biết chủ nhân. Công nhân trồng chè tức chủ nhân là nhà nông nghiệp, chẳng lẽ một Văn sỹ (có chăng mới bỏ nghề). Nhìn Bàng tinh ta khẳng định vai trò Chính tinh. Như TỬ VI là ngôi sao hành động, hành vi, gánh vác trách nhiệm… gìn giữ biên cương với cây súng trong tay, đích thị là trách nhiệm rồi. Chăm sóc một ngôi trường, một lớp học cũng là trách nhiệm, cho đến chăm sóc quán hàng riêng tư cho gia đình cũng là trách nhiệm với gia đình và khách hàng. Vấn đề còn lại là trách nhiệm với ai. Từ chỗ đó đoán được chân tướng TỬ VI.
Những lập luận trên cho thấy Vô Chính Diệu chấp nhận Chính tinh một cách dễ dàng. Trong khi mình không có chủ nhân nên mong chờ người khác đến làm chủ. Vì thế có câu ”MỆNH Vô Chính Diệu bất minh…” (bất minh không minh bạch rõ ràng, hôm này thế này mai thế khác) sẵn sàng tiếp thu những chính tinh khác khi đáo hạn khác. Một người có chính tinh tại MỆNH như PHÁ QUÂN gặp hạn CỰ MÔN nó suy nghĩ khác, một phá gặp một phản… thì dễ làm phản. Nhưng Vô Chính Diệu gặp Cự cũng chỉ ngang mức cự mà thôi.
Vô Chính Diệu lấy cung xung chiếu mà luận đoán. Vì tại bản cung không có chính diệu nào tọa thủ đương nhiên 2 chính tinh nầy xâm phạm vào cung MỆNH. (chúng ta đang ở trên một vòng tròn gọi là Thiên Bàn, cung xung chiếu đi ngang đường thẳng đi qua tâm, cắt 2 nửa vòng tròn bằng nhau y như trong toán học). Ví von cho dễ hiểu Vô Chính Diệu  như người không cha, không mẹ chịu tác động bên ngoài vậy, như tờ giấy trắng bên ngoài viết chi cũng được. Nếu ta có chính tinh tức sẽ có 2 trường hợp tương thích hoặc đối kháng với chính tinh bên ngoài. Đằng nầy không có chính tinh, chỉ có bàng tinh tức chịu sự chỉ huy dẫn dắt bên ngoài, dễ thích nghi với hoàn cảnh bên ngoài. Ngay như Khổng Minh Vô Chính Diệu cũng bị Lưu Bị dẫn đi. Ví dụ như vậy cực kỳ dễ hiểu, Vô Chính Diệu tam phương tốt nhất định là tốt, còn ngon lành hơn có chính tinh mà nó không chịu hợp tác với nhau. Như nhóm SÁT PHÁ THAM tại MỆNH cực kỳ vất vã mới như ý muốn.
* Ngoài ra luận theo ngũ hành để luận đoán MỆNH phù hợp với chính tinh nào. Ngay cả có chính tinh cũng luận theo ngũ hành để đoán. Người ta cho mỗi sao mỗi hành đâu phải để mà chơi. Đừng đem cái hành của ngôi sao ấy lý luận với cung, với sao đi với nó, đây là sai lầm dễ phạm phải rồi lúng ta, lúng túng tìm cách giải thích trẹo cả lưỡi, chính bản thân mình không hiểu lấy đâu người khác hiểu. Cho nên, chắc gì có TỬ VI tại MỆNH mà mang được trọng trách của TỬ VI.
* Nếu được diện kiến với người có lá số, hoặc biết được cá tính người ấy. Vấn đề tương đối dễ dàng là nghiệm chứng qua hình dáng cá tính. Ngay cả với có Chính tinh thủ MỆNH chứ đừng nói Vô Chính Diệu. Ta cần phân loại Vô Chính Diệu như đã nêu trên, đi sâu vào cần phân loại tiếp.
TUẦN TRIỆT và Vô Chính Diệu.
Nếu như MỆNH có TUẦN hay TRIỆT hay dở phức tạp tùy thuộc chính tinh tại bản cung có thích Tuần hay Triệt không. Như TỬ VI kị gặp các sao này. THAM LANG thì ưa.
Cần biết Tuần Triệt có những đặc tính hay. Như Phòng Trừ , Vâng lời đi cả bộ là tuân thủ triệt để, giáo dục, hiểu biết, tiếp thu và loại trừ …. Cho nên Vô Chính Diệu đắc TUẦN hay TRIỆT án ngữ ngay bản cung để tiếp thu và loại trừ. Nhưng không phải Vô Chính Diệu nào cũng cần đến TUẦN TRIỆT nhất là Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung. Phúc Đức cung Vô Chính Diệu cũng kị TRIỆT Vì là Phúc Đức không thể loại trừ được. Có câu: “Phúc Vô Chính Diệu tu cần KHÔNG tú (Tuần) Kị ngộ TRIỆT tinh
* Bản thân TUẦN, TRIỆT cũng là sao cho nên khi Vô Chính Diệu có 2 sao nầy giá trị như không còn là Vô Chính Diệu nữa. Vì tôi có TUẦN đây, tôi có TRIỆT đây. Uy lực của nó chế ngự cat 2 cung. Nếu không có 2 sao nầy đích thị là Vô Chính Diệu. Vô Chính Diệu có 2 sao nầy là may mắn, nhưng có chính tinh tốt đẹp xung chiếu lại kị TUẦN TRIỆT là điều cay đắng. Nhưng thôi, dẫu sao nó cũng được gọi chung là Vô Chính Diệu.
* Trong trường hợp MỆNH đã Vô Chính Diệu, THÂN cũng lại Vô Chính Diệu. Ta có 2 trường hợp
A MỆNH TRIỆT THÂN TUẦN.
B MỆNH TUẦN THÂN TRIỆT.
C. MỆNH (TUẦN hay TRIỆT) THÂN có chính tinh.
D. MỆNH Vô Chính Diệu không có Tuần hay Triệt. THÂN cũng Vô Chính Diệu.
Cả 2 đều Vô Chính Diệu. Trường hợp A hay hơn là B. Vì MỆNH có thể TRIỆT nhưng THÂN không thể TRIỆT được (vì nó là thân xác, thân phận… TRIỆT đi dễ trở thành phế nhân…)
Cho nên có câu:
“Mệnh TRIỆT, Thân TUẦN tu cần vô hữu chính tinh. Vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.”. Tuổi càng cao càng dễ thành công.
Trường hợp B có thể ngoan hơn nhưng chưa biết số phận về đâu.
C là trường hợp MỆNH Vô Chính Diệu có TUẦN, hay TRIỆT. Cung an Thân có Chính tinh, luận theo chính tinh ấy tốt xấu tùy thuộc đắc hãm. Đừng quên rằng cung an Thân nó quan trọng hơn cung MỆNH. Lấy câu “MỆNH hảo bất như THÂN hảo. Thân hảo bất như Hạn hảo” (MỆNH tốt không bằng THÂN tốt. THÂN tốt không bằng Hạn tốt). MỆNH chỉ là ý chí mà thôi. Thân hình hài cần phải khỏe mạnh, tốt đẹp. Mượn tạm hình ảnh nhà bác học ngồi xe lăn bên Mỹ để lập luận. Ví như ông ta là người MỆNH tốt mà THÂN xấu.
Trường hợp D phải kể là xấu. Vì yếu tố phòng trừ không có.
Tiếp là MỆNH Vô Chính Diệu nhưng không có TRIỆT hay TUẦN. xem ở dưới
Vô Chính Diệu nhưng không có TUẦN hay TRIỆT án ngữ:
* Lại có Hung Tinh tọa thủ ta gọi là Hung tinh độc thủ. Có Cát tinh ta gọi Cát tinh tọa thủ. Như Vô Chính Diệu KÌNH DƯƠNG độc thủ, Vô Chính Diệu THIÊN HÌNH  độc thủ, VĂN XƯƠNG độc thủ nếu thấy cả 2 ta gọi XƯƠNG KHÚC tọa thủ. Kết hợp với chính tinh bên ngoài mà luận đoán, quan trọng là có phù hợp hay không
Vô Chính Diệu lại không có bộ Phòng Trừ tọa thủ bản cung bị đánh giá chung là xấu, là không an toàn. Chư a chắc đã xấu ví dụ có TỬ VI xung bên trong ta có TRIỆT ông TỬ VI không dám vào giúp đỡ. Như vậy khó tìm ra một công thức chung, mẫu số chung cho các trường hợp Vô Chính Diệu.
MỆNH Vô Chính Diệu có yểu không?
“Mệnh VCD phi yểu chiết nhi hình thương”. Phi yểu chiết nhi hình thương là sao? Không yểu MỆNH cũng thương tật.
Mệnh VCD có thể rất yểu, Mệnh  VCD phải vay mượn chính tinh bên ngoài nhưng đôi khi chính tinh không phù hợp với bản Mệnh, như Mệnh  Hỏa mà chính tinh lại Thủy. Mệnh VCD cung an Thân cũng VCD, đây cũng là lý do rất dễ yểu.
Mệnh VCD vay mượn chính tinh bên ngoài, mạnh nhất là NHẬT NGUYỆT hội chiếu nhưng cùng lúc cả 2 chính tinh nầy đều ngộ TUÀN TRIỆT thành ra hoàn cảnh quá tối tăm. Đó cũng là lý do yểu.
Mệnh VCD lại có Sát tinh nhập Mệnh. Đây cũng là trường hợp yểu.
Cho nên câu Mệnh VCD không yểu cũng hình thương cũng không phải câu nói quá đáng. Vì vậy để tăng thọ cho cách nầy người ta cho rằng:
“Mệnh VCD nhị tinh diên sinh”
Tức là thay đổi tên họ, thọ cao. Khi thay tên đổi họ tức thì cái tên ấy, danh tính ấy đã chết đi tức là chết cái tên, cái danh, cái họ chứ bản thân không chết. Điều nầy nghe có vẽ như là vô lý phản khoa học phải không? Mắc chi thay cái tên, cái họ lại thọ. Vô lý quá. Vâng có lẽ vô lý thật nhưng nếu bạn là người Do Thái ở vào thời điểm Đức Quốc Xã cai trị, bạn có cho rằng thay đổi được tên họ tất thị được sống. Đúng quá phải không? Nếu bạn là Bin La Den (hoặc ở vào hoàn cảnh na ná) trong tay bạn hiện có nhiều thẻ thông hành phải không? Nếu có bộ râu truyền thống tôi cũng e rằng: râu giả? Thậm chí bạn còn muốn Bin La Den giả chết để Bin La Den thật sống. Vậy thì chuyện thay tên đổi họ mà thọ không có chi là huyền bí hết, tuổi thọ lại cao. Những người hoạt động chính trị vài ba chục tên giả là chuyện thường, thậm chí tên giả còn nổi danh hơn tên thật.
Ở đời, đôi khi có người  không ưa cái tên, cái họ của bạn, chừng đó thôi cũng đủ chết. Chứ chưa nói đến có tư thù, tư oán… Bạn không hoài nghi việc bầu cử chỉ vì cái tên, cái họ, cái giới tính, cái nguồn gốc… gạch bỏ không thương tiếc một người có tài năng mà bạn chẳng chịu tìm hiểu. Vậy thì thay đổi tên họ có thể thay đổi cả vận mạng con người. Bạn đồng ý chưa? Biết đâu nhờ cái tên bạn vào phòng mổ sớm 1 tí mà được cứu sống, ngược lại bạn chết vì sự muôn màn.
Và nhìn những Nickname thì có những cái nghe thôi đà sinh bệnh. Lại đổi nickname, đổi nửa nhưng quan trọng là nên đổi cá tính đi.
Các văn sĩ không ai ép buộc chi, chỉ có kinh tế ép thôi. Đôi khi cũng thay tên đổi họ chuyển qua viết dạng ‘mì ăn liền’, dạng ‘bồi bút’, dạng ‘khêu dâm’…
Ngày xưa trùng húy với vua, buộc phải thay đổi danh tính. Thậm chí thân phụ của người viết, trùng tính với quan Thượng Thư mà buộc phải thay tên, nếu không thay tức hoạn lộ không bền, còn kéo theo mạng sống không bền. Thân phụ lại là người Mệnh VCD.
Mệnh VCD thọ.
Không có Hung Sát tinh hội họp hay độc thủ lại có các sao như:
THÁI TUẾ chủ người cao tuổi.
CÁO PHỤ chủ lời bảo ban của bậc cha ông, tức cùng hàm ý thọ.
Hoặc khi có THIÊN LƯƠNG thủ Thân và nhất là THIÊN LƯƠNG xung chiếu MỆNH, như các cách Vô Chính Diệu có ĐỒNG LƯƠNG, CƠ LƯƠNG, DƯƠNG LƯƠNG xung. Đó là nói tổng quát, chứ đừng vin vào đó, quan trọng là có phá cách không. Chính người viết đưa lá số Vô Chính Diệu có ĐỒNG LƯƠNG xung mà bị giết để làm mẫu đấy.
Vô Chính Diệu nào vẽ vang nhất.
Đó là các trường hợp Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT hội họp. Hoặc DƯƠNG LƯƠNG xung dù có hãm vẫn còn là tốt. Trường hợp Vô Chính Diệu tại Mùi có DƯƠNG LƯƠNG tại Mão và THÁI ÂM tại Hợi. Được xem như hay nhất. Vì sao Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT lại hay (hay là hay về công danh) vì NHẬT NGUYỆT là bộ sao: “Chính bất như chiếu, chiếu bất như giáp”. Cách THAM VŨ Sửu Mùi vốn đã hay còn hưởng thêm cách giáp NHẬT NGUYỆT được phê ‘phi vinh tắc phú” (không sang cũng giàu). NHẬT NGUYỆT ví như ngọn đèn pha chiếu lên sân khấu. Nhìn là nhìn nhân vật đứng trên sân khấu. Một người mà có 2 vầng NHẬT NGUYỆT chiếu vô MỆNH như vậy là quá đẹp. Được gọi là NHẬT NGUYỆT tất nó ưu tiên phát xạ so với các chính tinh khác. Bởi thế mới gọi nó là NHẬT NGUYỆT mặc dù người xưa thừa biết nó không phải mặt trăng, chẳng phải mặt trời nhưng đã ví nó như NHẬT NGUYỆT phải lý luận như NHẬT NGUYỆT thật sự. Biết bao câu phú ca ngợi cách này. Trường Hợp Vô Chính Diệu tại Sửu có cách kia vẫn còn hay mặc dù NHẬT NGUYỆT bị lạc hãm. Ví von dễ hiểu như là rạp hát ế khách chứ không phải là không có khách.
Nhưng chú ý Vô Chính Diệu có cả CỰ NH ẬT, ĐỒNG ÂM, CƠ LƯƠNG 6 sao cùng chiếu ồn ào hơn một cái chợ.
Đứng hạng nhì là trường hợp Vô Chính Diệu có THAM VŨ xung. Thực chất bên trong có bộ Phủ Tướng bên ngoài có THAM VŨ xung nên rất là hay.
VCD có SÁT TINH độc thủ:
Nếu có KÌNH DƯƠNG ta gọi là KÌNH DƯƠNG độc thủ, cũng vậy nếu có ĐÀ LA ta gọi là ĐÀ LA độc thủ, HỎA TINH độc thủ, LINH TINH độc thủ.
Dĩ nhiên có các Sát Tinh độc thủ không phải là hay, cần xét  nó có đắc ý không, có phù hợpù hợp hay không? Nhất là KÌNH ĐÀ vì bản thân nó chưa hẳn là hung tinh.
VCD có ĐỊA KIẾP ta gọi là ĐỊA KIẾP độc thủ. Ví du: như câu:
ĐỊA KIẾP độc thủ, thị kỷ phi nhân. THAM LANG độc cư đa hư thiểu thật
VCD có lại thêm Mệnh Không Thân Kiếp.
“Mệnh KHÔNG Thân KIẾP lai hội SONG HAO. Vô Chính Diệu thiểu học đa thành.”
Đây cũng là trường hợp hiếm có, chỉ sinh tháng 10, phải có Song Hao, lại Vô Chính Diệu. Học ít thành nhiều. Thực tế người viết chưa gặp trường hợp này không dám kết luận. Song Hao đạt yêu cầu phải là tuổi Đinh Kỷ Quý mới hay.
 CÁC CÂU PHÚ LIÊN QUAN:
“Mệnh Vô Chính Diệu đắc TAM KHÔNG hữu SONG LỘC phú quí khả kỳ”
Phú Quý Khả Kỳ là giàu sang một thời, chỉ một thời cũng vẽ vang lắm rồi. Vì trong cách này có chứa cách tam KHÔNG cho nên 3 cái không phải trả.
“Mệnh Vô Chính Diệu bất minh. PHỤ BẬT gia thủ đem mình ly tông”
Vì những lý do trên mà Mệnh VCD có lập trường không rõ ràng, không minh bạch. Trong tình huống đó có sự trợ giúp của PHỤ BẬT dĩ nhiên là dễ rời bỏ tổ tông, vì bật qua bên nầy không được, bật lại bên kia không xong, bật đi xa mơ hồ chưa biết thành bại, thường dễ làm người ta lựa chọn không cần phải là VCD mới lìa bỏ tổ tông, mà có chính tinh đi kèm cũng ưa lìa bỏ. Có câu: “TẢ, HỮU đơn lâm MỆNH viên ly hương sở nghiệp.” Vì tất cả các trường hợp có TẢ HỮU tại MỆNH, tức cung Phụ hay Huynh đều có sao HÌNH, chỉ một sao HÌNH này thôi, ở cũng không yên trong lúc luôn luôn có bạn bè, kẻ trên giúp đỡ Vô Chính Diệu lại càng mau đi nữa.
 “Mệnh TRIỆT, Thân TUẦN tu cần vô hữu chính tinh. Vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.”
Câu này nếu MỆNH TRIỆT, Thân TUẦN Vô Chính Diệu tuổi cao thành đạt, tức tuổi trẻ khó thành. Nhận xét chung trường hợp này có tính phòng bị thái quá.
 “Thân Mệnh đồng cung Tí Ngọ hoặc cư tuyệt xứ. Vô chính tinh khủng kiến MÃ, LINH, HÌNH, KIẾP. Chung thân hoa khai ngộ vũ mãn kiếp phi yểu chiết nhi hình thương.”
Vô Chính Diệu Tại Tí Ngọ lại thêm Thân Mệnh đồng cung. Kị gặp MÃ LINH HÌNH KIẾP 4 sao này thấy tay chân tật nguyền rồi. Suốt đời như như đóa hoa nở gặp mưa gió dập vùi, không yểu cũng thương tật.
Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập mộ hoặc cư Tuyệt xứ. Vô Chính Diệu hoan phùng TẢ HỮU SINH VƯỢNG hoá hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài.”
Vô Chính Diệu tại Tứ Mộ cung, hoặc tại Hợi. Kị Thân Mệnh đồng cung TẢ HỮU SINH VƯỢNG lại tốt, suót đời hưởng 2 chữ phúc và tài lộc
PHÚC Vô Chính Diệu tu cần KHÔNG tú (Tuần), Kị ngộ TRIỆT tinh, nhược phùng SINH, HÌNH, KỊ, VIỆT vi nhân tiêu trưởng.”
Cung Phúc Vô Chính Diệu cần Tuần kị Triệt (Vì TRIỆT chủ bị trừ, xem nhẹ coi thường… phải xem trọng, quan phòng… cung này chưa bà con trong đó) Nếu có các sao kể trên là người không thể thành đạt, thành họa thì có… Bộ KỊ HÌNH đã mệt hung rồi, thêm VIỆT chủ phát sinh, thêm Sinh để nẫy họa. (từ hung là phương ngôn người Huế nói riêng, như mệt quá, chư không phải hung dữ hay hung họa).
Bài viết này là mở đầu cho những loạt bài Vô Chính Diệu về sau, khái niệm về Vô Chính Diệu, cụ thể sau nầy muốn viết Vô Chính Diệu có TỬ THAM xung… những khái niệm trong bài viết này đem ứng dụng cho tiện lợi.
Và sau khi bài viết này Post lên người viết phải chuẩn bị đi HUẾ để thăm mẹ già theo chu kỳ 2 tháng 1 lần. Cho tròn (tuần) chữ Hiếu (Tướng Binh, THIÊN TƯỚNG), cứ nghĩ tháng này mong ngóng Đình về, sao không thấy nó về, thôi thì về sớm ngày nào bà an tâm ngày đó. Vì thế mọi thắc mắc của bạn không thể trả lời được. Bạn không nên hỏi những chuyện riêng tư vì làm mất thì giờ của người viết, bạn cũng không nên phơi bày lá số của mình trên mạng, điều đó không hay cho chính bạn sau này.
ST

