34.3 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 54

SỐ KHÔNG VỢ – KHÔNG CHỒNG TRONG TỬ VI

0

Số Không vợ – Không chồng trong Tử vi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Kể là họa đối với những người mong muốn có một gia đình theo đúng nghĩa – Ví như gái háo hức tìm chồng mà không ai để ý , phải cam chịu quá lứa lỡ thì , nam nôn nao kiếm vợ nhưng không ai ưng thuận . Đối với cả Nam và Nữ trong trường hợp này phải ngầm hiểu họ sống độc thân theo nghĩa đen , có nghĩa là một mình thực sự chứ không phải là sống bán chính thức ,hay nhất thời với ai khác … mà chỉ có “ một mảnh tình riêng ta với ta “ mà thôi . Thử xem những trường hợp như thế có những lá số thế nào
– Cung Phúc có những chính tinh hãm địa , đi chung với những sao tình duyên bị sát tih xâm phạm
– Cung Phu thê cũng gặp phải nghịch cảnh này , nhất là gặp sát tinh tọa thủ đồng cung với những sao tình duyên hoặc là được các sao tình duyên hội chiếu vào sát tinh tọa thủ ở Phu – Thê . Càng có nhiều sát tinh , nhất là sát tinh hạng nặng tọa thủ hay hợp chiếu thì cơ hội càng giảm . Sự hội ngộ giữa sao tình duyên và sát tinh có nghĩa là tình duyên bế tắc , bị hỏng ngay từ khi dự định ,không gặp may trong tình duyên . Ngoài ra hai sao Tuần – Triệt ở Phu Thê nhất là Tuần Triệt đồng cung cũng góp phần xác định ý nghĩa này
– Nếu cả Phúc lẫn Phu Thê đồng thời gặp nghịch cảnh này thì dễ đoán là vô gia đình . Nên chỉ một cung gặp phải thì khi luận độ chính xác không cao . Riêng đối với Nữ , riêng cung Phu bị nghịch cảnh đó thì dễ kết luận là không hơn là Nam bởi lẽ cung Phu là cung cưỡng của phái Nữ
– Cho dù Mệnh – Thân khá mà hai cung Phúc – Phu Thê bị phạm nặng cũng khó với lại được
– Nếu Mệnh Thân có hao bại tình ( Tang , Hổ , Cô , Quả ,Đẩu , Quân , Khốc , Hư ,Đại Tiểu Hao ) thì phải xem đó là điều bổ túc để đoán độc thân là bắt buộc
– Cung Tử tức có nhiều sao hiếm muộn , tuyệt tự , lập tự . trường hợp này điển hình và chính xác
– Vòng đại hạn theo chiều thuận – 10 năm đầu ở Mệnh , 10 năm thứ 2 ở Phụ , thứ ba ở Phúc , thứ tư ở Điền càng ngày càng xa cung Phu – Thê . Nếu theo chiều nghịch , phải có thập niên vào cung Phu Thê (32 cho Thủy nhị cục , 33 cho Mộc tam cục ,34 cho Kim tứ cục , 35 cho Thổ ngũ cục , 36 cho Hỏa lục cục . Trong chiều nghịch này , vấn đề gia đạo dễ xảy ra hơn vào thập niên 32 trở đi đó là cung Phu Thê trấn ngự , ngụ ý là có sự chi phối khá mạnh , và sự thúc đẩy khá lớn . Nếu thập niên 32 , 33 , 34 ,35 , 36 đóng ở Phu Thê mà gặp nghịch cảnh trên thì gia đạo khó thành
– Sự lạc vị của những sao tình duyên . Sự hợp thành vợ chồng rất cần những sao tình duyên ở đúng chỗ cần thiết của nó . Những sao này ở vào Mệnh , Thân , Phu Thê mà không gặp sát tinh thì dễ có gia đình . Trái lại các sao đó ở Tật , Bào , Phụ , Điền thì cái duyên bị đặt sai chỗ không lợi cho sự sum họp
Xem gái lỡ trà , trai muộn rất khó , sự đoán giải dễ sai lạc vì những trường hợp này rất hiếm trong xã hội ngày nay – Nữ thì rơi vào lẽ mọn chồng chung còn hơn là ở vậy . Nam thì dễ hơn rất nhiều , trừ phi “lực bất tòng tâm

KINH NGHIỆM : GIẢI ĐOÁN CUNG PHU-THÊ

0

Kinh nghiệm : Giải đoán cung Phu-Thê

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

  • Phải xem Mệnh, Thân, Phúc.
  • Ảnh hưởng Chính tinh, Trung tinh, Sát tinh.
  • Trường hợp phải lập gia đình trễ mới tốt.
  • Thân cư Thê là thế nào ?
  • Lá số sợ vợ.

Về cung Phu Thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, thanh cao nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú …

I- Xem Phu Thê phải xét Mệnh, Thân Phúc

Các sự kiện trong cung Phu-Thê mà nhà thuật số có thể cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người :

  1. Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở ?.
  2. Có sự hình khắc, tử biệt sinh ly không?
  3. Có xung khắc nhau không ( những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già ?
  4. Có mấy đời vợ chồng ? Đàn ông có mấy vợ không ?
  5. Vợ hay chồng có tốt không ? (Vợ đẹp, ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện … )

Muốn biết đại cương cung Phu-Thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem cung Mệnh, Thân và Phúc Đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc Đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, tất cả được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào Phu-Thê (đó là chưa kể rằng cung Phu-Thê thuộc nhóm cung Mệnh Thân, và có các cung Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di chiếu tới)

Nếu cung Phu Thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu Cung Phu Thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc Đức lại xấu, thì những cái tốt của cung Phu-Thê cũng phải giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu-Thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt , thì cũng Phu-Thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ tuổi 30 trở ra; đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu cảnh xung khắc rồi phải … ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt; lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp)

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc Đức mới giải đoán được đúng cung Phu-Thê.

II-Ảnh hưởng Chính tinh

Quý vị có thể coi các sách Tử-vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những Chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh (nhớ xét đến Ngũ hành của bản Mệnh và Thân với các Chính tinh và trung tinh). Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu-Thê :

  • Tử-vi tại Ngọ : Hòa hợp đến già, khá giả
  • Tư-Phủ đồng cung : Hòa hợp đến già, khá giả
  • Tử-Tướng đồng cung : Cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.
  • Từ-Sát đồng cung : Tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.
  • Tử-Phá đồng cung :Hình khắc hoặc kém thuận hòa.
  • Tử-Tham đồng cung :Thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.
  • Liêm Trinh đơn thủ tại Dần Thân: Mấy lần lập gia đình.
  • Liêm-Phủ đồng cung : Trễ mới tốt, chung sống tốt, khá giả.
  • Liêm-Tướng đồng cung : Bất hòa.
  • Liêm-Sát đồng cung : Hình khắc muộn mới tốt.
  • Liêm-Phá đồng cung : Bất hòa.
  • Liêm-Tham đồng cung : Xung khắc.
  • Thiên Đồng tại Mão : Trễ mới tốt.
  • Thiên Đồng tại Dậu : Bất hòa.
  • Thiên Đồng tại Tí dễ gần, dễ xa.
  • Thiên Đồng tại Thìn Tuất : Xung khắc.
  • Đồng Lương đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
  • Đồng, Nguyệt tại Tí đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
  • Đồng, Nguyệt tại Ngọ : trễ mới tốt.
  • Đồng Cự : Xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.
  • Vũ Khúc tại Thìn Tuất : Trễ mới tốt
  • Vũ Phủ đồng cung : Có bất hòa, nhưng khá giả đến già.
  • Vũ Tường đồng cung : Vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến gi�
  • Vũ Tham đồng cung : Trễ mới tốt.
  • Vũ Phá đồng cung : Giỏi, trễ mới tốt
  • Vũ Sát đồng cung : Hình khắc, dễ xa nhau.
  • Thái Dương sáng : Hòa hợp, khá giả đến già.
  • Thái Dương tối : Cưới xin trắc trở , trễ mới tốt.
  • Nhật-Cự đồng cung tại Dần : Bất hòa nhưng chung sống đến già.
  • Nhật-Cự đồng cung tại Thân : Trễ mới tốt.
  • Nhật-Nguyệt đồng cung : Khá giả, nhưng trễ mới tốt.
  • Thiên Cơ ở Tỵ, Ngọ, Mùi :Thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau
  • Thiên Cơ ở Hợi, Tí, Sửu : Trễ mới tốt.
  • Cơ Lương đồng cung : Lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.
  • Cơ Cự đồng cung : Người xứng đáng, trễ mới tốt.
  • Cơ nguyệt đồng cung ở Thân : Người xứng đáng, cưới sớm.
  • Cơ nguyệt đồng cung ở Dần :Hay khó khăn, trễ mới tốt.
  • Thiên Phủ ở Tỵ, Hợi : Khá giả, hòa thuận đến già.
  • Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu : Khá giả và chung sống đến già tuy hay cãi nhau.
  • Thái Âm sáng : Khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.
  • Thái Âm tối : Bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.
  • Tham Lang tại Thìn, Tuất, Tí, Ngọ : Tốt, nhưng hay ghen. Trễ mới tốt.
  • Cự Môn tại Tí, Ngọ, Hợi : Khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.
  • Cự Môn tại Thìn, Tuất, Tỵ : Xung khắc, hay bỏ nhau.
  • Thiên Tướng : Trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.
  • Thiên Lương Tí Ngọ :Vợ đẹp, chồng sang, khá giả.
  • Thất Sát : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.
  • Phá Quân : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