CÔ THẦN -QUẢ TÚ II

0

CÔ THẦN -QUẢ TÚ II

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

CÔ GIA hay QUẢ NHÂN?:
CÔ QUẢ khi tốt là cô gia, quả nhân tiếng tự khiêm xưng của bậc vương gia ngồi nơi tôn quí. Cô gia là người cô độc với nghĩa ít bạn bè, cô thân cô thế. Quả nhân là ít người thân cận, ít được người gần gủi, thiếu đức. Dĩ nhiên họ là người mà chúng ta không thể gần gủi một cách từ nhiên, vỗ vai, vỗ vế, rủ rê đi chơi, dù là thời đại nào cũng vậy. Mẫu mực của thiên hạ, nhìn thẳng đi ngay, điệu bộ nghiêm chỉnh. Ngày xưa người ta cư xử  rất khiêm cung. Gọi người lớn tuổi hơn mình bằng đại huynh (người anh cả), hiền huynh (người anh hiền từ của tôi)… Gọi vai dưới bằng hiền đệ. Tự khiêm gọi mình là ngu huynh, ngu đệ… ngay các bậc vương gia cũng ăn nói khiêm tốn.
Để trở thành một cô gia hay quả nhân ấy chỉ có thể gặp trên lá số cực tốt. Vô hình chung CÔ QUẢ làm cho HÓA QUYỀN trở thành chí tôn, duy nhất với nghĩa chỉ có ít người được sử dụng quyền nầy mà thôi. Ví dụ quyền được xuất nhập cung cấm, quyền được giết tha, quyền được cấm đoán.
 
 SỚM CÔ ĐỘC, CÔ ĐƠN, MỒ CÔI, GOÁ BỤA
Chủ sớm cô đơn, cô độc. CÔ THẦN chủ sớm mồ côi cha mẹ, QUẢ TÚ chủ chủ sớm goá bụa.
Những lá số mồ côi cha mẹ, ít anh em, góa bụa, không may trên bước đường tình duyên thường có bộ sao nầy ở Mệnh hoặc ở các cung liên quan. Nhưng không phải tất cả điều đúng như vậy, vì nó còn chủ sự cô đơn sống xa cách người thân, hoặc gần gủi mà không hòa hợp, gần mà xa. Có cũng như không, có cũng bằng không.
Ngay những người thành vợ thành chồng, trong đời sống vợ chồng cũng bị lạnh nhạt, ít được người phối ngẫu chăm sóc, đi lại thường khi chỉ một mình. Vì trong CÔ QUẢ vô tình hay cố ý để lại trong lòng người khác một sự khó tha thứ. Với người thì người ta bao giờ cũng nghĩ: cố ý mới nói như vậy.
Trong đời sống vợ chồng người có CÔ QUẢ có lợi thế thọ hơn, để mà cô độc, cô đơn cũng không vì 2 sao nầy để đổ tội cho người Cô QUẢ.
Vậy CÔ QUẢ thuộc nhóm sao Cô Đơn như: VŨ KHÚC, THẤT SÁT, LINH TINH…
Do yếu tố vừa kể và yếu tố cô độc, co đơn bộ CÔ QUẢ thường hay có mặt ở hạn chết (vì ra nằm lẻ loi ngoài nghĩa địa)

v      ÍT, KHÔNG NHIỀU:

Chủ ít, hiếm  đóng các cung chủ về người (Nô Bộc, Huynh Đệ, Phụ Mẫu) như ít anh em, hiếm con,  ít bạn bè. Hoặc không được gần gủi, không hòa hợp. Càng hiếm hơn khi gặp KHÔI, TIỂU HAO.

v      NHẤT, ĐỘC NHẤT, DUY NHÂT

Đi với nhóm sao chủ ít như VŨ KHÚC, LINH, KHÔI … chủ độc nhất, duy nhất. Đưa đến độc tài khi có QUYỀN. Cá biệt ta có:
Nhất, độc nhất, duy nhất: Hay là ” nhất tiếu thiên kim” (1 tiếng đáng giá nghìn vàng), “Nhất tự thiên kim” (1 chữ đáng giá nghìn vàng).

v      KẾT QUẢ, KẾT THÚC, THÀNH QUẢ, HẬU QUẢ, HIỆU QUẢ

Bộ sao này đi với cát tinh là kết quả, hiệu quả, thành quả đi với Hung tinh là hậu quả. Nói chung chủ kết thúc một sự kiện tốt hoặc xấu tuỳ Cát tinh, Hung tinh tụ tập. Đặc biệt kị gặp VŨ KHÚC có tính kết thúc bất lợi.
Điều cần biết là sử dụng từ cho chính xác. Trường hợp nào có thể dùng các từ kết thúc, chấm dứt, thành quả, hậu quả…. Như kết thúc một cuộc tình, cuộc đời… Vì sau đó không còn đề cập nữa. SỰ CỐ Ý
Bộ sao này tính quả quyết rất mạnh cho nên mang ý sự cố ý, cố tình đi với các bộ sao vi phạm pháp luật tất có tội, như cố ý vi phạm pháp luật, cố ý làm sai nguyên tắc, cố ý gây tai nạn… Cũng vì những lý do vừa kể, những người tự sát thường có sao nầy tại Mệnh hay tại Hạn.

v      GÌN GIỮ một kết quả:

Cô Quả thực chất là ngôi sao gìn giữ một kết quả và cái kết quả đó có thể tốt xấu, và có gìn giữ được hay không? Gìn giữ cái gì? Gìn giữ thân mình cho trong sáng. Hay gìn giữ di sản của cha ông để lại. Vì vậy CÔ QUẢ đóng tại Điền, Tài được đánh giá là hay “CÔ QUẢ Điền, Tài phản vi giai luận”. Phản vi giai luận, phải luận ngược lại là tốt, thực chất là sao chủ giữ gìn được khen là hay. Đi với LỘC TỒN (kẻ dành dụm) là kẻ hà tiện, nhất là có bộ KỊ HÌNH, bộ KỊ HÌNH ở đây giá trị như là ‘bí quyết tiêu một ngày 1 đô vậy’.
Với kẻ sỹ còn có trách nhiệm gìn giữ non sông. Từ cố gắng gìn giữ chuyển thành cố thủ đối với chiến binh, không may trở thành tử thủ, tử trận để trở thành… cổ nhân. Nghĩ cũng buồn cười từ ‘cô’ chuyển thành cố đi qua cổ nhân, do gặp KHÔNG KIẾP.
Và gìn vàng giữ ngọc cũng là đây.

v      CÓ TỘI, PHỤ RẪY, PHỤ LÒNG

CÔ THẦN là sao chủ sự có tội, thuộc nhóm sao ‘Sai lầm tội lỗi’ bộ  CÔ QUẢ chủ có tội. PHI LIÊM chủ sai trái. LƯU HÀ chủ lỗi lầm. THẤT SÁT chủ sai lầm. Ví dụ : CÔ QUẢ, PHI LIÊM. Có tội cố ý làm sai trái…dĩ nhiên là cần có thêm bộ KỊ HÌNH. Cô quả khi xấu có nghĩa: ‘Kẻ có tội xin cúi đầu hàng phục’. Cô Quả khi xấu có nhiều dạng phụ lòng người, gây ra sự có tội hoặc bị phụ rẫy. Chủ có tội chịu đầu hàng.

v      MUA VÀO:

Đi với HAO chủ mua vào, đi với TIỂU HAO chủ mua sắm nhỏ, với ĐẠI HAO mua sắm quan trọng. Hao Cô Quả tức là tốn kém nhưng có kết quả tức là mua sắm. Nhưng nếu có KHÔNG KIẾP chẳng khác gì mua tai, mua họa về.

v      MUA CHUỘC:

Đi với ĐIẾU KHÁCH có tính mua chuộc, đi với PHỤC BINH có tính chiều chuộng rất cao.

v      CÔ THẦN có tính bất trắc thuộc nhóm sao gây bất ngờ.

CÔ QUẢ có tính bất trắc. Như vô tội chuyển qua có tội, có tội chuyển thành vô tội. Đáp số đó tùy thuộc vào Hung, Cát tinh diễn biến phức tạp. Cũng sự cố đó nhưng trước thời điểm ấy là vô tội nhưng sau thời điểm ấy là có tội. Nơi nầy xử có tội, nơi khác xử vô tội. Với người nầy ‘Như thế là tội ác’ nhưng với người khác ‘Như thế đâu phải là tội ác’.

v      CÔ QUẢ xung chiếu:

Ta có thể gặp các cách như CÔ THẦN xung và QUẢ TÚ xung. Tính chất của nó còn nguy hại hơn khi đồng cung hoặc tam hợp chiếu. Vì cái cái lỗi ấy, cái tội ấy, cái kết quả ấy do bên ngoài gây ra  hoặc đánh giá ta không thể khắc phụ được, ta sửa sai không được. QUẢ TÚ xung là kết quả do phía bên ngoài đánh giá. Từ đó QUẢ TỨ biến thành quả tạ.
CÔ QUẢ khi tốt và khi xấu:

v      KHI TỐT:

Là cô gia, quả nhân gìn giữ được non sông cho tổ quốc, không để mất một tấc đất nào về tay  địch.
Là người giữ gìn di sản, địa vị cha ông để lại, để truyền lại đời sau. Giữ gìn được địa vị của mình để truyền lại cho con cháu.
Tốt là tạo được thành quả, kết quả, hoặc là hiệu quả, kết thúc tốt đẹp. Quả báo đáp đền, kiếp này hoặc kiếp sau, hoặc ứng vào con cháu thụ hưởng.
Một người có tâm hồn tốt, đâu cần gieo để gặt, phải thấy cái ích lợi mới làm. Gieo cho đời một niềm vui thế là vui rồi, lấy niềm vui người làm niềm vui mình.

v      KHI XẤU:

Cũng có nhiều dạng khác nhau:
Là mồ côi cha hoặc mẹ nhiều khi cả hai người, có khi ra đời không cha, không mẹ vì ly dị, ly thân, đôi khi bị bỏ rơi vô thừa nhận không biết cha mẹ là ai.
Là kẻ chỉ thấy có kết quả có lợi cho bản thân mình thì làm, không lợi thì thôi.
Là kẻ bị cô độc người người xa lánh, hoặc lánh xa mọi người, sống nơi cách trở, nơi hoang vắng. Cũng có thể là sống giữa lòng đô thị đông vui nhưng trong lòng cô độc, đi về một bóng, không hoà thuận được với ai. Còn là người cô thân, cô thế không nương cậy vào ai được. Thậm chí có kẻ chết trong cô độc chẳng ai hay.
Cố ý, cố tình gây nên tội ác. Kẻ chịu tội.
Hoặc là kẻ bị ép buộc phải nhận tội thay người.
Xấu là gây ra hậu quả, kết thúc bi thảm. Quả báo ứng liền, hoặc để lại cho đời sau. Thậm chí chết vẫn để lại hậu quả nghiêm trọng cho người khác.

v      MỘT SỐ CÂU PHÚ LIÊN QUAN:

 “VŨ KHÚC lâm CÔ THẦN. Hàn Tướng quốc tần tần tái quỉ
VĂN  XƯƠNG phùng QUẢ TÚ. Trương Đế Sư bộ bộ tầm tiên”
“VŨ KÌNH CÔ QUẢ vị tiền nhi nguy”
CÔ QUẢ cần gặp và kị gặp.

v      CẦN GẶP:

Cát tinh, Quyền tinh, quí tinh là cô gia, quả nhân.
TẢ HỮU: Hợp cách.
“TẢ PHÙ cát tinh bất vi yểu chiết. HỮU BẬT phùng QUẢ TÚ tất dã  TRƯỜNG SINH”
Có lợi đóng tại Điền, Tài

v      KỊ GẶP:

VŨ KHÚC như VŨ KÌNH CÔ QUẢ, VŨ HOẢ CÔ QUẢ nhất là CÔ THẦN kị VŨ KHÚC dễ gặp chuyện nguy hiểm chết người, ví như đoạn kết.
VĂN XƯƠNG cũng dễ gặp chuyện nguy hiểm
HỒNG LOAN đồng cung. Nỗi cô độc lớn.
MỘT SỐ BỘ SAO CÔ QUẢ:

v      PHI LIÊM CÔ QUẢ :

Chủ các điều sau: Cố ý làm sai trái…Có tội do cố ý làm sai trái… Có tội cho phỉ báng mạ lỵ… Còn chủ chia rẻ và cô độc, cô độc và tan rả. Hậu quả của sự phỉ báng hoặc chia rẻ, sai trái…  nói chung bộ sao có khuynh hướng sai trái, cố ý. Rất kị gặp KỊ HÌNH chủ sự cố ý làm sai trái pháp luật.
Cả 2 sao đều thuộc nhóm ‘Tội lỗi sai trái’

v      PHỤC BINH CÔ QUẢ:

* Quả báo cách. Có thể là tốt cũng có thể là xấu tuỳ thuộc vào Hung, Cát tinh hội họp.

v      HỮU BẬT QUẢ TÚ:

Phú viết:
“TẢ PHÙ cát tinh bất vi yểu chiết. HỮU BẬT phùng QUẢ TÚ tất dã  TRƯỜNG SINH”
Thực chất đây là kết quả tốt đẹp đem lại từ bạn bè ngang hàng hoặc dưới một tí, đến sự nâng đỡ từ bậc cha anh cao hơn giúp đỡ qua tai nạn, lúc ốm đau lúc hoạn nạn nhờ đó tuổi thọ tăng cao chứ không có phép màu đem lại. Cụ thể các tấm gương hy sinh vì bạn, vì con em nằm trong cách nầy người có cách nầy được thụ hưởng. Đau ốm được bạn bè đóng góp chạy chữa, nhất là gặp phải bạn thân là Y, Bác sỹ ưa nằm viện mấy ngày chẳng được.

v      ĐÀO HOA  CÔ QUẢ:

* Hoa và Quả.
Tốt là tạo ra kết quả tốt đẹp. Đây là bộ sao có lợi trong hôn nhân nhất là có thêm HỒNG LOAN. Chủ kết hôn bộ sao lưu động này hội họp tại Đại hạn, hay cung phối hôn sự dễ xẩy ra.
Xấu là tạo ra hậu quả tai hại
Bộ sao này kị gặp VŨ KHÚC, KHÔNG KIẾP
Nếu không bị phá cách đây là kết quả đẹp. Ra hoa kết quả hợp với nhóm Văn đoàn. Còn chủ:  “Nhân Quả cách’ Gieo và gặt.’, gieo gì gặt nấy. Tạo ra một kết quả. Kết quả do ta tạo ra.
Cố ý tạo ra. Có thể là điều tốt, xấu tuỳ thuộc Hung, Cát tinh. Ví dụ: Cố ý gây thị phi, cố ý gây sự, cố ý phạm pháp…
Vâng, chỉ có 2 hoặc 3 sao nầy thôi, nhà  Phật đề ra cả một học thuyết nhân quả, nhằm răn đe việc làm xấu đem lại kết quả xấu, và nhà Phật còn cho là khi ta gieo tốt gặt xấu là do tiền kiếp ta gieo điều xấu, cho nên kiếp nầy ta cần gieo tốt không gặt được kiếp nầy sẽ gặt được ở kiếp lai sinh. Có thể tóm tắt thuyết nhân quả là như vậy. Từ phương diện TỬ VI ta thấy hoàn toàn đúng. Dù cố gắng đi mấy nữa khi CÔ QUẢ hội họp với KHÔNG KIẾP đáp số là con số không, nếu có tất chỉ có tai họa. ĐÀO HOA đi với KHÔNG KIẾP là tạo ra tai họa cho mình, cho người, đôi khi 2 bộ ĐÀO QUẢ không giao hội với nhau ta không thấy hậu quả hay kết quả. Cụ thể tuổi Tí từ cung Dậu có ĐÀO HOA và cả các cung kiến (thấy) ĐÀO HOA cũng không hình thành bộ ĐÀO QUẢ. Nhưng tuổi Sửu thấy bộ sao nầy tại các cung Dần Ngọ Tuất có thể tạm kết luận tuổi Sửu cảm nhận cách nầy rõ hơn, còn tuổi Tí chưa thuyết phục được y. Hay nói chính xác hơn, 1 thời gian sau y mới nhận được kết quả y làm, tức là khi hạn đến CÔ QUẢ y nhận được kết quả y gieo có thể tốt xấu các năm tháng xa xôi thậm chí là không nhớ khi nào? Tại đâu? Cái gì? Ai?
* Kết quả tốt đẹp. Đi với Cát tinh xa lánh Sát tinh, KỊ HÌNH là kết thúc tốt đẹp, các từ có thể dùng là hiệu quả. Hoặc gìn giữ cái tốt đẹp đó. Như gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp của ta và nước láng giềng.

v      TANG MÔN CÔ QUẢ:

* Tang tóc và cô đơn, buồn đau vì mất người.
* Tang chứng và hậu quả. Lo buồn vì tang chứng.
* Nhẹ nhất là cảm giác cô đơn, cô độc chất chứa trong lòng.
Từ bộ sao nầy dễ gặp thêm THIÊN KHỐC là thêm tiếng khóc, càng phức tạp thêm như có dấu hiệu của oan khốc (ĐƯỜNG PHÙ , LA VÕNG).
Để chấm hết:
Chúng ta phải gìn giữ (Cô Quả) trọn vẹn (Tuần) non sông (QUỐC ẤN) cha ông để lại (PHỤC BINH). Bộ CÔ QUẢ TUẦN, ẤN, TƯỚNG BINH có tại niên can Kỷ Sửu tại cung Dần.

LUẬN VỀ HOA CÁI

0

LUẬN VỀ HOA CÁI

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Hoa Cái thuộc kim, chủ về vẻ uy nghi cùng với lợi ích công danh. Hoa Cái tượng trưng chiếc lọng như ta nói Tiền Mã Hậu Cái nghĩa là đằng trước ngựa đằng sau lọng che chỉ một hình tượng thành đạt.
Hoa Cái đứng với Tả Hữu Khoa Quyền công danh thuận lợi. Hoa Cái gặp Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ thành ra bộ “tứ linh” giúp cho sự thành công dễ dàng.
Hoa Cái đứng với Tấu Thư thì văn mặc thanh cao. Hoa Cái đi cùng Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền thi cử, xuất sĩ hanh thông.
Hoa Cái ở mệnh nữ ưa làm dáng. Hoa Cái vào cung Thiên Di ra ngoài thường được quí mến. Có câu phú: “Hoa Cái cư Di xuất ngoại cận quí là thế”
Hoa Cái đứng với Mộc Dục, Thiên Riêu đàn bà đa tình dâm đãng. Hoa Cái đi với Kình Đà Không Kiếp thì khó hưởng của cải ông bà cha mẹ.
Các sách Tử Vi Trung Quốc khi nói về sao Hoa Cái thấy khác hẳn. Tử Vi Đẩu Số Tinh Diệu Tổng Đàm viết: Hoa Cái là tinh diệu của tôn giáo tín ngưỡng. Hoa Cái gặp các Không diệu tại Mệnh cung mang tâm ý thiên về triết lý và tôn giáo. Hoa Cái có tác dụng làm tiêu đi những rắc rối quan tụng hình pháp. Hoa Cái hợp với Khôi Việt, mệnh Khôi Việt Hoa Cái không bao giờ có nỗi lo về quan tụng.
Qua kinh nghiệm cho thấy rằng Hoa Cái không dính dấp chỉ đến tôn giáo triết lý như các lý thuyết gia Tử Vi khoa bên Trung Quốc đã đề cập, nhưng cũng không triệt tiêu hình ngục.
Khoa Tử Vi Việt giảng về Hoa Cái chính xác hơn, nhất là Hoa Cái đi bên sao Mộc Dục và câu phú: Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính. Hoa Cái ưa làm dáng khi lâm mệnh vị nữ nhân.
Rồi đến bộ tứ linh Long Phượng Cái Hổ thấy nhiều phần ứng nghiệm. Còn cách Tiền Mã Hậu Cái e rằng là vẽ rắn thêm chân.
HOA CÁI (Kim)

1. Ý nghĩa tính tình: Hoa Cái được gọi là đài các tinh, có nghĩa: – sự chưng diện, xa hoa, lộng lẫy để có bề ngoài đài các, sang trọng, quyến rũ. Người có Hoa Cái hay làm dáng, làm đẹp, ham phô trương vẻ đẹp, thích được người khác để ý và yêu đương, có những hành động thu hút tình yêu kẻ khác … – sự kiểu cách trong bộ điệu, từ cái nhìn, cái liếc cho đến tướng đi, đứng, ngồi, nằm; trong ngôn ngữ, từ cách nói văn chương bóng bẩy, duyên dáng, dí dỏm cho đến giọng nói sửa miệng, sửa giọng, lắm khi không tự nhiên hay lố bịch. – sự ham chuộng các loại thời trang, đua đòi nếp sống tiến bộ văn minh Âu Mỹ, từ lối ăn mặc, làm tóc, sinh hoạt, kết bạn cho đến việc đa phu, đa thê kiểu như các minh tinh màn bạc. – sự khao khát tình ái, một lối ái tình tiểu tư sản hay mới lạ với những nhân vật danh tiếng, với sinh hoạt phù phiếm, xa hoa. Từ đó, Hoa Cái có nhiều ý nghĩa dâm đãng, âm thầm hay công khai.

2. Ý nghĩa công danh, phúc thọ: Hoa Cái chủ phú quý, sự ngưỡng mộ, sự trọng vọng của người đời khi đi với Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ (thành bộ Tứ Linh), chủ về công danh, chức vị, uy quyền

3. Ý nghĩa của hoa cái và một số sao khác:
– Cái, Mộc, Riêu: se sua, chưng diện; dâm đãng, có thể làm điếm hạng sang
– Cái, Tướng, Khúc, Mộc, Đào: đàn bà dâm đãng theo lối sang, thích các mối tình vương giả, mới lạ, với các nhân vật nổi tiếng; người chuyên quyến rũ kẻ khác, làm cho người khác chết mê chết mệt vì yêu đương.
– Cái, Tấu Thư: người thanh cao, lịch lãm, có gu về ăn mặc, có năng khiếu về trình diện; người biết thưởng thức ái tình một cách sành điệu.
– Tiền Cái, Hậu Mã: Mệnh giáp Hoa Cái phía trước, Thiên Mã phía sau: chủ về phú quý, sang trọng.

Hoa Cái đứng với Tả Hữu Khoa Quyền công danh thuận lợi. Hoa Cái gặp Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ thành ra bộ “tứ linh” giúp cho sự thành công dễ dàng.
Hoa Cái đứng với Tấu Thư thì văn mặc thanh cao. Hoa Cái đi cùng Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền thi cử, xuất sĩ hanh thông.
Hoa Cái ở mệnh nữ ưa làm dáng. Hoa Cái vào cung Thiên Di ra ngoài thường được quí mến. Có câu phú: “Hoa Cái cư Di xuất ngoại cận quí là thế”
Hoa Cái đứng với Mộc Dục, Thiên Riêu đàn bà đa tình dâm đãng. Hoa Cái đi với Kình Đà Không Kiếp thì khó hưởng của cải ông bà cha mẹ.
Các sách Tử Vi Trung Quốc khi nói về sao Hoa Cái thấy khác hẳn. Tử Vi Đẩu Số Tinh Diệu Tổng Đàm viết: Hoa Cái là tinh diệu của tôn giáo tín ngưỡng. Hoa Cái gặp các Không diệu tại Mệnh cung mang tâm ý thiên về triết lý và tôn giáo. Hoa Cái có tác dụng làm tiêu đi những rắc rối quan tụng hình pháp. Hoa Cái hợp với Khôi Việt, mệnh Khôi Việt Hoa Cái không bao giờ có nỗi lo về quan tụng. Qua kinh nghiệm cho thấy rằng Hoa Cái không dính dấp chỉ đến tôn giáo triết lý như các lý thuyết gia Tử Vi khoa bên Trung Quốc đã đề cập, nhưng cũng không triệt tiêu hình ngục.
Khoa Tử Vi Việt giảng về Hoa Cái chính xác hơn, nhất là Hoa Cái đi bên sao Mộc Dục và câu phú: Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính. Hoa Cái ưa làm dáng khi lâm mệnh vị nữ nhân.
Rồi đến bộ tứ linh Long Phượng Cái Hổ thấy nhiều phần ứng nghiệm. Còn cách Tiền Mã Hậu Cái e rằng là vẽ rắn thêm chân.
ST

LUẬN VỀ HỒNG LOAN THIÊN HỈ

0

LUẬN VỀ HỒNG LOAN THIÊN HỈ

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Hồng Loan,Thiên Hỉ cặp saonày tuy là tạp diệu nhưng lại rất trọng yếu trên lá số, nhất là Mệnh Hồng Loan cung xung chiếu Thiên Di Thiên Hỉ.
Trên nguyên tắc Hồng Loan chủ về hôn nhân và Thiên Hỉ chủ về sinh dục nhưng hai sao quan hệ mật thiết nên Thiên Hỉ cũng ảnh hưởng đến hôn nhân và Hồng Loan cũng ảnh hưởng đến sinh dục.
Hồng Loan hợp với Xương Khúc, Xương Khúc làm tăng ảnh hưởng về hỉ sự cho Hồng loan. Hồng Loan lấy niên chi làm căn cứ, cái chất của niên chi chủ về hình hài, Hồng loan Thiên Hỉ biểu tượng cho thân thể đã đi vào giai đoạn thành thục.
Hồng Loan khởi từ Mão tính đi. Tại sao khởi từ Mão? Vì Mão là lúc xuân tiết ấm áp nhất cho hoa cỏ nở bừng, lúc này mặt trăng cũng đã trong sáng lên khác hẳn tình cảnh lạnh lẽo âm u của đông tiết. Bởi vậy Mão mới là tháng của hoa nguyệt.
Trong khi Thiên Riêu lại tính theo tháng những chu kỳ của nguyệt kinh lại khởi từ Sửu là thời điểm âm dương giao hoán. Bởi vậy Hồng Loan là chân thiện mỹ. Mà Thiên Riêu là nhu cầu nhục thể. Hồng Loan khi vào yêu đương với tấm lòng chân thiện mỹ. Thiên Riêu khi vào yêu đương thường với tâm tình dâm đãng.
Do những lý lẽ trên khi Hồng Loan bị Không Kiếp cổ nhân mới gọi là cách lãng lý hành châu ví như con thuyền nhỏ đi trong sóng lớn, ví như người con gái với cái lòng yêu thiện chân của mình mà bị đối đáp bởi bọn sở khanh lưu manh, bị lừa gạt. Gặp Tham Lang cũng thế.
Hồng Loan yêu thương qua nhu yếu tình dục nhất thời. Con gái Hồng Loan khó quên tình sầu, con gái Thiên Riêu xem tình ái là trò rỡn.
Thiên Hỉ đi cặp với Hồng Loan, Thiên Hỉ chủ sinh dục nên người nữ Hồng Hỉ sau khi sanh con rồi nét quyến rũ nam phái vẫn còn đậm đà.
Hồng Đào Thiên Hỉ Đào Hoa là những hoa thảo sở dĩ không hợp khi vận về già. Về già thấy Hồng Đào Hỉ là thấy tang sự chết chóc, trong khi lúc trẻ là làm đám cưới, là những cuộc tình, hoa thảo về già hoa tàn cỏ nát nên vậy.
Hồng Loan Thiên Hỉ là tin vui, nếu gặp Hóa Lộc Lộc Tồn thì vì tình ái mà hao tốn tiền bạc, nặng ắt khuynh gia bại sản, cổ nhân gọi bằng “đào hoa phá tài”.
Hồng Loan ở nam mạng thì sao? Vẫn căn cứ vào những ý tượng trên để luận đoán. Tỉ dụ Hồng Loan Không Kiếp mà vào nam mạng thì truân chuyên với danh phận, tiền tài.


Cho nên mới có câu phú:
Mệnh trung Hồng ngộ Kiếp Không mạc đàm phú quí
(Mệnh có Hồng Loan, Không Kiếp thì đừng nói chuyện giàu sang)

Hồng Loan ngộ Kiếp Không đồng thủ
Xá bàn chi bần lũ yểu vong

Hồng Loan gặp các văn tinh Xương Khúc thì học hành giỏi, nhất là lại thêm Thiên Khôi, vì Khôi sáng giá trên thực tế hơn Xương Khúc.

Hồng Khôi Xương Khúc phù trì
Sân rồng dâng trước, trong thì thanh cao

Hồng Loan thủ mệnh nữ mà có một vài sát tinh đi kèm thường hai đời chồng, nhất là Hồng Loan đứng bên Cô Thần Quả Tú.Hồng Loan vào số nữ là người đàn bà khéo, nhưng nếu gặp sao Tướng Quân, Phục Binh thì cuộc đời lại lắm phiền nhiễu về tình duyên.

Hồng Loan may vá cửi canh
Hiềm phùng Binh Tướng ắt sinh tai nàn

Hồng Loan đóng cung Phu Thê phải có một bận khắc chồng, căn cứ vào câu phú: “Hồng Loan cư phu thê tiền khắc”, nhưng lại có những sách khác bàn rằng Hồng Loan đóng Phu Thê chỉ ở những cung Thìn Tuất Sửu Mùi mới khắc thôi.

Phu cung đóng ở miền tứ mộ
Gia Hồng Loan ấy số khóc chồng

Bằng vào kinh nghiệm thì chuyện khắc vợ khắc chồng của Hồng Loan nặng với Mệnh nữ hơn Mệnh nam. Hồng Loan hội Hóa Kị thì đàn bà bỏ chồng đi lấy chồng khác

Hồng Loan ngộ Kị Phu cung
Tơ hồng đã dứt má hồng còn vương

Hồng Loan đóng cung Tí tại Mệnh sớm đạt công danh (cho nam mạng) theo cổ nhân viết: “Hồng Loan cư Tí, thiếu niên định chiếm khôi nguyên”. Hồng Loan đứng với Địa Kiếp ở Phu cung, mệnh tốt thì trăm năm đầu bạc, mệnh xấu thì không quá bảy tám năm (Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư Phu Quân, mệnh hảo chi bách, bất hảo chi thập)
Hồng Loan Thiên Hỉ mà gặp Đào Hoa gọi chung bằng bộ tam minh, thường ăn nói có duyên dễ gần người khác phái và khi ra đời phấn đấu cũng hay gặp những may mắn. Hồng Loan Đào Hoa tuy không là đối tinh nhưng dễ gặp làm thành một cặp mà Thái Âm vẫn gọi Đào Hồng

Trong đoạn Đẩu Số Phát Vi Luận có câu phú: “Dâm bôn đại hạnh, Hồng Loan tu phùng Tham Tú”, nghĩa là Hồng Loan hội Tham Lang đàn bà rất dâm. Tham Lang gặp Đào Hoa thì dâm loạn. Phải chăng Hồng Loan gặp Tham Lang cũng dâm như thế? Chỉ khác Tham Đào lộ liễu mà Tham Hồng kín đáo (dâm ngầm).