III- Ành hưởng của Trung Tinh và Hung Tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự thuận hòa : Xương, Khúc, Khôi, Việt.

Sát Tinh (Không-Kiếp, Kình-Đà, Linh-Hỏa) : miếu vượng, thì chủ bất hòa, hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại , người hôn phối xấu xa, bậy bạ … Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác :

  • Tả-Hữu : Tăng ảnh hưởng cho sao tốt hoặc cho sao xấu.
  • Hóa Lộc : hôn phối giàu.
  • Hóa Quyền : Vợ lấn quyền, chồng sang.
  • Hóa Khoa : Hôn phối có học, có chức.
  • Hóa Kị : Bất hòa.
  • Lộc Tồn, Cô-Quả : Nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.
  • Thiên Mã : Nên duyên ở nơi xa.
  • Phục Binh : Đi lại với nhau rồi mới cưới.
  • Tướng Quân : Đi lại trước, cưới sau.
  • Ân Quang, Thiên Quý :Vì ân tình mà lấy nhau.
  • Song Hao : Cưới dễ hoang tòan.
  • Cô, Quả : Bất hòa, hay xa cách.
  • Đào, Hồng : Cưới xin dễ dàng, nhưng nếu Đào Hồng hãm : hình khắc chia ly.
  • Thiên Diêu : Hoang dâm, bất chính.
  • TUẦN-TRIỆT : Trễ mới tốt (để khỏi bị hinh khắc)

IV- Ảnh hưởng Chính Tinh so với Trung Tinh

Trong cung Phu-Thê, có cả chính tinh và trung tinh gặo nhau thì ảnh hưởng của Chính tinh mạnh hay ảnh hưởng Trung tinh mạnh ?

Xin thưa : Ảnh hưởng Chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng Trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp Trung tinh xấu, thì cái tốt chỉ giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ
cái tốt chưa có

Tuy nhiên có nhưng cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưỡng nhất định, hoặc có những Trung tinh, hung sát tinh mạnh thì ảnh hưởng có khi lấn át cả Chính tinh.

V- VÀI DỮ KIỆN THÍ DỤ

– Phu-Thê có Cô-Quả, Đào-Hồng hãm, Tả Hữu, Không -Kiếp là báo hiệu sự hình khắc, chia ly.

– Lộc Tồn, Vũ Khúc, Cự Kị cũng thường báo hiệu sự chia ly.

– Một người có Tử-Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận từ 30 tuổi trở ra), tốt thì lại dở. Người đó lập gia đình muộn,từ năm 35 tuổi trở đi, được tốt.

Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh nêu ở trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

Xem vợ bé, phải xét cung Nô.

Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả-Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

– Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

Một người Mệnh có Liêm Trinh đắc địa, Thiên Không, Hồng Loan tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi , là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng… lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu hoặc gặp trường hợp đặc biệt (!?) , thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn , phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

VI- Hạn lấy vợ, lấy chồng

Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (như chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài ….) có thể làm lệch số mạng chăng ? Cũng không hẳn thế, là vỉ có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

Vậy chăng. số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm nay thì qua năm khác.Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm thì hôn nhân.