LUẬN VỀ SAO ĐÀO HOA

0

LUẬN VỀ SAO ĐÀO HOA

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Cách sách Tử Vi bên Trung Quốc không có nói đến một sao Đào Hoa đứng tách riêng như khi khoa này truyền qua Việt Nam. Trung Quốc gọi Tham Lang là sao mang tính chất đào hoa bởi vậy khi Tham Lang đứng với Tử Vi họ cho như thế là Đào hoa phạm chủ.
Vậy xuất xứ của sao Đào Hoa ở đâu? Khoa Tử Bình ghi rõ tên Đào hoa tinh theo niên chi là Dần Ngọ Tuất mà gặp nguyệt chi, nhật chi hay thời chi có Mão; niên chi Hợi Mão Mùi gặp các chi kia là Tí; niên chi Thân Tí Thìn gặp các chi kia là Dậu; niên chi Tỵ Dậu Sửu gặp các chi kia là Ngọ. Theo Tử Bình thì một lá số có thể nhiều sao Đào Hoa. Tỉ dụ niên chi Ngọ gặp tháng Mão, ngày Mão chẳng hạn.
Đào Hoa mà khoa Tử Vi Việt vẫn dùng cũng căn cứ vào niên chi rồi theo các cung Tí Ngọ Mão Dậu mà an, nếu niên chi Dần thì an Đào Hoa tại Mão, niên chi Tỵ thì an Đào Hoa ở Ngọ…
Theo sách vở Trung Quốc mang cái tên “hàm trì” (tên khác của Đào Hoa) nó đựơc tính theo vòng Tướng Tinh cùng mười hai sao như vòng Thái Tuế vòng Trường Sinh và Lộc Tồn.
Theo vòng Tướng Tinh thì “Hàm Trì” bao giờ cũng vào bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu chắc cổ nhân Thái Âm đã không dùng vòng Tướng Tinh mà chỉ chọn ra sao Đào hoa cùng với sao Hoa Cái.
Vòng Tướng Tinh gồm có: Tướng Tinh, Phan An, Tuế Dịch, Tức Thần, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Hàm Trì, Nguyệt Sát, Vong Thần.
Chọn ra thấy dản lược hơn, những sao kia hơi thừa. Những sao này sẽ luận sau. Trở lại sao Đào Hoa, sách Tử Vi Đẩu Số Tinh Diệu Tổng Đàm viết: “Hàm Trì là sao thuộc vòng Tướng Tinh, tính theo hàng chi của năm, sao này cũng có lưu niên nữa, trường hợp “Hàm Trì” trên lá số lại gặp lưu niên Hàm Trì thì ảnh hưởng tăng cường.
Hàm Trì là sao của sắc tình. Nó không nên đi cùng sao Mộc Dục gây ra sự việc vì sắc tình mà hao tốn phiền lụy. Hàm Trì đi với Tham Lang thành ra cách “Phiếm thủy đào hoa” con người ăn chơi bả lả. Trong khi khoa Tử Vi Việt thì Tham Lang đóng cung Tí không gặp Đào Hoa cũng kể như “phiếm thủy đào hoa”
Nguyên cục hay lưu niên sao Hàm Trì không nên gặp Vũ Khúc, Hóa Kị hoặc Văn Xương Hóa Kị đưa đến tình trạng người phối ngẫu bất trung.
Các sách Tử Vi Việt giảng rằng: Đào Hoa thuộc Mộc chủ về sự hoan lạc đa tình mà không nên hiện lên khi vận về già chuyển ra buồn thương. Đào Hoa lúc trẻ là đỗ đạt, đám cưới, lúc già là bệnh tật chia ly và đám tang.
Đào Hoa cần Hồng Loan. Đào Hồng vào cung Quan Lộc hanh thông trên hoạn lộ hoặc trên cuộc phấn đấu gầy dựng cơ nghiêp.
Đào Hồng gặp Nhật Nguyệt đa tình phong lưu. Đào Hồng gặp Không Kiếp Đà Kình khó khăn trên duyên tình không muộn vợ muộn chồng thì cũng hai đời chồng vợ.
Đào Hồng đứng với Địa Kiếp dễ bị đắm thuyền và dễ vào vòng tình lụy. Đào Hồng gặp văn tinh thì ra văn nhân tài tử. Đào Hồng đóng cung Thiên Di xuất ngoại lập nghiệp.
Hạn có Đào Hồng Hỉ Riêu thì vương vấn tình. Đào Hoa đứng với Thiên Riêu Đà La Hóa Kị vào số nữ là người đàn bà dâm loạn khó toàn danh tiết.

Những câu phú về Đào Hồng:

– Đào Hồng ngộ Thiên Cơ, đoãn vi sảo họa
(Thiên Cơ gặp Đào Hồng, có hoa tay nhiều năng khiếu nghệ thuật)

– Lãng lý Đào Hoa gia Địa Kiếp tam canh tư tưởng giai nhân
(Đào Hoa Địa Kiếp như hoa đào trôi trên sóng, luôn luôn tơ tưởng tình ái, số trai ăn chơi số gái lẳng lơ)

– Đào Hoa ngộ Phi Liêm, Nguyễn Tịch tấn triều vi túy khách
(Sao Đào Hoa đứng với Phi Liêm Nguyễn Tịch lúc nào cũng say khướt)

– Đào Hoa thủ Mệnh quả thê
(Đào Hoa thủ Mệnh thường xa vợ hoặc hai đời vợ)

– Thân hữu Đào Hồng kiêm Thai Tọa nhi công danh khả tất
(Cung Thân có Đào Hồng Thai Tọa sớm muộn rồi cũng công thành danh toại)

– Đào Hoa phùng Thiên Mã túng khách vô môi?
(Đào Hoa gặp sao Thiên Mã không mối lái cũng theo người?)

– Đào Tang ở Mệnh cung sau trước
Gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô

– Đào Riêu số gái ai hay
Chồng ra khỏi cửa dắt tay trai vào

– Thiên Nguyệt Đức gặp Đào tinh
Trai lấy gái đẹp, vợ lành chồng sang

– Khéo nghề kim chỉ vá may
Hồng Đào Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung

– Mệnh Đào Thân lại Hồng Loan
Vận phùng Thái Tuế khả hoàn thấy chi
– Đào Hồng Thai Hỉ trong ngoài
Ngoài gia Binh Tướng gái trai ngang tàng

– Đào Hồng cùng Thiên Hình tụ hội
Gái tiết trinh hiền nội tề gia

– Quan cung hỉ ngộ Đào Hồng
Thiên Di tối kị Không Kiếp lâm vào

– Thai tinh lại gặp Đào Hoa
Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng

– Vợ chồng viễn phối tha hương
Đào Hồng len lỏi vào hàng Thiên Di

– Kìa nữ mệnh xem tường sau trước
Tử Phá Tham hội ước đa dâm
Thêm Đào Hoa ắt gian truân
Duyên may khó sớm dự phần phượng loan

– Tham Đào số nữ thường dâm loạn
Ở hãm cung hãy đoán cho tường
Tí Ngọ Mão Dậu ấy phường
Nếu có Tuần Triệt lại phường đoan trinh

– Mệnh Đào Thân lại Hồng Loan
Hạn phùng Tuế Kiếp phụng hoàng rẽ duyên

– Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ
Mệnh Đào Hoa trước dở sau hay.

– Đào Hoa Thai Hỉ trong cung
Phá Quân Tướng Phục chiếm xung ở ngoài
Có chị em gái theo trai
Say mê đến nổi hoang thai bỏ mình
(Đây nói về cung bào huynh)

– Trong thời Tướng Phá Phục Binh
Ngoài thì Hoa Cái liên minh Đào Hồng
Bản cung đối chiếu tinh tường
Anh em có kẻ tư thông hẳn là
(đây là cung bào)

– Phu Đào Kị Kiếp Khốc Hư
Hại chồng mưu kế dễ hầu biết sao.

– Đào Hoa nhi nữ dâm tàng
Tử Phủ nhi nữ lại làng đồng lương
(Đào Hoa vào cung tử tức có gặp Không Kiếp Riêu Hình hoặc các hung sát tinh thì con cái mới dâm tàng, nếu không thì Đào Hoa thành đông con và con cái đẹp xinh)

– Nô cung Hoa Cái Đào Hồng
Cùng với Phụ Bật chiếu vào cho nên
Chính thê thứ thiếp tiền duyên
Khác nào giây cát sánh bên cõi cù

– Đào Hoa Nô lại tương phùng
Vong phu mắc tiếng bất trung ưu phiền

– Cung Quan mà gặp Đào Hồng
Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

– Đào Hồng lại gặp Quí Ân
Cô dì để lại có phần phong lưu
(Cung Điền Trạch có Hồng Đào, Ấn Quang, Thiên Quí được hưởng tiền bạc của người thân để lại cho)

– Đào Hồng Tang ngộ sao Thai
Tôn thân có kẻ tính bài loạn phong
(Nói về cung Phúc Đức thấy những sao trên)

– Đào Thai hội hợp chớ vương
Phúc cung có gái tìm đường gió trăng

– Đào Hồng Hoa Cái nhập môn
Ắt rằng có gái đẹp khôn khác thường
(Những sao này xuất hiện tại cung Phúc Đức)


Khi luận về Đào Hoa Riêu Hỉ Mộc Dục đừng nên có thái độ võ đoán hễ cứ thấy chúng là chê, là xua tay lắc đầu. Quân tử có hai loại chân quân tử và ngụy quân tử thì tiểu nhân cũng có hai loại chân tiểu nhân và giả tiểu nhân. Bởi vậy Đào Hoa Thiên Riêu hay Hoa Cái Mộc Dục còn phải tham bán tìm hiểu coi xem là chân hay giả đã.
Tham bán tìm hiểu cùng với các sao khác, tham bán với cung Phu, cung Tử và cung Phúc Đức. Tỉ dụ câu phú: Cự Cơ Mão Dậu chung vi phá đãng. Số nữ thủ mệnh Cự Cơ cung Mão Dậu sớm muộn cũng thành con người phá đãng là tại sao? Tại vì cung Phúc Đức có sao Thiên Lương hãm ở Tỵ Hợi. Nếu như Cự Cơ Mão Dậu còn kèm theo Đào Hoa Thiên Riêu hoặc Đào Hoa Mộc Dục nữa thì tính phá đãng tăng gấp bội.
ST

LỘC MÃ

0

LỘC MÃ

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Lộc Mã là Lộc Tồn với Thiên Mã. Hai sao này mỗi sao có riêng một tính chất. Nhưng khi hội hợp với nhau lại tạo thành tính chất đặc thù. Bởi vậy trong khoa Đẩu số mới có danh từ Lộc Mã.
Sao Lộc Tồn mang cái nghĩa y lộc, tượng trưng cho tài phú tiền bạc. Trong lá số hễ Lộc Tồn đứng đâu thì đều có Kình Dương Đà La hiệp. Cổ nhân đặt như vậy với hàm ý chổ nào thấy tiền thì có kẻ dòm ngó.
Dương Đà còn biểu thị điều lao tâm lao lực phấn đấu cam go hoặc khẩu thiệt thị phi. Kiếm được tiền thì phải vất vả vượt những khó khăn. Sự đặt định này thật thuận lý. Vì Lộc Tồn bị Kình Đà hiệp nên những sao đứng cùng Lộc Tồn rất hệ trọng đối với sự luận đoán.
Sách xưa viết :” Lộc Tồn Bắc Đẩu đệ tam tinh, chân nhân chi tú, chủ nhân quí tước, tướng nhân thọ cơ, Đế Tướng phù chi thi quyền, Nhật Nguyệt đắc chí tăng huy, Thiên Phủ Vũ Khúc vi quyết chức, Thiên Lương Thiên đồng cộng kỳ tường. Nghĩa là”Lộc Tồn với Tử Vi, Thiên Tướng đứng cùng thành quyền lực, đứng với Thái Âm Thái Dương tăng thêm vẻ huy hoàng, gặp Vũ Khúc Thiên Phủ vốn là hai sao tiền bạc thì tài khí càng dồi dào. Thiên Lương Thiên Đồng nhờ Lộc Tồn nâng cao phúc ấm.
Lộc Tồn trên cơ bản ý nghĩa là y lộc, cho nên cũng dùng nó để tính sang thọ số của con người, tuổi thọ cao thì mới hưởng nhiều y lộc, như trong ngôn từ ta thường nói để chỉ ai đó qua đời bằng chữ “thất lộc”. Cho nên Mệnh cung mà có Thiên Lương đi với Lộc Tồn thường sống lâu.

Tiền nhân khi bàn về Lộc Tồn có viết câu:”Nếu đan thủ ở Mệnh mà không gặp các sao tốt khác chỉ đáng xem như mọi giữ tiền (thủ tài nô) ý chỉ rằng không biết hưởng thụ keo bẩn bần tiện.” Tại sao?

Các sao tốt khác trong câu trên là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa. Lộc Tồn bị Kình Đà hiệp mà đan thủ tất nhiên thành cô lập. Không gặp thế lực khác phò trợ, Lộc Tồn đâm ra thành sợ hãi mất tự tin lúc nào cũng lo ai cướp mất lấy mất mà tìm cách bo bo giữ, coi tiền hơn tính mạng.

Lộc Tồn cô lập nơi Mệnh cung trong tình trạng ấy thà rắng đóng vào Thiên Di thoải mái hơn. Mệnh cung không còn bị áp lực của Kình Đà nữa, y lộc không trở nên vấn đề kinh hãi thì cuộc sống mới dễ chịu nhất là đối với những món tiền cố định như lương bổng, tiền lời ngân hàng, tiền cho mướn bất động sản. Lộc Tồn đóng Thiên Di lại thêm cả hoặc Hóa Lộc hoặc Hóa Khoa hoặc Hóa Quyền thì còn thành công trong những vụ buôn bán xa (ngoại quốc)

Lộc Tồn đứng với Thiên Mã cũng thế, khả dĩ tìm thấy tài lộc nơi viễn phương. Lộc hội Mã nhờ “động” mà có tiền. Chữ động đây còn có thể hiểu như làm nghề chuyển vận nữa không chỉ thu hẹp vào chữ viễn phương.

Lộc Tồn với Thiên Mã đồng cung, hoặc đối diện đều gọi là Lộc Mã giao trì. Lộc Mã giao trì nếu có thêm Văn Xương Văn Khúc thì cuộc đời làm ăn phát đạt khá mà không vất vả. Nhược bằng thấy Hỏa Tinh, Linh Tinh tất khó tránh được bôn ba lao bác một nắng hai sương.

Lộc Mã giao trì do “động” mà đắc lợi. Tuy nhiên cũng còn phải coi bản chất Thiên Mã thế nào để mà định. Thiên Mã nhất định chỉ có bốn nơi Dần Thân Tỵ Hợi, cùng một chỗ của sao Trường sinh cũng luôn luôn gặp sao Tuyệt ở những nơi này.

Trường hợp Thiên Mã đứng bên cạnh Trường Sinh thì làm việc dễ đắc lợi, nhưng cứ phải “động” hoài ít có thì giờ nghỉ ngơi. Như cổ nhân bảo: “Mã ngộ Trường Sinh chung thân bôn tẩu”

Trường hợp Thiên Mã đứng bên sao Tuyệt thì “động” với khí thế suy giảm để thành “bị động” hoặc chóng mệt mỏi. Thiên Mã đứng cùng Hỏa Linh cuộc đời bôn ba rồi mới thành công nếu hỏa Linh đắc địa. Thiên Mã đứng với sao Đà la, Đà La ví như dây quấn vướng vít, mọi việc đều trì trệ, kéo dài, “động” mà không mấy hanh thông, nhưng cứ phải “động”.

Thiên Mã đi cùng với một chính tinh nào cũng chịu ảnh hưởng của chính tinh đó. Ví dụ Thiên Cơ mang sắc thái hiếu động, Thiên Mã khi đi với Thiên Cơ tính chất hiếu động càng tăng mạnh đến mức thành “phù động” ý chí vội vã xốc nổi. Bất luận ở Mệnh hay Thiên Di, Cơ Mã đều thành con người lắm nghề và ít khi ở yên một chỗ. Tốt hay xấu? lại còn tùy thuộc những hung cát diệu khác.

Thiên Mã đứng với Thiên Phủ thì Thiên Phủ vốn tính chất an định. Thiên Phủ có khả năng làm cho Mã bớt “động”. Cho đến khi vận gặp lưu Thiên Mã bấy giờ Mã mới có sức chống lại sự ngăn chặn của Thiên Phủ để tạo nên một thay đổi rõ ràng quyết liệt.
Đối với các sao khác cũng theo như vậy mà suy đoán.

Ngoại trừ Mệnh và Thiên Di, Thiên Mã Lộc Tồn khi chấn đóng ở Tài Bạch hay Điền Trạch cũng mang một ý nghĩa đặc thù. Cung Tài Bạch thấy Lộc Mã rất tốt cho chuyện “động” mà đắc tài, buôn bán phương xa.

Cung Điền Trạch có Lộc Mã làm ăn kinh doanh về nhà đất nơi phương xa sẽ thành công. Tài Bạch, Điền Trạch theo cổ nhân nếu có Thái Dương Cự Môn phùng Lộc Mã hợp nhất rất thuận lợi cho sự nghiệp buôn bán viễn phương.

Trường hợp thê cung có Lộc Mã mà Mệnh cung xấu thì vợ sẽ bỏ mình đi lấy người có tiền có địa vị hơn. Thê cung ấy thêm sao Triệt Tuần nữa thì chuyện xảy đến càng mau chóng sớm sủa.

Lộc Tồn thuộc âm thổ, chủ về tuổi thọ có thể chế được tai ách cho người ta. Lộc Tồn tâm tình chân thực, phản ứng thì mau nhưng khai sáng lại chậm vì có khuynh hướng nặng về bảo thủ, khóa hòa đồng. Nhờ Thiên Mã Lộc Tồn mới nhanh chóng mau mắn xông vào bắt cơ hội.