Sau đây là nhưng vận hôn nhân :

  • Đại Tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu hay Thê (Đại Hạn ở Thê cung. Tiểu hạn cũng vào cung đó.
  • Hạn có Nhật-Nguyệt chiếu.
  • Hạn có Đào Hồng Hỉ .
  • Hạn có Sát, Phá , Liêm, Tham …..

Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả Đại hạn và Tiểu hạn. Đại hạn có cách báo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

VII- Trường hợp Thân Cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ , hay nói cho nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

– Thân cư Thê : Không phải là sợ Vợ.

– Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, Cung Thê hay Phu mà xấu thì nhờ được nỗi gì đây? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì ? Có nghĩa là cuộc đời của đương số chịu ảnh hưởng liền vào với vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thì rời ra không được. Một Ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được một bà xã rất tháo vác, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành :

  • Thiên Tướng, Quốc Ấn (mạnh)
  • Tướng Quấn, Quốc Ấn (mạnh vừa)
  • Hóa Quyền
  • Khôi, Việt.
  • Tử-vi, Tả, Hữu.
  • Thiên Phủ, Tả Hữu …

LUẬN CUNG PHU THÊ TRONG LÁ SỐ TỬ VI

0

Luận cung Phu thê trong lá số tử vi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Xem cung Phu thê để biết những điều liên quan đến hai vợ chồng : hòa hợp hay bất hòa, có cùng nhau chung sống lâu dài hay sớm khắc nhau và trong gia đình làm ăn thế nào.
Cung Thê Thiếp hay Phu Quân cũng còn tùy thuộc vào những cung Phúc Đức, Mệnh và Thân. Những cung này tốt thì dù cùng Thê Thiếp hay Phu Quân có xấu cũng đỡ xấu. Trái lại, những cung ấy xấu thì dù cung Thê Thiếp hay Phu Quân có tốt cũng chẳng ra gì.Muốn biết những điều liên quan đến vợ nhỏ thì coi cung Nô bộc .

1- Tử Vi :Đơn thủ tại Ngọ : gia đình thịnh vượng, giàu sang, vợ chồng hòa hợp-Đơn thủ tại Tí : cũng tương tự tại Ngọ nhưng kém. Phủ đồng cung : gia đình thịnh vượng, quý hiển, vợ chồng hòa hợp, bách niên giai lão-Tứong đồng cung : vợ chồng giàu sang nhưng hay bất hòa, hình khắc hay sinh ly- Sát đồng cung : vợ chồng quý hiển, không hợp tính nhau, nhưng chung sống cùng nhau đến bạc đầu- Phá đồng cung : vợ chồng khá giả, hợp tính nhưng phải hình khắc hay chia ly- Tam đồng cung : gia đình bình thường, vợ chồng hợp tính, nhưng khắc nhau (ở Dậu đỡ khắc)

2- Thiên Phủ –Đơn thủ tại Tỵ, Hợi, Mùi. Vợ chồng giàu có , hòa thuận, bách niên giai lão-Đơn thủ tại Mão, Dậu,Sửu : vợ chồng khá giả, cùng nhau chung sống đến già.-Tử Vi đồng cung : coi Tử Vi. Vũ khúc đồng cung : vợ chồng giàu có, không hợp tính, nhưng cùng nhau sum họp đến bạc đầu-Liêm trinh đồng cung : gia đình thịnh vượng, giàu sang, vợ chồng không hợp tính nhau nhưng bách niên giai lão.

3- Vũ Khúc : Đơn thủ tại Thìn, Tuất : gia đình giàu sang thịnh vượng, vợ chồng đều sống lâu –Phủ đồng cung : coi Thiên phủ-Tứong đồng cung : vợ chồng quý hiển, hòa thuận, cùng nhau sống trong hạnh phúc-Sát đồng cung : vợ chồng khá giả, hợp tính, nhưng hay gặp tai họa, hình khắc nhau.-Phá đồng cung : gia đình nghèo khổ, thiếu hòa khí, nhưng vợ chồng vẫn sum họp lâu dài- Tham đồng cung : gia đình khá giả, thiếu hòa khí, nhưng vợ chồng vẫn chung sống.