Lộc Tồn gặp xung phá tất phiền nhiễu ví như ngôi nhà cao vật liệu nặng mà bị địa chấn. Cổ nhân mới bảo “Lộc phùng xung phá cát xứ tàng hung” nghĩa là sao Lộc Tồn mà bị xung phá thì trong tình trạng tốt đẹp có ẩn hung hoạ ghê gớm. Lộc Tồn Hóa Lộc gặp Không Kiếp Hỏa Linh Hóa Kị là dấu hiệu của thất bại sụp đổ, bất an, chìm nổi, ưu phiền lo âu.

Lộc Tồn Hóa Lộc đóng vào Nô Bộc cung, cổ nhân nói:” Túng hữu tài quan dã bôn trì” nghĩa là dù có tước lộc tiền bạc thì cũng chỉ là ở cái thế tay sai bộ hạ.

Thiên Mã thuộc dương hỏa, chủ về “động” chuyển dịch, xoay sở. Tính chất hiếu động gặp tốt thành hay, gặp xấu thành dở, hợp với Lộc Tồn, Hóa Lộc. Bị các hung sát tinh đi kèm thành khốn đốn, hư hoại.

Thiên Mã gặp Đà La gọi bằng triết túc mã (ngựa gẫy chân thích chơi hơn làm). Thiên Mã gặp Hỏa Tinh gọi bằng chiến mã, nếu Mệnh xấu thường hung tử tha hương.

Thiên Mã rất kị các sao Không Vong (Tuần Triệt) cả đời bôn ba.

Thiên Mã đứng với Tử Vi Thất Sát ở Tỵ Hợi gọi bằng Quyền Mã. Thiên Mã đứng với Thiên Tướng Vũ Khúc tại Dần Thân gọi bằng “Tài Ấn Mã”. Thiên Mã gặp Thái Âm cung Hợi gọi bằng Tài Mã, gặp Thái Dương tại Tỵ gọi bằng Quí Mã
Mã ngộ Hình nhi phùng Thiên Khốc ông hoàn phát võ (Mệnh có Thiên Mã đứng cùng Thiên Hình lại được sao Thiên Khốc vào binh nghiệp thành công).

Mã Khốc như phùng Hình, Quyền Lộc Ấn tại Quan cung, võ tất thắng ban đệ nhất (Cung Quan Lộc Thiên Mã gặp Thiên Khốc gặp Thiên Hình, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Quốc Ấn khả dĩ làm to trong binh nghiệp)

Thiên Mã đóng vào cung Tật Ách cả cuộc đời không bao giờ được nhàn nhã thân tâm, chẳng lo cho mình cũng lo cho người, chẳng chuyện gì cũng gây ra chuyện để mà tất tưởi đôn đáo.

Những câu phú về Lộc Mã:
– Lộc Tồn thủ ư Tài Trạch tích ngọc đôi kim
(Cung Tài, cung Điền có Lộc Tồn thì của cải tích tự)

– Lộc Tồn Tí Ngọ vị thiên di, Thân Mệnh phùng chí lợi lộc nghi
(Cung Thiên Di hoặc Mệnh Thân tại Tí hay Ngọ mà có Lộc Tồn thì nhiều bổng lộc).

– Lộc Tồn hậu trọng đa y lộc
(Mệnh Lộc Tồn, thân hình đầy đặn tiền bạc sung túc nhất là đối với nữ mạng)

– Song Lộc thủ Mệnh Lã Hậu chuyên quyền
(Mệnh có song Lộc, đàn bà lấn lướt chồng như bà Lã Hậu)

– Minh Lộc ám Lộc vị chí công khanh
(Lộc toạ Mệnh, Lộc ám củng. Ví dụ Mệnh Dần có Hóa Lộc lại thấy cung Hợi có Lộc Tồn tức ám lộc thì địa vị cao)

– Song Lộc trùng phùng, chung thân phú quí
(Mệnh hội tụ hai Lộc suốt đời giàu sang)

– Lộc Văn củng Mệnh phú nhi thả quí
(Lộc đi cùng với Xương Khúc hội tụ vào Mệnh, có tiền và địa vị)

– Lộc hợp uyên ương nhất thế vinh
(Thân ở Phối cung, hội song Lộc lấy vợ giàu sang hoặc nhờ vợ mà giàu sang)

– Lộc Mã tối hỉ giao trì chúng nhân sủng ái
(Lộc Mã gặp nhau tại Mệnh cung dễ tạo cảm tình với người chung quanh)

– Lộc đảo Mã đảo kị Kiếp Không Thái Tuế
(Mệnh Lộc Mã xung chiếu hoặc Mệnh Mã Lộc xung chiếu mà gặp Kiếp Không Thái Tuế suốt đời bất mãn, công danh trắc trở, tiền nay có mai hết)

– Lộc Tồn nhập miếu tại hợi cung, chung thân phú túc
(Lộc Tồn cư Mệnh ở Hợi suốt đời khá giả, với điều kiện không bị xung phá)

– Hợp Lộc, củng Lộc định vi văn võ toàn tài
(Lộc thủ, Lộc chiếu không xung phá bởi hung sát tinh, đa tài)

– Lộc Tồn ngộ Triệt cư huynh đệ nam trưởng bôn ba
(cung Huynh đệ Lộc Tồn bị Triệt có người anh em bôn ba xứ người, đến vận hạn này thường bị thay đổi thuyên chuyển)

– Thiên Lộc ngộ Thái Âm ư nhàn cung dị bào huynh đệ
(Lộc Tồn gặp Thái Âm hãm ở cung Bào thì có anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha)

– Lộc Tồn Thiên Mã kinh nhân giáp đệ
(Mệnh Lộc Tồn Thiên Mã là người học hành đỗ đạt cao)

– Lưỡng Lộc Ngọ Dần nhi phùng Tử Vũ, Đinh Kỷ Âm nam phú đa danh thọ
(Người tuổi Đinh Kỷ gặp hai Lộc ở Ngọ Dần đi cùng bộ Tử Phủ Vũ Tướng thì giàu và thọ)

– Thiên Mã nhập Mệnh mẫn tiệp đa năng
(Mệnh Thiên Mã xoay xở làm việc giỏi)

– Thiên Mã ngộ Tam Thai anh hùng vô đối
(Sao Thiên Mã đứng bên Tam Thai vào bất cứ lãnh vục nào cũng giỏi hơn người)

– Mã ngộ Không Vong chung thân bôn tẩu
(Thiên Mã bị Tuần Triệp suốt đời vất vả)

– Mã Bật Kiếp Không hưng thượng quân tử
(Thiên Mã, Hữu Bật gặp Không Kiếp làm nghề trộm đạo)

– Lộc Mã giao trì vượng phu ích tử

– Mã ngộ Khốc nhi phùng Hình Quyền Lộc Ấn tại Quan Lộc võ tất thăng ban đệ nhất, văn hội chuyển đạt tam công
(Cung quan Lộc thấy Thiên Mã gặp Thiên Khốc, Thiên Hình, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Quốc Ấn theo nghiệp võ hay văn đều đạt địa vị cao)

– Mã ngộ Thiên hình nhi phùng Thiên Khốc công hoàn phát võ
(Mã gặp Thiên hình, Thêin khốc vào nghiệp võ phát công danh)

– Thiên Mã tại Tỵ, thị chiến mã hạnh ngộ Lương Khoa loạn thế xuất đầu
(Thiên Mã tại Tỵ cùng đứng với Thiên Lương Hóa Khoa gặp thời loạn thành danh)

– Chích hỏa phần Thiên Mã bất nghi viễn hành
(Thiên Mã đứng cùng Hỏa Linh đừng nên phiêu lưu đi xa)

– Mệnh Thân đồng tọa như tại hỏa cung hoặc lâm Hợi địa đồng cung vô chính diệu khưng kiến Mã Hình Linh Kiếp như hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu
(Mệnh VCD Thân Mệnh đồng cung đóng Tỵ hợi mà thấy Thiên Mã Linh Tinh Thiên hình Địa Kiếp ví như hoa nở bị cơn mưa lớn, không nghèo thì yểu)

– Lộc phùng Lương miếu bảo tư tài ích dự tha nhân
(lộc gặp Thiên Lương miếu địa khéo giữ của thích cho người vay lấy lời)

– Nữ Mệnh Thiên Mã ngộ Lương Ấm, tiện nhi thả dâm
(Số nữ Mệnh ở Tỵ Hợi saoThiên Lương thủ mà gặpThiên Mã thì dâm tiện)

– Song Lộc cư nhi ngộ Cơ Lương phú gia địch quốc
(Mệnh Song Lộc đứng cùng Cơ Lương đại phú)

– Lộc Tồn Thiên Mã đồng gia
Có người buôn một bán ba nên giàu

– Mã Lộc ấy một phương hội ngộ
Cách phi thường phong độ anh tài

– Long đong Đông tẩu Tây trì
Bởi vì Thiên Mã Thiên Di hãm nhàn
(Mệnh đóng tại Tỵ, Thiên Mã đối xung từ Hợi thường long đong ngược xuôi)

– Từ cung Thiên Mã phùng Không
Gặp sao Phụ Bật một vùng sanh đôi

– Mã Lộc ngộ tướng mấy ai
Giàu sang đến trước đấng trai anh hùng

– Đồng cung Tồn Mã gặp nhau
Tiền tài vinh hiển ngàn dâu thẳng đường

– Tử Phù gặp Mã Dần Thân
Phù dư mã ắt thanh vân lộ đồ

– Mã ngộ Linh Hỏa miếu cung
Chiến binh Mã ấy vẫy vùng nơi nơi

– Tuấn mã Khốc Khách hợp bài
Ngựa kia có nhạc anh tài lên yên

– Mã kia sao Tuyệt một nhà
Cùng đồ mã ấy thật là gian truân.

– Thiên Hình ngộ Mã chẳng nên
Phù thi mã ắt tật nguyền chân tay

– Chiết túc Đà Mã sum vầy
Tử Mã Tuần Triệt đêm ngày khảm kha

– Thiên Mã nhập Mệnh ấy ai
Tài năng mẫn tiệp, người người ngợi ca

– Tràng sinh Mã Hỉ đồng cung
Công danh đắc lộ vẫy vùng một phương

– Phá Quân Tiêu Mã hợp vào
Ắt người du đãng ai nào dám thân.
(Phá Quân hãm địa tại Dần Thân đứng với Thiên Riêu, Thiên Mã)

– Lộc cư Nô Bộc bực mình
Đông Tây xuôi ngược mới sinh tiền tài
– Vũ Cơ Lộc Mã Hỉ Hồng
Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia

– Tài buôn bán nhiều bề giỏi dắn
Mà Mệnh cung Tồn hẳn Thiên Di

– Tang Môn ngộ Mã đinh ninh
Mỗi người mỗi xứ gia đình quạnh hiu
(Thiên Mã vào cung Bào hội Tang Môn)

– Triệt Tuần ngộ Mã ưu phiền
Bỏ chồng vợ trốn đến miền xa khơi
(Mã gặp Triệt Tuần ở Thê)

– Cơ Lương Lộc Mã ấy ai
Thạch Sùng kim ốc có sai đâu là

– Hỉ Thần Hoa Cái yêu vì
Lộc Mã hội hợp nhiều khi ngoại tài
(Cung Thiên Di thấy Lộc Mã và Hỉ Thần Hoa Cái thường có tiền đến bất ngờ)

– Chơi bời du thủy du san
Thiên Di đảo Mã họp làng kết giao

– Kình tứ Mộ, Mã triều lai
Biên cương ắt hẳn ra tài võ công
(Kình đóng cung quan ở Thìn Tuất Sửu Mùi có Mã chiếu)

– Quan Lộc Tử, Mã nhất ban
Khốc Hư Tí Ngọ đồng sảng hoạnh thương
Mã Lộc Thiên Hỉ thuận đường
Hoặc là Lộc Mã hợp phường tốt thay.

– Kình Đà ngộ Mã đã đành
Là người xuôi ngược để dành chiến công
(Kình tại Quan Lộc hội chiếu Thiên Mã)

– Hỏa Linh hợp Mã một nhà
Hoặc nghề cơ khí hoặc là chở chuyên

Những câu phú về Lộc Tồn
– Mệnh Lộc Tồn tại viên khả hưởng tổ nghiệp
(Lộc Tồn đóng Mệnh cung có thể được hưởng sản nghiệp ông cha)

– Minh Lộc ám Lộc cẩm thượng thêm hoa
(Lộc Tồn hay hóa Lộc ở Mệnh có Hóa Lộc hay Lộc Tồn chiếu theo thế nhị hợp như gấm thêm hoa miễn là không gặp Tuần Triệt)

– Song Lộc ngộ Cơ Lương phú gia kham kỳ
(Thủ Mệnh Cơ Lương gặp song Lộc giàu có)
– Lộc Mã tối hỉ giao trì chúng nhân sủng ái

– (Lộc Mã đứng cùng dễ gây thiện cảm với người)

– Hợp lộc củng Lộc khả thành võ công
(Mệnh Lộc có Lộc từ cung Thiên Di xung chiếu có thể phát về nghiệp võ)

ST

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU

0

MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Trong nhiều sách Tử Vi đã có nhiều lần bàn về “ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU”; nhưng vì đề tài này rất bao la nên tôi tưởng không phải là vô ích khi đưa ra những chi tiết và kinh nghiệm dưới đây để qúy bạn tìm hiểu dễ dàng và chính xác hơn về Mệnh Vô Chính Diệu.

Thực vậy, từ trước đến nay, mỗi khi gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, chúng ta thường thường chỉ biết căn cứ vào những câu phú quen thuộc như:

– Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu tắc bàn.
– Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam không nhi phú qúy khả kỳ.
-Tam không độc thủ phú qúy nan toàn.
-Xét xem phú qúy mấy người, Mệnh Vô Chính Diệu trong ngoài tam không …

Chứ làm gì có một hệ thống hoặc tài liệu chi tiết nào về trường hợp trên, đành rằng có những nhà tử-vi rất thông suốt về Mệnh Vô Chính Diệu nhưng rất tiếc các vị đó lại không chịu đem ra cống hiến. Vì vậy tôi mạo muội gom góp những chi tiết đã thâu lượm được và tạm chia làm hai phần:

– Những ưu khuyết điểm về Mệnh Vô Chính Diệu.
– Những điều phức tạp về Mệnh Vô Chính Diệu.

1-NHỮNG ƯU KHUYẾT ĐIỂM VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
A) Những khuyết điểm
Hầu hết các nhà tử-vi đều không khen những lá số có cách Vô Chính Diệu tại Mệnh vì cho rằng những cách này có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Những khuyết điểm chính như sau:

1- Căn bản không vững
Căn bản ở đây không có nghĩa là khả năng hoặc tài năng mà chỉ có nghĩa là môi trường của mình. Mệnh Vô Chính Diệu (tức là không có chính tinh thủ mạng) bao giờ cũng phải tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh Vô Chính Diệu có tài năng, thông minh (do các yếu tố tử-vi khác cho hưởng) rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, trừ trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì đỡ hơn nhiều.

2- Khó đóng vai trò chính
Như trên đã nói, Mệnh Vô Chính Diệu không khác gì căn nhà không có cửa dễ bị ảnh hưởng của thời tiết cũng như ngoại cảnh. Do đó người Mệnh Vô Chính Diệu (dù Đắc Tam Không) không thể và không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân. Chính cụ Hoàng Hạc cũng đã nêu trên KHHB trước kia là gặp trường hợp này nên cam phận làm “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Riêng tôi, tôi còn nói thêm rằng ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh Vô Chính Diệu cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần phải là con bà vợ sau của cha mình (tức là bà vợ chính không có con trai). Như thế mới có thể sống lâu hoặc mới có công danh khá được. Thậm chí đến vấn đề hôn nhân, người Mệnh Vô Chính Diệu nên chịu làm “kẻ đến sau” thì cuộc sống dễ thịnh vượng hơn, còn trường hợp vợ mình là chính chuyên thì đương nhiên bị thiệt thòi về sự nghiệp. Đó là một điểm “hận” lớn lao cho người Mệnh Vô Chính Diệu. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống (vô chính diệu) thì ta cần có một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu lỗi nhiều hoặc gánh vác nhiều, dù cho mình có nhiều khả năng chăng nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp, ví như Tuần, Triệt vậy.

3-Khó phát sớm
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, tôi nghiệm thấy các người mệnh vô chính diệu đều không phát khi còn trẻ, không khác gì một cái cây non khi mới nẩy mầm nơi đất xấu, phải trông cậy vào phân bón hoặc mưa nắng thuận hòa mới dần dần vươn cao, có hoa có lá. Vì vậy, nếu qúy bạn có Mệnh Vô Chính Diệu cũng đừng bao giờ qúa thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không quá tệ. Nếu qúy bạn nào phát sớm trong trường hợp này tưởng cũng không nên qúa mừng và tự tin vì không khác gì “hoa sớm nở tối tàn” về công danh cũng như về tuổi thọ. Để cho dễ hiểu, tôi xin đơn cử một thí dụ: một đứa bé sơ sinh nếu ra đời non hoặc qúa yếu đuối ngay từ lúc lọt lòng mẹ, nếu cứ cho uống đủ các thứ thuốc bổ để mau mập mạp, khoẻ mạnh không thể đúng cách bằng nuôi nấng một cách điều độ cho khoẻ mạnh lần lần. So với Tử vi cũng vậy, nếu Mệnh Vô Chính Diệu mà gặp ngay Đại Hạn kế tiếp thật tốt rồi những đại hạn sau xấu thì không thể nào hay bằng đại hạn kế kém nhưng những đại hạn sau tốt đẹp, để cho mệnh đủ thời gian hấp thụ các sao thuộc các cung xung chiếu và hợp chiếu, như thế mới đủ khả năng sử dụng các đại hạn tốt một cách vững bền.