4- Thiên Tứơng : Đơn thủ tại Tỵ, Hợi, Sửu,Mùi : vợ chồng khá giả, hòa thuận, sống lâu-Đơn thủ tại Mão Dậu; vợ chồng làm ăn bình thường, hòa thuận, sống lâu.Tử vi đồng cung : coi Tử Vi-Vũ Khúc đồng cung : coi Vũ Khúc-Liêm Trinh đồng cung : vợ chồng giàu sang, hòa thuận, nhưng hình khắc nhau (tại Ngọ thì đỡ khắc).

5- Thái Dương : Đơn thủ tại Thìn, Tỵ, Ngọ : vợ chồng quý hiển, chung sống đến bạc đầu. –Đơn thủ tại Tuất, Hợi, Tí –vợ chồng làm ăn bình thường, hay có sự bất hòa-Lương đồng cung tại Mão vợ chồng giàu sang, chung hưởng hạnh phúc(Tại Dần tốt hơn tại Thân ). Nguyệt đồng cung : vợ chồng giàu sang, sống lâu.

6- Cự Môn : Đơn thủ tại Tí, Ngọ, Hợi :vợ chồng qúy hiển, phúc thọ –Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tỵ :vợ chồng nghèo, hay bất hòa, xung khắc-Thái Dương đồng cung :coi Thái Dương-Thiên cơ đồng cung : vợ chồng khôn ngoan, giàu sang, hay xích mích, nhưng vẫn cùng chung sống-Thiên đồng đồng cung: vợ chồng làm ăn kém cỏi, hợp nhau.

7- Thiên Cơ : Đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi : vợ chồng giỏi giang, chung hưởng hạnh phúc-Nguyệt đồng cung tại Dần; vợ chồng kém cỏi nhưng cũng hợp nhau-Lương đồng cung vợ chồng quý hiển, gia đình ngày càng thịnh vượng, đôi khi có sự xích mích.

8- Thái Âm : Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi : Thiên đồng đồng cung tại Tí : vợ chồng giàu sang, bách niên giai lão-Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ : Thiên đồng đồng cung tại Ngọ :vợ chồng xoáng, hay bãi hòa-.Thái dương đồng cung : coi Thái Dương-Thiên cơ đồng cung :coi Thiên Cơ.

9- Thiên Đồng : Đơn thủ tại Mão : vợ chồng hiền hậu, làm ăn thinh vượng : sống lâu- Đơn thủ tại Dậu, Thìn, Tuất vợ chồng cũng hiền lành, nhưng làm ăn chẳng khá giả, hay gặp rủi ro.-Đơn thủ tại Tỵ, Hợi :vợ chồng hiền lành, khá giả, làm ăn thất thường-Cự đồng cung :coi Cự Môn-Nguỵệt đồng cung :coi Thái âm- Lương đồng cung : vợ chồng đẹp đôi, giàu sang, chung sống đến bạc đầu.

10- Thiên Lương : Đơn thủ tại Tí, Ngọ, Sửu, Mùi: vợ chồng đẹp đôi, qúy hiển, được hưởng phúc thọ, -Đơn thủ tại Tỵ, Hợi : vợ chồng hiền lành, làm ăn thất thường- Nhật đồng cung : coi Thái Dương.-Cơ đồng cung : coi Thiên cơ,-Đồng đồng cung : coi Thiên đồng.

11- Thất Sát : Đơn thủ tại Tí, Ngọ, Dần, Thân : vợ chồng danh giá, hay xích mich.-Đơn thủ tại Thìn, Tuất, vợ chồng khó sống chung hay gặp tai họa, làm ăn khó khăn. –Tử vi đồng cung : coi Tử Vi-Vũ Khúc đồng cung : coi Vũ Khúc

12- Phá Quân : Đơn thủ tại Tí, Ngọ, Thìn, Tuất:vợ chồng khá giả, nhưng hay có sự xích mích-Đơn thủ tại Dần, Thân :gia đình suy bại, vợ chồng bất hòa, hình khắc (Có Phá Quân ở cung Phụ là gái lấy chồng bất nghĩa). –Tử vi đồng cung : coi Tử vi-Vũ Khúc đồng cung coi Vũ Khúc- Liêm trinh đồng cung : vợ chồng làm ăn khó khăn, bất hòa, xung khắc.

13- Liêm Trinh : Đơn thủ tại Dần Thân : vợ chồng nghèo, làm ăn khó khăn-Phủ đồng cung :coi Thiên phủ-. Tướng đồng cung : coi Thiên Tướng-Sát đồng cung :coi Thất Sát.-Phá đồng cung : coi Phá Quân-Tham đồng cung: vợ chồng nghèo khổ, bất hòa, hay gặp tai nạn, tử biệt, hoặc sinh ly.(Có Tham lang thì chồng hay vợ là con trưởng.)

14- Tham Lang : Đơn thủ tại Thìn, Tuất :vợ chồng giàu sang, nhưng hay chơi bời; gia đình thiếu hòa khí. –Đơn thủ tại Tí, Ngọ. Dần, Thân : vợ chồng nghèo khổ hay làm điều càn bậy, hay gặp tai họa, bị hình khắc-Tử vi đồng cung : coi Tử Vi-Vũ Khúc đồng cung : coi Vũ Khúc-Liêm trinh đồng cung : coi Liêm Trinh.

15- Tuần Triệt án ngữ : Vợ chồng khó chung sống phải hình khắc, hoặc chia ly.

16- Vô chính diệu : coi chính diệu cung xung chiếu

17- Hóa lộc, Lộc tồn : vợ hay chồng giàu có.

18- Hóa khoa, Hóa quyền : vợ hay chồng là ngừơi có chức có quyền, danh giá.- Cung Thê có Hóa quyền thì chồng nể vợ.

19- Hóa lộc, Hóa quyển ( ở Thê thiếp) nhờ vợ mà giàu có.

20- Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt :Trai lấy vợ đẹp, có học thức, gái lấy chồng có danh chức, sang trọng. Khôi hay Việt thì chồng hay vợ là con trưởng.

21- Tả Phù, Hữu bật : Vợ chồng cưới xin dễ dàng, biết giúp đỡ nhau. Cùng nhiều sao xấu thì dễ chia ly, hình khắc.

22- Long Trì, Phượng Các : vợ chồng đẹp đôi, danh giá.

23- Hồng Loan, Đào Hoa : trai lấy vợ đẹp, gái lấy chồng xinh trai.

24- Hồng Loan, Đào Hoa, Địa Kiếp : vợ hay chồng dễ bị hình khắc (mệnh tốt thì không sao).

25- Hồng Loan, Đào Hoa, Lộc Tồn : vợ chồng đoan chính (vì Lộc Tồn triệt tiêu được tính hoa nguyệt của Đào Hồng).

26- Đào, Hồng, Tả, Hữu : trai lấy nhiều vợ. Gái hay bỏ chồng, lấy chồng khác. ( Long Phượng, Tả, Hữu cũng vậy)

27- Đào Hoa, Thai đồng cung : Trai gái ăn ở với nhau rồi mới cưới hỏi.

28- Đào Riêu hay Mộc Cái : vợ hay chồng là người dâm đãng.

29- Hồng Loan, Hóa Kị : vợ chồng bỏ nhau.

30- Đào,Hồng ,Phượng Các, Hoa Cái (cung Thê) ; chồng những muốn bỏ vợ.

31- Nguyệt đức, Đào hoa hay Tham Lang : trai xinh gái đẹp lấy nhau.

32- Đào, Hồng, Thiên Hình (ở Cung Thê) : vợ là người đoan chính.

33- Hồng Loan (ở cung Phu) : chồng có nhiều vợ.- Gặp Tứ sát là số khóc chồng (Cung Phu ở Tứ Mộ có Hồng Loan cũng vậy).

34- Hồng Loan (ở cung Thê) :khắc vợ.

35- Sát tinh (Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp) : gặp nhiều sao xấu thì càng xấu : bất nhân, bất nghĩa, tài họa, bỏ nhau hoặc hình khắc.

36- Tang môn, Bạch hổ, Đại Tiểu Hao : tình duyên trắc trở.

37- Kình, Đà, Kị cùng Nhật Nguyệt hãm : vợ chồng hại nhau, xa cách nhau.

38- Phục Binh, Hóa Kị : vợ chồng hay oán ghét nhau.

39- Thiên Mã, Đào Hoa : lấy nhau vì tình ái, không cần mai mối.

40- Thiên Mã, Tuần Triệt (Thê cung) : vợ bỏ chồng trốn đi

41-Thiên Mã cùng một trong Tứ Không (Thê cung) : vợ là người trắc nết, quen thói bướm ong.