4-Nghị lực kém:
Khuyết điểm sau chót của người Vô Chính Diệu tại Mệnh là khó lòng họ có can trường hoặc tinh thần dũng mãnh cương nghị, dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Điều này cũng rất dể hiểu vì khi mình nhờ vả ai (tức là Mệnh nhờ các cung chiếu) thì mình phải chịu ảnh hưởng của người đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao giữ vững được lập trường. Tuy nhiên, nếu Mệnh chịu ảnh hưởng của cung Tài Quan nhiều hơn thì việc lệ thuộc cũng nhẹ hơn nhiều, vì Tài Quan là các cung của cá nhân mình, thì chỉ ngại cung Thiên Di, nếu có các chính tinh dùng cho Mệnh được nhiều thì sự lệ thuộc vào ngoại giới sẽ mạnh mẽ hơn vì cung Thiên di tiêu biểu cho giới giao thiệp, bạn bè trong xã hội (Tôi sẽ bàn về cung Thiên Di trong một bài riêng biệt). Vậy quý bạn cần chú ý đến điểm này khi cân nhắc về nghị lực của người Mệnh Vô Chính Diệu.

Những ưu điểm:
Chắc qúy bạn nào có Mệnh Vô Chính Diệu sau khi đọc những điểm trên đây đều thất vọng cho số phận của mình, nhưng thực ra con người Mệnh Vô Chình Diệu lại có những điểm độc đáo khác mà những người khác ít khi có.

1) Đa năng mẫn tiệp
Khi Mệnh đã “bỏ ngõ” tuy dể bị ảnh hưởng của các sao xấu bên ngoài nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của các cách tốt chiếu về, nếu có. Do đó, người Mệnh Vô Chính Diệu (khi lớn tuổi) thành công dễ dàng nhưng tuần tự trong mọi lãnh vực do khả năng tìm hiểu, tò mò, kiên nhẫn của mình, mức độ thành công tùy theo các cách tốt trong tử vi. Vì thế, trong nhiều sách như cuốn Tử-Vi Đầu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang đều nói rằng người Mệnh Vô Chính Diệu khôn ngoan sắc sảo là thế. Nếu qúy bạn là Chủ nhân hay Giám đốc thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến, nhưng đừng bao giờ dùng họ trong vai trò chủ chốt như đã nói trên để cho họ khỏi bị mất chức. Đến như Khổng Minh kia (cung Mệnh Vô Chính Diệu) tuy tài ba phi-thường như thế mà cũng đành phải chịu làm cố vấn, quân sư cho kẻ khác, chứ đâu có xưng vương đồ bá gì nổi …

2) Ít bị tai nạn
Tôi xin nói ngay là người Mệnh Vô Chính Diệu bớt được nhiều tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy là Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bịnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh Vô Chính Diệu thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều.

3) Dễ thích ứng với hoàn cảnh
Mệnh Vô Chính Diệu chẳng khác gì Mệnh trung lập, gặp đại vận nào cũng thích ứng được không bị cảnh “chéo cẳng ngỗng” như Mệnh có chính tinh, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng (Đây tôi không nói về thọ yểu mà chỉ bàn đến công danh, sự nghiệp, vì lẽ tất nhiên gặp hạn xấu qúa thì phải chết). Thí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh Vô Chính Diệu lại hay vì không khác gì nhà cửa đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Tôi đã được xem nhiều Lá số vô chính diệu, có người bị thăng trầm luôn luôn nhưng gặp hoàn cảnh nào cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định.
II- NHỮNG ĐIỂM PHỨC TẠP VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
Tôi có thâu thập được khá nhiều điểm phức tạp về cách giải đoán Mệnh Vô Chính Diệu, nhưng chỉ xin nêu ra những điểm chính và quan trọng (tôi không nhắc lại những điểm đã bàn tới trên KHHB) để qúy bạn đỡ bị lúng túng khi quyết đoán:

1) Đắc Tam Không
Thường thường các nhà tử vi đều chê rằng Mệnh Vô chính diệu chỉ tốt khi đắc tam Không (tức là có Tuần, Triệt, Địa không hoặc Thiên không tôi không bàn chứ “Không” ứng cho những sao nào kể trên vì có vị không công nhận Tuần là “Không”, có vị lại bảo rằng Thiên Không mới không phải là “Không” nhưng chưa có ai chứng minh được hợp lý), và cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử vi chỉ nam) có nêu ra thêm là mạng Hỏa và Kim mới hợp với cách này nhất. Điểm này chỉ đúng khi đương số là con một, mà tôi đã bàn trên KHHB rồi. Ngoài ra, quý bạn còn phải phân biệt như sau:
-Nếu mạng có nhiều trung tinh rực rỡ quần tụ mà có một Không án ngữ và hai Không chiếu về thì đừng nên ham cách “Đắc tam không” nữa vì các trung tinh bị mất hiệu lực. Trong trường hợp này chỉ nên có Tam không ở 3 phương chiếu về là hơn, nếu không thì chẳng cần đủ 3 Không mới khỏi tai hại cho Mệnh.
-Khi nào Mệnh không chính tinh mà chỉ có toàn bại tinh hoặc bàng tinh không quan trọng mới cần có một “Không” án ngữ, nhưng lại có điểm thiệt thòi là các cách hay ở bên ngoài khó bổ túc cho Mệnh vì bị “Không” ngăn trở, thành ra chưa hẳn là hoàn toàn có lợi. Về trường hợp này nhiều vị cho rằng nên có Thiên không hoặc Địa không hơn là Tuần, Triệt vì hai sao Thiên Địa Không không ngăn trở sự xâm nhập hoặc ảnh hưởng của các sao bên ngoài.

2) Không đắc Tam Không
-Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu không đắc Tam Không, tức là chỉ có Nhất, Nhị Không (ít khi không đắc Không nào) chưa hẳn là kém Tam Không và cũng không ngại “phi yểu tắc bần”, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.Chỉ có điểm cần nhất là cung Phúc Đức không được xấu vì Mệnh yếu sẵn rồi phải nhờ vào cung “gốc” là cung Phúc Đức để tránh vấn đề kém thọ trước đã rồi mới tính đến công danh, sự nghiệp qua các cung hợp chiếu và đại hạn. Tôi đã được xem nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu chỉ có đắc Nhất Không mà vẫn phú quý và chẳng hề chết non, nhưng những lá số này không có cái nào có cung Phúc Đức xấu.

3) Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu hư không chi địa
Cách này chắc nhiều bạn đã biết và nhiều nhà tử vi cho rằng rất hay, nhưng chúng ta cũng cần phân biệt một vài trường hợp như sau để khỏi sai lạc nhiều :
– Khi Mạng vô chính diệu có nhiều sao xấu (như: Địa Kiếp, Hỏa Linh, Phục Binh…) thực ra không nên có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu vì như thế không khác gì “vạch áo cho người xem lưng” bao nhiêu sự xấu xa trong nhà mình đem phô ra hết, tuy vẫn thành công, phú qúy nhưng mọi người đều thấy rõ bộ mặt thực của mình, như vậy tưởng cũng chẳng lấy gì là hay. Trong trường hợp này thà đừng có Nhật Nguyệt hoặc nếu có thì hãm địa (tức là không sáng sủa) còn hay hơn để đỡ bị chê cười, nhục nhã.
– Nếu mạng vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ mà có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu thì không còn được hưởng cách này nữa, hoặc nếu có được hưởng cũng chỉ là cái vỏ phú quý, đó là “giả cách” mà thôi.
– Nếu được đúng cách Nhật Nguyệt (tức là Mệnh không có Tuần, Triệt và cũng không có các sao xấu) thì nên có thêm Thiên Không hoặc Thiên Hư để khoảng chân không được thăm thẳm cho có nhiều chiều sâu cho mặt trời, mặt trăng chiếu, như thế công danh, phú qúy mới phi thường và óc thông minh mới siêu việt, nhưng vẫn phải đóng vai trò “phó” mới lâu bền được.

4) Đại tiểu hạn
Đối với Mệnh Vô chính diệu, việc giải đoán Đại tiểu hạn khác hẳn đối với Mệnh có chính tinh thủ Mệnh. Vì Mệnh vô chính diệu có khả năng hấp thụ đủ mọi cách, từ cách Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng lương cho đến cách Sát Phá Liêm Tham cùng với hung tinh đắc địa, chẳng bao giờ không ”ăn khớp” với các cách này. Tuy nhiên, chỉ ngại đi đến Đại tiểu hạn cũng Vô chính diệu lại không có Không nào thì khác nào một cái nhà trống, không cửa ngõ lại ở trên một khu vực “đồng không mông quạnh”, làm sao chống lại được mưa gió hoặc bị ảnh hưởng của bên ngoài, như thế tức là làm ăn thất bại dễ dàng, sự nghiệp suy sụp mạnh mẽ.
Qua những điểm tôi trình bày trên đây, chắc hẳn qúy bạn đều nhận thấy rằng dù sao người có Mệnh Vô chính diệu vẫn chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi, nhất là đối với ai ham công danh, quyền chức lớn, mặc dù họ có nhiều tài năng đôi khi xuất chúng, nhưng tài để phục vụ cho kẻ khác (nhiều khi kém mình) thì tưởng cũng là điều không hấp dẫn.Chỉ đối với ai có đầu óc triết lý, ưa sống về tinh thần, ưa nghiên cứu về lý số, biết an phận thời may ra mới hợp cách Mệnh Vô chính diệu, dù đắc Tam Không hay Không.

ST

CUNG QUAN LỘC (Tiếp)

0

Cung Quan Lộc

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Quan Lộc là cung trực tiếp về đời mình nên lấy Mệnh Thân làm căn bản. Ngoài các Cách, các Thế ở Mệnh, Thân cần phải hiểu nghĩa của các cung của Địa Chi. Cung Quan Lộc chỉ các khía cạnh sau:

– Công danh, sự nghiệp nói chung.
– Nghề nghiệp (loại nghề, các nghề liên tiếp trong đời), khả năng chuyên môn (năng khiếu)
– Khoa bảng, quyền hành, thế lực từ sự nghiệp. Triển vọng của nghề nghiệp (sự đắc thời hay thất bại)
– Người giúp việc trong sự nghiệp
– Tư cách ước vọng của mỗi người về nghề nghiệp
– Thời kỳ thịnh suy, những may rủi trong nghề nghiệp
– Tiền bạc từ quan trường mà có

Rất quan trọng đối với phái nam, cung Quan kém quan trọng hơn đối với phái nữ. Trong xã hội hiện tại, phái nữ vì gánh vác nhiều nên cung Quan đối với họ phải được xem là cung cường như đối với phái nam. Đối diện với cung Quan, cung Phu Thê cũng có thể nói lên 1 nghề nghiệp thứ hai, của vợ hay chồng. Cũng như các cung khác, cung Quan phải được khảo sát trong bối cảnh của Mệnh, Thân, Phúc, Tài mới xác định được kết luận sau cùng. Mặt khác, giáp cung Quan là cung Nô và cung Điền, trong đó cái hay cái dở đều có ảnh hưởng đến sự nghiệp. Ngoài ra, đối với người có hai đời vợ, chồng, cung Quan tượng trưng cho đời vợ hay đời chồng thứ hai.

1. Tại Ngọ: Ngọ là Trung ương, là Đế Vị. Quan Lộ đóng ở Ngọ là vị trí trung ương, ở vị trí cao trên toàn lá số. Nó mang một ý nghĩa tích cực, lấn át các cung khác. Do thế rất mạnh và cần phải xem Mệnh tốt hay xấu, các sao chính tinh có đắc thế không.

Nếu tốt đẹp thì nhất định sẽ có chức tước, hay nghề nghiệp cao sang, ở cấp chỉ huy và được giàu sang dễ dàng. Ngược lại, nếu xấu thì vất vả, cả đời cứ phải lo cơm áo, không mấy nghỉ ngơi.
Nam giới dễ thành công hơn Nữ giới. Nữ giới cung Quan ở Ngọ thường vất vả về đường nhân duyên, phải làm lấy mà ăn, ít được nhờ chồng nhưng phần nhiều là người tài giỏi, vượng phu ích tử.

2. Tại Tí: cũng như ở Ngọ và càn phải có chính tinh tốt, vì là bại địa, bị nhận chìm không ngóc đầu lên được. Bởi Tí là cung Thiên Môn, chầu vào Đế khuyết, rất cần Lộc Tồn, Tam Khoa và chính tinh đắc cách, hợp Mệnh.

3. Tại Mão: Mão là cung Thần, Phật, là vị trí của bậc quân tử, đạo đức. Nhưng cũng là cung Tuyệt, cung yếu, nghiêng về sự lười biếng, trước cần sau lăn. Mão vốn là cung Lôi Chấn, là bộc phát dữ dội ban đầu, vốn bốc nhanh và tàn nhanh. Đó là cung của các bậc giáo sư và học giả, các nhà mô phạm, tu hành đạo đức. Nếu gặp sao xấu hay vô chính diệu thì dễ trở thành bậc xử sĩ giang hồ khách. Đàn bà Quan ở đây dễ là người phúc đức hoặc hồng nhan đa luỵ, đa sầu.

4. Tại Dậu: Dậu là cung Thiên Di thứ hai, nên là vị trí của bậc yếm thế, đa tình, phiêu bồng chi khách. Cũng y như cung Mão, nếu gặp sao tốt, thì nhẹ gót thanh vân, làm chơi mà ăn thật. Ngược lại, nếu sao yếu kém, thì phải về hậu vận, mà xuất ngoại mới tạo nên công nghiệp được. Đồng thời phải bôn ba, nay đây mai đó, sống đời lãng tử giang hồ khách.

5. Tại Thìn: Đây là cung Thiên La, tức là cái cửa ngõ khép kín, cần phải đạp cửa mà ra, nhảy một bước cao mới mong cá vượt vũ môn. Do thế đòi hỏi nhiều chiến đấu tinh, mà sự đắc cách tối đa là cách tranh bá đồ vương, bạch ốc phát công khanh. Bởi thế cần phải có Tuần hay Triệt mở cửa Thiên La, coi như chiếc cửa đã mở sẵn, chỉ khép hờ, thì mới mong bay bổng được. Nếu thiếu Tuần hay Triệt, thì phải có sao chính tinh đắc cách hay hung tinh. Vì thế nên mới có cách Tử Tướng làm Thìn. Tuất là cách làm bạo, cách mạng, đoạt quyền, chứ không có van lơn xin xỏ gì hết. Nếu không mà gặp văn tinh như Cơ Lương ở Thìn, Tuất, gọi là cách Tắc Hữu Cao Nghệ Tuỳ Thân, tức phải là người có xảo thuật, tài ba, mới vượt được cửa La Võng. Cũng do thế, sao Kình Dương ở Thìn, Tuất là rất đắc địa vì là thanh gươm chọc thủng màn La Võng.

6. Tại Tuất: cung Tuất cũng như cung Thìn nhưng tốt hơn, bởi là cung Tru Long, do có Mệnh ở Ngọ. Mệnh đắc vị trí thì cung Quan ở Tuất là cung của Triều đình, để ra lệnh, thì Quan ở đó tốt hơn ở Thìn. Quan ở đây sẽ nhàn hạ hơn cách Bạch ốc phát công khanh ở Thìn, mà biến ra thành kho vựa, do thế nếu gặp Cơ Lương chẳng hạn, thì đó là cách giàu sang, buôn bán làm giàu dễ dàng. Nếu Mệnh xấu mà cung Quan cũng xấu, thì lệt bệt, chỉ có hư danh mà không có thực tế. Thường đảm nhiệm các chức vụ như chủ tịch một hiệp hội tôn giáo, một chức trùm đạo, một đoàn thể bí mật gì đó, mà không có thực lực. Đại để như vậy.

8. Tại Sửu: Đây là cung Mộ, nặng nề nhất trong tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Bởi vì nó đảm nhiệm vị trí Sinh đối với cung Sinh của Địa Chi là cung Tỵ (tức bắn ngược lên phía trên) nên rất nặng nề. Và do từ cung Dậu là cung Tuyệt thuộc loại Thiên Di thứ hai, nên có căn bản rất suy yếu. Cung Quan đóng ở đây, gặp cát tinh thì là người hiền lành, an phận thủ thường, làm các nghề vô hại như thầy giáo, công tư chức, mà gặp hung tinh thì thường hung bạo, tích cực đến điên cuồng. Nên quan ở Sửu dễ vất vả, vì căn bản Mệnh ở Dậu yếu. Và có Tài Bạch ở cung Sinh ở Tỵ coi như tuyệt địa nên kém. Người có Quan ở đây, phần nhiều có nghị lực và giỏi, và dễ bị ly khắc về đường nhân duyên, về hậu vận. Trước 30 tuổi phải vất vả, nếu giàu có sẵn thì cũng lên xuống gập ghềnh, dám làm bạo nhằm một mục đích cao siêu như phát minh khoa học, hay mở mang kỹ nghệ, dám làm bạo và thành công. Nếu gặp vô chính diệu hay sao xấu, thì mang hư vị, công việc dở dang, chỉ được nửa vời.

9. Tại Dần: Đây là cung Sinh thứ nhất (Đệ Nhất Tứ Hành Sinh) nên rất mạnh. Người có Quan ở đây, thì Tài cũng đóng ở Ngọ, là có chủ trương hết sức thiết thực, đầy tham vọng. Do thế, nên Quan ở Dần mà tốt, thì dám làm bạo và thành công lớn.

10. Tại Thân: cũng như ở Dần, Quan ở đây thì Mệnh ở Thìn, đó là những người có tài, chủ trương táo bạo, phần nhiều thành công về kỹ thuật, quân sự, kinh tế, không nề hà tiểu tiết.

11. Tại Tỵ: Tỵ là cung Sinh của Địa Chi, nhưng lại là cung Bại địa, bởi vấp phải cung Ngọ ở trước mặt, nó như một bức tường thành chắn ngang. Do thế, là thế kẹt cần phải vươn lên mới mong ca vượt vũ cầu môn được. Người có cung Quan ở đây, phần nhiều là người cương quyết, dám liều, có nhiều anh hùng tính. Nếu gặp sao tốt, cách tốt thì đường công danh rất sáng lạn, coi như bậc cường thần làm đâu thì thắng đấy.Mà nếu sao xấu, kém thì sẽ đè nén, không ngóc đầu lên được, sẽ nghèo khó tối tăm.

12. Tại Hợi: Đây là tuyệt cung, coi như cái đáy, cung Quan ở đây khó nhất trong 12 cung. Nếu gặp cách tốt, sao tốt, thì là phi thường cách, thường đảm nhiệm các công tác khó khăn, người khác không làm nổi, mình làm nổi. Ngược lại, nếu sao xấu, cách xấu, thì phần nhiều là người ta thời mẫn thế, chán nản đường danh lợi, nghiêng về đạo giáo, có cái tự kiều kín đáo, mô phạm đạo đức ít ai bì, bởi có Mệnh lập ở Mùi là khách khanh của Đế cung Ngọ.

Tóm lại, xem cung quan rất quan trọng. Ngày xưa chỉ có tứ giới: Sĩ, Nông, Công, Thương nên dễ gọi ra được. Ai ở cách Nhật Nguyệt là Sĩ, tức làm quan, làm bậc thầy nhưng ngày nay có cả trăm ngàn nghề. Cho nên định ra được một nghề chính xác là một điều khó khăn. Do thế, chỉ cần cái nội dung tương đồng là được. Thí dụ: như một người cung Quan ở Tỵ có cách Liêm Tham thêm Kình Dương và Tam Hóa, thì rõ ràng là người về nghành tư pháp, quan toà, có quyền bắt giam người, thế mà lại thành ra ông kỹ sư về nghành đánh cá thì cái đó tương với nhau.

A. TỬ VI Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Ngọ: nếu có Quần Thần khánh hội, thêm Tả Phù hoặc Tả Phù chiếu và Tam Hóa, làm nổi quốc trưởng, thủ tướng hoặc làm trưởng nhiệm sở, được giàu sang vinh hiển suốt đời

2. Tại Tí: trung bình, nếu hội đủ Quần Thần khánh hội, thường là các bậc hào trưởng ở địa phương, các bậc phú ông ở thôn quê, chủ nông trại, được sung sướng suốt đời

3. Tại Dần, Thân: cùng Thiên Phủ rất tốt, nếu có tứ Linh (Long Mã Hổ Phượng, Tướng Ấn) thường là các nhà kỹ nghệ, thương mại lớn hay hiển đạt về võ nghệ, được vinh hiển suốt đời, rất tài ba, tháo vát
4. Tại Tỵ, Hợi: cùng Thất Sát, thường tay trắng làm giàu, rất tích cực, mạnh mẽ nhưng ăn về hâu vận, tiền vận thường vất vả

5. Tại Mão, Dậu: cùng Tham, trung bình, nếu hiển đạt lớn, thì dễ gặp tai họa. Đi tu dễ thành chánh quả, làm nổi các bậc tôn quí của đạo giáo (tổng giám mục, tăng thống…)

6. Tại Sửu, Mùi: cùng Phá, thành công về võ nghiệp nhưng cũng dễ gặp tai họa và thăng giáng bất thường. Nếu có ác, sát hung tinh, thường bị thất bại, hay tù tội về hậu vận. Hoặc gặp tai hoạ về nghề nghiệp, binh hỏa, lây bệnh nan y…
7. Tại Thìn, Tuất: cùng Thiên Tướng, tài giỏi, thường tay trắng làm giàu. Nếu giàu trước rồi, nên chuyên về kỹ nghệ, khoa học hay thành công lớn về thương mại, kỹ nghệ, làm mạnh thì thành. Thế nhưng phải phá tán trước, sau mới thành

B. THIÊN PHỦ Ở CÙNG QUAN LỘC:

1. Tại Tỵ,Hợi: bình thường, phần nhiều được nhờ vợ hay chồng. Biết an phận thủ thường
2. Tại Mão, Dậu, Sửu, Mùi: đi buôn, ra ngoài thường phát đạt. Vất vả ban đầu. Sau 30 tuổi thì thành công. Hoặc làm các nghành liên quan đến giáo dục, y, dược, văn học, ấn loát hay điêu khắc. Nghiêng nhiều về võ cách (văn đá võ)
3. Tại Dần, Thân: xem Tử Vi
4. Tại Thìn, Tuất: đóng chung với Liêm, uy quyền tột bực, vì có Tử Vi cư Mệnh ở Ty, Ngọ, Rất giàu sang, có thể làm nổi các chức vụ tương đương với chủ tịch quốc hội hay bộ trưởng nội vụ, đại sứ vì đại diện cho Tử Vi trong chính quyền trung ương
5. Tại Tí, Ngọ: đóng chung với Vũ, liên hệ nhiều đến các nghề bí mật, uy quyền hiển hách, thường đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong bóng tối (Sao Đen) như các đại sứ lưu động, các chức vụ liên đoàn, đoàn thể, rất quí hiển. Cũng như giữ các ngân khỏan to lớn của chính phủ tổng giám đốc về kinh tài hay kế hoạch gia vĩ đại. Do cách Tử Vi, Thiên Tướng làm Thìn, Tuất là cách táo bạo anh hùng, dễ thành công với thời loạn. Nếu đi thầu sẽ thành công lớn

C.THÁI DƯƠNG Ở CUNG QUAN LỘC:

Nhật chủ công danh. Gặp Tam Hóa. Lộc Tồn là đại quí
1. Tại Ngọ: công danh sớm, có thể làm nổi nguyên thủ quốc gia. Dù không có cát tinh, cũng là người tài giỏi, thường đảm nhiệm các chức trưởng nhiệm sở, rất có uy quyền. Làm chức phó thì đoạt trưởng
2. Tại Tí: cần gặp Tam Hóa hay Tuần, Triệt, sẽ giống như tại Ngọ, nếu không thì kém. Phần nhiều là danh sĩ, bậc người mô phạm, tài giỏi, thành công trong các nhiệm vụ khó khăn. Vì đây là các Nhật Trầm Thủy Để, Loạn Thể Phùng Quân. Phải thời loạn hay việc khó khăn mới thành công. Thời bình hay việc dễ thì chỉ có hư vị và đạo đức. Nhưng phân nhiều chỉ ngắn hạn. Khi tới hạn Thủy, Thổ thì tàn (tức bộc phát bộc tàn). Gặp hạn tốt, nên làm nhanh rồi rút lui ngay. Nếu không sẽ thất bại hoặc tai họa nặng
3. Tại Sửu, Mùi: đóng chung với Nguyệt, công danh trắc trờ, có chí hướng khó thành. Về già có đôi chút hư danh. Nếu gặp Tuần hay Triệt án ngữ, thì ban đầu trắc trở nhưng sau thành công
4. Tại Mão: đóng chung với Lương, rất tốt, thường thành công về y học, giáo dục, văn học. Học giả mô phạm và đạo đức, nổi tiếng và có uy quyền
5. Tại Dậu: nếu gặp Tuần hay Triệt thì giống như Mão nhưng ban đầu thường vất vả. Thiếu Tuần Triệt thì công danh muộn, vất vả, làm nghề thầy hay công tư chức cỡ trung bình
6. Tại Dần: đóng chung với Cự, cũng giống như tại Mão nhưng chuyên về hình luật, ngoại giao, chính trị quốc hội hay nhà văn nhà báo bởi Cự Môn chuyên về nghị luận đanh thép
7. Tại Thân: cũng cần gặp Tuần hay Triệt, nếu không thì dễ mắc chuyện thị phi quẫn túng, công danh trắc trở thất thường
8. Tại Thìn: có công danh sớm nhưng thường bất mãn về nghề nghiệp, dễ bị nhiều người ghen ghét
9. Tại Tuất: kém, chỉ có hư danh nhưng cũng là người có tài và đạo đức, được nhiều người nể kính. Thường là văn sĩ, hay làm các công việc đặc biệt, khó khăn
10. Tại Hợi: nếu gặp nhiều trợ tinh thì là người có tài đặc biệt, đảm nhân các công tác khó khăn và thành công nhưng cũng ngắn hạn thôi. Nếu thiếu trợ tinh thì là người rất bất mãn với công việc nhưng cũng là người đạo đức, quân tử
11. Tại Tỵ: giống như tại Ngọ nhưng kém hơn một chút

D. THÁI ÂM Ở CUNG QUAN LỘC:

Nguyệt thường chủ về sự đi xa, nghành ngoại giao, văn chương, nghệ thuật. Xem va luận giống như Nhật nhưng cần chú ý các vị trí miếu, vượng, đắc, hãm địa của Nguyệt
Miếu địa: ở Hợi, Tí
Vượng địa: ở Thân, Dậu
Đắc địa: ở Tuất, Sửu, Mùi
Hãm địa: từ Dần đến Ngọ

E. THIÊN CƠ Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Tỵ, Ngọ,Mùi: tốt đẹp, xem các cách về Thiên Cơ ở phía trên. Thường có chức tước, hiển vinh
2. Tại Hợi, Tí, Sửu: kém, phải về hậu vận mới khá được. Sở dĩ Cơ là sao Mộc, mà gặp hai cung Hợi, Tí là Thủy, là cung Sinh, mà kém, là vì sao nay đóng sau Tử, mà Tử hãm địa, thì cũng theo cái đà ấy mà có một sự tương đối kém cỏi luôn. Và do Tử Vi đóng lạc vào cung Nô Bộc
3. Tại Thân: đồng cung với Nguyệt, dễ làm về các nghành y tế, ngoại giao, giáo dục, văn học, nghệ thuật
4. Tại Dần: kém tại Thân, phần nhiều về hậu vận mới thành đạt vì gặp trở ngại do âm dường phản bối
5. Tại Mão: cùng Cự, dễ chuyên về giáo dục, luật pháp, rất khôn ngoan xảo trá
6. Tại Dậu: kém tại Mão
7. Tại Thìn, Tuất: rất thận trong, thường hiển đạt về văn nghiệp, bởi là cách Cái Thế Văn chương, làm nghệ sĩ có tài, có tác phẩm nổi tiếng, hoặc đi buôn làm giàu nếu có Tam hóa hay Lộc Tồn chiếu..

F. THIÊN LƯƠNG Ở CUNG QUAN LỘC:

Thiên Lương là sao chuyên về nghề thuốc, các nghề văn hay mô phạm
1. Tại Tí, ngọ: làm thầy thuốc, nếu hợp cách có thể làm cấp chỉ huy lớn, vinh hiển trọn đời
2. Tại Mão, Dậu: xem Nhật
3. Tại Thìn, Tuất: xem Cơ
4. Tại Dần, Thân: rất tốt, thường làm nghề nghành y học, giáo dục nổi tiếng và quí hiển
5. Tại Sửu, Mùi: trung bình, nên đi xa lập nghiệp thì tốt
6. Tại Tỵ, Hợi: bôn tẩu, nên đi xa lập nghiệp thì tốt, bởi Mệnh có cách Nhật Nguyệt Tranh Huy
Hai sao này ban đầu lật đật, vất vả, sau mới thành, chỉ đi xa là hợp. Nên làm các nghành đại diện thương mại ở nước ngoài là hợp cách

G. THIÊN ĐỒNG Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Mão: rất anh hùng, làm về võ nghiệp thì thành công. Như đi thầu, làm các nghề như cảnh sát trưởng, luật sư, thẩm phán là đắc thế, vì có Mệnh là Cự chủ về nghị luận, tính toán
2. Tại Dậu: kém hơn tại Mão, dễ thay đổi công việc, công danh thường bất mãn, vì bản chất ở Mệnh gặp Cự hãm địa ở Tỵ
3. Tại Tí: đóng chung với Nguyệt, công danh tốt đẹp, nghiêng về đi xa, ngoại giao lý luận, bởi là cách Nguyệt Lãng Thiên Môn Tiến Tước Phong Hầu. Càng đi xa càng thành công
4. Tại Ngọ: giống như tại Tí nếu có Tuần, Triệt. Nếu không có Tuần, Triệt thì thường được nhờ vợ hay chồng, do buôn bán làm giàu. Bởi nằm trong cách Thiên Tử Hành Quân, có Cơ Lương ở Thìn, Tuất
5. Tại Dần, Thân: xem Lương
6. Tại Thìn, Tuất: đi xa thì thành công và thường thay đổi công việc
7. Tại Sửu, Mùi: đóng chung với Cự, công danh lật đật, thường bị đè nén khó chịu. Nhiều miệng tiếng thị phi trong công việc làm ăn
8. Tại Tỵ, Hợi: vất vả, luôn bất mãn, vì cung Nô là đường cung đối với bản thân, mà cung này có Phủ và Vũ là sao mạnh, át mất thế của Mệnh

H. CỰ MÔN Ơ CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Tí: cách Thạch Trung An Ngọc rất tốt, làm về nghành luật pháp, văn hoá, y tế, giáo dục. Được giàu sang nổi tiếng
2. Tại Ngọ: kém hơn tại Tí, thường không bền, giàu sang như mây nổi, dễ mắc tội vạ, tiêu tan cơ nghiệp vì kiện cáo, vì gặp âm dương hãm địa và cách Liêm Tham Tỵ Hợi
3. Tại Hợi: trung bình, dễ được nhờ vợ hay chồng
4. Tại Tỵ: kém, thường làm các chức vụ tầm thường, bị chèn ép nặng nề, do cung Nô ở Ngọ rất mạnh. Cũng không được nhờ vợ hay chồng, vì Nhật hãm địa
5. Tại Thìn, Tuất: có tài, thường tự lực cánh sinh vươn lên trong khó khăn, bị vất vả lúc đầu, sau sẽ thành công, nhưng bị nhiều kẻ dèm pha, ghen ghét
6. Tại Mão, Dậu: xem Cơ
7. Tại Dần, Thân: xem Nhật
8. Tại Sửu, Mùi: xem Đồng

I. LIÊM TRINH Ở CUNG QUAN LỘC:

Liêm chủ trương quyền bính, nên rất độc tài nghiêm nghị. Chủ về lý luận, võ nghiệp và ty pháp
1. Tại Dần, Thân: làm về võ nghiệp rất có uy quyền. Đi với bộ Tứ Linh (Long Mã Hổ Phượng hay Hổ Cái Tướng An) có Khoa Quyền, làm nổi đại tướng. Thiếu Khoa Quyền thì có thể là nhà kỹ nghệ hay khoa học, hoặc làm về các nghành tư pháp, cảnh sát trưởng rất độc đáo, uy hùnh. Thường nghiêng về các sự đặc biệt khác đời. Có thể là nhà phát minh khoa học
2. Tại Thìn, Tuất: xem Phủ
3. Tại Tí, Ngọ: cùng Thiên Tướng, rất uy hùng, có thể làm nổi tổng tư lệnh nhưng cũng bộc phát bộc tàn. Ơ Tí tốt hơn ở Ngọ. Vì ở Tí thì Nhật đắc địa dễ giàu có và bền. Làm về các nghành kỹ thuật hay đi thầu rất thành công, nhưng chỉ nên ngắn hạn. Nếu kéo dài là thất bại
4. Tại Sửu, Mùi: cùng Thất Sát, thành công về quân sự, nhưng dễ tai nạn về hậu vận, cũng có thể đi thầu hay đi buôn, nhưng bộc phát bộc tàn
5. Tại Mão, Dậu: cùng Phá, trước gặp may mắn nhưng sau sẽ bất mãn nặng nề. Vì Liêm Trinh chủ ở tiền vận. Rất phá tán, chỉ nên lợi dụng thời cơ, làm ngắn hạn và từ mùa xuân đến mùa hạ thì thành công. Sau đó là thất bại
6. Tại Tỵ, Hợi: rất ác, thường nghiêng về nghành tư pháp, giam cầm, bắt bớ, đi săn, kỹ thuật, hoá chất là hợp. Nhưng sinh ư nghề tử ư nghệ, có thể mắc bệnh nan y do nghề nghiệp mà ra

J. THẤT SÁT Ở CUNG QUAN LỘC:


Chủ võ biền, quân sự, công kỹ nghệ
1. Tại Dần, Thân: là cách Thất Sát Triều đẩu, làm bạo và thành công. Rất uy hùng, thường được toạ trần biên thuỳ, một mình trấn ngự biên cương
2. Tại Tí, Ngọ: công danh thất thường nhưng rất uy hùng, thường do thời có đưa lại, bộc phát bộc tàn, nên buôn từng chuyến, theo thời vận mà bốc nhưng phải rút nhanh không nên nấn ná vớt thêm thì thất bại
3. Tại Thìn, Tuất: làm về võ nghiệp hay luật pháp nhưng bất mãn, thường dễ gặp tại nạn binh đao
4. Tại Sửu, Mùi: xem Liêm
5. Tại Tỵ, Hợi: xem Tử
6. Tại Mão, Dậu: đóng chung với cung Vũ Khúc, thường hiển đạt về võ nghiệp, có thể làm nổi các chức quân khu trưởng, trọng nhậm một cõi, nhưng cũng thăng giáng thất thường, nay đây mai đó.K. THAM LANG Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Thìn, Tuất: làm về võ nghiệp, thường nổi bật vì can đảm và tào bạo. Được giàu sang nếu buôn bán, cũng dễ thành công. Nên làm về nghề đi thầu, hay đại công tác
2. Tại Sửu, Mùi: đóng chung cùng Vũ. Dễ giàu có nhờ buôn bán hay kinh doanh. Chuyên về kinh tài, kỹ nghệ hay thương mại
3. Tại Dần, Thân: trung bình, công việc dễ trắc trở, đi làm đủ ăn, không giàu có được, phải phá cách đi buôn mới tốt, vì thuộc vòng sao Tử tướng lâm Thìn, Tuất
4. Tại Tỵ, Hợi: xem Liêm
5. Tại Mão, Dậu: Xem Tử
6. Tại Tí, Ngọ: kém, làm việc dễ tham ô, cần phải có sao Tuần thì tốt

L. PHÁ QUÂN Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Tí, ngọ: rất oanh liệt, ở Ngọ tốt hơn ở Tí, thường làm nổi việc khó khăn và thành công trong thời loạn. Nhưng cũng bộc phát bộc tàn. Ăn về hậu vận
2. Tại Thìn, Tuất: rất ích kỷ, thường lấn át người trên, dám liều và thành công vào phút chót. Thường vất vả vào ban đầu và từ đó làm giàu (bạch ốc phát công khanh).
3. Tại Sửu, Mùi: xem Tử
4. Tại Mão, Dậu: xem Liêm
5. Tại tỵ, Hợi: đóng chung cùng Vũ, thường làm việc thương mại hay kỹ nghệ. Công danh bất mãn, phải nghiêng về hai nghành trên mới thành công
6. Tại Dần, Thân: tại Dần tốt hơn tại Thân, đi buôn bán thì giàu, còn đi làm được bao nhiêu hao tán hết.

M. VŨ KHÚC Ở CUNG QUAN LỘC.

Vũ Khúc là sao võ, vừa chủ về uy quyền, vừa chủ về tài chánh, nên là sao rất mạnh và tốt.
1. Tại Thìn, Tuất: là cách Phượng Hoàng Dực Vũ, nếu thêm Văn Khúc thì văn võ kiêm toàn, hiển đạt về võ nghiệp, làm nổi tổng tư lệnh quân đội.
2. Tại Tí, Ngọ: xem Phủ.
3. Tại Dần, Thân: đóng cùng Thiên Tướng, rất dễ làm giàu, công danh hiển đạt.
4. Tại Sửu, Mùi: xem Tham.
5. Tại Mão, Dậu: xem Thất Sát.
6. Tại Tỵ, Hợi: xem Phá.

N. THIÊN TƯỚNG Ở CUNG QUAN LỘC:

1. Tại Sửu, Mùi: rất tốt, tài kiêm văn võ, có uy quyền, rất được kính nể.
2. Tại Tỵ, Hợi: như tại Sửu, Mùi. Vì căn bản Mệnh có Phủ chủ động nên đi buôn thì giàu.
3. Tại Mão, Dậu: kém hơn số 1 và 2 ở trên, vì gặp Liêm, Phá ở đối cung, dễ bị thăng giáng bất thường.
4. Tại Thìn, Tuất: xem Tử
5. Tại Tí, Ngọ: xem Liêm
6. Tại Dần, Thân: xem Vũ

O. CÁC CÁCH NHỎ PHỤ VÀO CHÍNH TRONG CÁC CUNG MỆNH, THÂN, QUAN, DI, TÀI VÀ PHU THÊ:

1. Cách Văn chương:
Âm Dương Khôi Việt – Xương khúc Tấu Thư – Khôi Việt Khoa tinh – Kình ngộ Văn Xương hội Tử Vi – Lương cư Hợi ngộ Khôi – Long Phượng Diêu Y Khôi Việt – Tử Vi ngộ Tấu Thư (Thần đồng phụ nhi)
Âm Dương hội Văn Xương – Hỏa Linh phùng Tuyệt, hội khoa tinh tại Hợi (Văn chương xuất chúng) – Hồng Hỷ Tấu Vũ Đào (cách ca sĩ, kịch sĩ, đào hát, minh tinh màn bạc)

2. Cách Thành Công:

Mã ngộ Tràng Sinh (làm ăn dễ dàng) tức Thanh Vân Đắc Lộ – Tả Hữu Hồng Đào ngộ Lộc (làm giàu dễ dàng) – Tử Vi ngộ Mã (ngựa kéo xe vua, dễ thành công) – Hổ hàm kiếm (Bạch Hổ đóng cung Dần ngộ Thiên Hình, mãnh liệt, bốc to)

Song long qua hải (Thanh Long, Long Đức ở Thìn, Tuất vượt bực) Khoa Quyền Khôi Việt (làm gì cũng thành) – Bạch Hổ Tấu Thư (may mắn lớn) – Bạch Hổ Phi Liêm (hổ có cánh, bốc nhanh) – Kiếp Không Tỵ Hợi ngộ Khoa Quyền (phát dã như lôi) – Tướng Phúc Hồng Đào (thiếu niên hiển đạt)

Hồng Loan Bát Toạ cư thân (Thân đóng cùng với Hồng Loan, Bát Toạ, thành công sớm) – Thanh Long Hóa Kị ngộ Lưu Hà hay Long Đức (Rồng gặp nước) tứ Linh chầu Mệnh, Thân (Long Mã Hổ Phượng, nếu thiếu con Linh nào có thể thay bằng Hoa Cái, thành công nhanh chóng, đắc lực ) – Tái Quản Lương Phá (Lưu Hà ngộ Phá Toái, bộc phát bộc tàn, cách này thường đi liền với tai nạn)
3. Cách về Chí Lớn:
Nhật Xuất Phù Tang (Nhật ở Mão) – Tử Vi tại Ngọ hội Quyền Khoa (chí cao tuyệt vời) – Tử Vi ngộ Thiên Hình hữu nhất Hóa (bất cứ có Hóa nào, dám làm mạnh, bất khuất) – Văn Hoa Hoè Quê cư tứ Mộ (Văn Khúc hội cùng Vũ khúc ở tứ Mộ, anh hùng cách)

4. Lấy vợ đẹp chồng sang:

Nguyệt ngộ Văn Xương (tiềm cung triết quệ) – Hồng ngộ Tử (gái tiến cung vua) đóng ở Phu Thê – Phượng Long Thai Toạ (ở cung Thê) – Tả Hữu Hồng Đào Nhật Nguyệt
5- Cách Đa Dâm:
Đào Riêu Hồng Hỷ – Cư Kị Hồng Đào Không Kiếp – Tham ngộ Đào Diêu Binh – Tham Kị Đào Hồng

6- Cách Giàu:

Lộc Mã tướng Ấn – Phú Vũ Lộc Tồn (đổi kim tích ngọc) – Cự Cơ Mão Dậu, Song Hào (chung thuỷ triệu dong, phú hữu lâu dài) – Thạch trung ẩn ngọc phú hữu lâu dài (Nhật ở Thìn, Cự Môn ở Tí, có Lộc Tồn)
7. Cách oai vệ, sang trọng:
Binh Hình Tướng Ấn (oai hùng, cung cơ) – Tiên Cái hậu Mã (phía trước có Hoa Cái, phía sau có Thiên Mã, Mệnh ở giữa) – Thái Toạ Quang Quí củng chiếu (đài các, bệ vệ) – Toạ Qui hướng Qui (hay tọa Khôi hướng Việt, hai sao Khôi Việt củng cố cho Mệnh, châu lẩn vào nhau)
Mộ chung Thai Toạ (Mộ đóng chung với Thai Toạ ở Sửu Mùi) – Giáp Long Giáp Hổ (Mênh ở giữa, nếu có chính tinh thuộc võ cách thì hợp) – Xuất Tướng nhập Tướng ( ệnh có một Tướng, các cung tam hợp hay xung chiếu có một Tướng nữa)

MỘT SỐ CÁCH KHÁC

Tuần Triệt án ngữ: Có nhiều sao tốt đẹp thì mới tốt đẹp nhiều, có nhiều sao mờ xấu thì mờ xấu nhiều. Riêng bộ sao Sát Phá, Liêm, Tham đắc địa cùng nhiều hung tinh đắc cách nếu có gặp Tuần Triệt, cũng không bị ảnh hưởng mấy. Nhưng Sát, Phá, Liêm, Tham hãm địa cùng nhiều hung sát tinh hãm địa, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ lại thành tốt

Vô chính diệu: Coi chính điệu của cung xung chiếu nhưng dù sao công danh cũng chỉ bình thường mà thôi. Nếu có Tuần Triệt án ngữ thì công danh hoạnh phát nhưng cũng chẳng được lâu bền nhưng có thêm Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu thì hoàn mỹ

Văn Xương, Văn Khúc, Khôi, Viêt: Có tài về văn chương, công danh hiển đạt. Có Khôi Việt thường được chỉ huy nhiều người dưới quyền
Cung Quan có Nhật Nguyệt miếu vượng thì giàu sang, có thêm Xương Khúc là có tài xuất chúng. Giáp Xương Khúc cũng vậy

Tả Phù, Hữu Bật: Cùng nhiều cát tinh là được nhiều người nâng đỡ, cùng nhiều sao mờ xấu thì mờ xấu thêm. Cung Quan ở Tứ Mộ có Tả Hữu thủ hay chiếu thì chóng được trọng quyền cao

Khoa, Quyền, Lộc, Lộc Tồn: Uy Quyền, tài lộc được tăng thêm
Long Trì, Phượng Cát hay giáp Long Phượng: Công danh hoạnh phát
Ân Quang, Thiên Quý (nhất là tại Sửu Mùi): cũng hiển đạt.
Thiên Mã: Có nhiều tài năng (Mã Ngộ Khốc Khách: có tài thao lược, danh chức lớn lao ; Lộc Mã: có nhiều tài lộc)

Thiên Hình: đắc địa là hiển đạt về võ nghiệp, mờ ám là gặp tai họa trên đường công danh
Hồng, Đào, Thiên Hỉ, hay Tam Thai, Bát Tọa: Đường công danh nhẹ bước
Thiên Khốc, Thiên Hư tại Tí Ngọ: Có danh tiếng lừng lẫy
Sát Tinh (Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp): Những sát tinh này sáng sủa tốt đẹp chỉ thích hợp với nhóm Sát, Phá, Tham Liêm cũng sáng sủa tốt đẹp khi đó thì công danh hoạnh phát. Ngoài ra những chính điệu khác dù sáng sủa, cũng bị lấn át khiến thành bất lực dẫn đến công danh trắc trở, tầm thường. Tất cả những chính điệu hãm địa gặp sát tinh đắc địa đều bị lấn át mạnh hơn. Những sát tinh trên nếu hãm địa đều không thích hợp với tất cả các chính điệu, ngoại trừ Thiên Tướng và Vũ Khúc vì hai sao này có thể chế được tính hung hãn của các sát tinh. Những chính điệu khác nếu sáng sủa tốt đẹp thì đỡ bị sát tinh hãm địa lấn át

Thái Tuế, Hóa Kị: Công danh trắc trở, hay bị tranh chấp hoặc gièm pha

Đồng ngộ Kình tại Ngọ: Người anh hùng có danh tiếng
Cự hay Vũ ngộ Quyền, Song Hao tại Mão Dậu: Phát lớn về võ nghiệp (Chú ý là cung Quan Lộc rất kị gặp Song Hao hãm địa)
Sát Ngộ Quyền tại Dần Thân: Quý hiển, có nhiều uy quyền.
Lưỡng Phá đồng cung (Phá Quân, Phá Toái): Võ chức dũng cảm, có uy quyền

Xương, Khúc, Long, Phượng, Tấu hay Cơ, Vũ, Hồng, Đào, Riêu, Tấu Thư: Người chuyên về ca, vũ, nhạc
Tả, Hữu, Quang, Quý, Quan Phúc: làm thầy thuốc thì cứu nhân, độ thế
Cơ cùng Hồng: Thợ dệt, thợ thêu hay thợ may
Cơ ngộ Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các: thợ vẽ hay họa sĩ
Phá Quân hội Kình, Linh, Hao: Người cùng khổ phải đi hành khất (mệnh có nhiều cát tinh đỡ hơn)

CÁCH NGHỀ NGHIỆP

1. THƯƠNG GIA:

Mệnh có Tử Phủ hay Cự, Nhật là người ngay thẳng không ham lợi, không tính toán thiệt hơn, nên không buôn bán được
Mệnh có một trong các chính diệu Tham, Sát (Thất Sát), Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương tốt đẹp tọa thủ là người ham lợi lộc, có óc ganh đua, có xu hướng về thương mại
Mệnh có Tử ,Phủ, Vũ, Tướng hoặc Phá gặp Kình đồng cung thì không thích công danh, chỉ ham buôn bán
Mệnh có Vũ miếu, vượng hay đắc địa thì thích đi buôn
Mệnh có Cự hội Lộc, Tuế thì đi buôn được giàu có
Mệnh có Đồng, Lương hội Khôi, Quyền, Song Lộc, Đinh, Kị là người có tài về thương mại, mau giàu có
Mệnh có Sát ,Phá, Liêm Tham thủ chiếu gặp Tả, Hữu và nhiều sát tinh đắc địa: buôn bán, trước còn có lần thất bại, sau được giàu có

2. CÔNG KỸ NGHỆ GIA:

Mệnh có Tham Vũ tọa thủ hội Sát, Kình: Sáng dạ và khéo tay, có xu hướng về công kỹ nghệ.
Mệnh có Phá hội Hỏa, Việt tại Dần,Thân hoặc có Vũ, Phá, hội Xương Khúc thì khéo tay, giỏi về kỹ nghệ máy móc.
Mệnh có Cơ sáng sủa hội Tả, Hữu, Hình, Linh, Hỏa nên chuyên về thủ công hay kỹ nghệ máy móc
Mệnh tại Ngọ có Đồng, Nguyệt hội sát tinh là người chuyên về công kỹ nghệ (hay đi buôn)
Tướng miếu, vượng hội Kình, Đà là kỹ nghệ gia, giàu có
Mệnh có Liêm, Phá tọa thủ đồng cung là thợ chế tạo những dụng cụ tinh xảo
Sát hãm địa hội Tả, Hữu, Long, Phượng, Quang, Quý là thợ kim hòan
Vũ hội Hình, Riêu, Tấu là thợ mộc khéo
Cơ hãm địa hội Long, Phượng, Đà, Hình là thợ mộc. Nếu thêm Đào, Hồng là thợ trạm, thợ vẽ giỏi
Cơ hội Đồng, Tấu là thợ may, thợ thêu
Mệnh có Liêm, Tham tọa thủ đồng cung hội nhiều sát tinh là người thợ rèn hay đồ tể
Mệnh có Mộc dục là người có xu hướng làm nghề kim hoàn hoặc thợ rèn
Phụ chú: Mệnh hay Thân, hay Quan lộc có những cách trên, càng nhiều sao tốt đẹp thì nghề nghiệp càng thịnh vượng

3. VĂN CHỨC:
Các cung Mệnh, Thân và Quan Lộc cần có Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc hội họp. Nếu có nhiều văn tinh hội cùng cát tinh thì danh tiếng lừng lẫy

4. VŨ CHỨC:
Các cung Mệnh, Thân Quan Lộc, có Sát, Phá, Tham, Liêm, Vũ, Tướng thủ chiếu, gặp Sát tinh đắc địa, cùng Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Binh, Hình, Tướng, Ấn hội họp. Nếu hội nhiều sao sáng sủa tốt đẹp thì rất quý hiển. Còn nếu có Hóa Quyền thì được nhiều người tín phục
Có những cách sau đây thì phát về võ nghiệp:
Thất Sát, Thiên Hình đắc địa đồng cung
Phá, Kình đắc địa đồng cung tại Thìn Tuất
Đồng Nguyệt, Kình hay Tham đồng cung tại Ngọ
Tham, Linh đồng cung

5. VĂN NGHỆ SĨ:
Cơ, Nguỵêt, Đồng , Lương hội Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Tấu: nhà báo, nhà văn
Cơ hội Hồng, Đào, Hỉ, Tấu: ca sĩ, nhạc sĩ
Sát, Phá, Liêm, Tham hội Hồng, Đào, Long, Phượng, Tấu: họa sĩ

6. CÁC NGHỀ KHÁC:
Giáo sư: Lương hội Tả, Hữu, Xương, Khúc, Tuế
Luật sư hay Quan tòa: Mệnh có Tuế, Kình hội Xương, Khúc hay Cự hội Hổ, Tuế, Phu
Y sĩ, Bác Sĩ: Tử, Phủ hay Đồng, Lương hội Thiên Y, Thiên Quan, Thiên Phúc hay Cơ hay Lương hội Tả, Hữu, Lộc, Hình, Y, Quang Quý

7. TU HÀNH:
Tử, Tham tọa thủ đồng cung ngộ Không, Kiếp
Phủ tọa thủ ngộ Tam Không
Mệnh vô chính diệu gặp sát tinh
Thiên Không, Hồng loan tọa thủ đồng cung.

- Advertisement -