42- Thiên hư : vợ chồng bất chính.

43- Hữu bật (ở cung Phu) : là vợ nhỏ, cùng Đẩu Quân là vợ cả nhưng bị cô đơn.

44- Cô Thần, Thiên Hình : vợ chồng phải xa cách nhau.

45– Lương hay Tướng, Khôi, Việt : vợ chồng là con dòng, cháu giống.

46- Thái âm miếu vượng (Thê cung) : vợ là con nhà đài các.

47- Tham lang (ở cung Phu) : Mệnh có chính điệu là vợ lớn, vô chính diệu là vợ nhỏ.

48- Tham lang, Đà la (cung Phu) : chồng rượu chè, trai gái.

49- Phá Quân, Không : nhân duyên trắc trở.

50- Phá Quân, Hình, Binh, Riêu : vợ chồng ghen tuông đến giết nhau.

51-Thất sát, Kình, Hình, Riêu : cũng như trên.

CUNG PHU THÊ

0

Cung Phu Thê

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

(1) Cung Phu Thê có cát tinh miếu vượng thủ chiếu, như Tử Vi, Thiên Phủ, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Dương, Thái Âm, Lộc Tồn… chủ vợ chồng hòa hợp; nếu có các ác tinh như Vũ Khúc, Liêm Trinh, Cự Môn, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ vợ chồng bất hòa.(2) Các sao nếu như đồng thủ với các sao ác Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hình Kị hoặc Không vong, người khắc càng khắc, người không khắc thì chủ sinh ly hoặc thiếu hòa khí.

(3) Các ác tinh thủ chiếu cung phu Thê, nếu được nhiều cát tinh củng chiếu hay hội chiếu ở tam phương tứ chính, thì người khắc nặng có thể giảm nhẹ, người khắc nhẹ có thể chủ không khắc.

(4) Phán đoán sự tồn xấu của tình yêu, hôn nhân, ngoài quan sát cung Phu Thê ra, cần phải căn cứ vào đối cung và tam hợp cung của cung Phu Thê.

(5) Người đã kết hôn, ngoài sự tốt xấu của bản thân cung Phu Thê và cung đối, tam hợp cung của nó, tốt nhất cần xem lá số của người phối ngẫu, tổng hợp để phán đoán.

(6) Cũng có những người cung phu thê có cát tinh, không có ác tinh, không sát tinh, nhưng hôn nhân không hoàn mỹ, tất là người mà cung mệnh có các sao bất lợi cho hôn nhân. Như Sát, Phá, Tham, Liêm, Vũ, Cự, tứ sát, Không Kiếp, Hóa Kị ở mệnh, có nhiều sát tinh, đào hoa tinh đồng cung hội chiếu, dù cung phu thê có cát tinh tọa thủ, cũng không luận là mỹ mãn. Hoặc sao ở cung mệnh hãm địa hội sát tinh, tam hợp không tốt, tuy lấy được chồng như ý hay hai người không môn đăng hộ đối mà cuối cùng dẫn đến cảnh sinh ly.

(7) Cần chú ý đến sự khác biệt giữa một quần thể và một tập thể khác, như ở vùng núi xa xôi, cảnh ngoại tình, ly hôn là cực kì ít, nhưng ở các thành phố lớn có nền kinh tế phát triển, tỉ lệ ly hôn cao hơn một cách rõ rệt. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội, tỉ lệ hôn nhân tan vỡ đương nhiên cũng dần dần gia tăng, ở những nơi trình độ văn hóa càng cao, thì số người ly hon cũng càng cao. Những quần thể khác nhau như giới văn nghệ, chính trị, thương nhân… thì tiêu chuẩn đánh giá phải linh hoạt. Vì vậy người luận cần phải căn cứ vào đặc điểm địa lý khu vực, chủng tộc, tập quán văn hóa… để luận. Đây không chỉ là về phương diện hôn nhân.

(8) Đẩu Quân ở nguyên bàn qua cung cung Phu Thê, nếu gặp nhiều cát tinh chiếu đến thì chủ quan hệ vợ chồng có một năm tốt đẹp hòa thuận, không tai nạn không khắc; nếu hội các ác tinh thì chủ phối ngẫu hay người yêu có tai ách, cũng hình khắc, bất hòa. Đương số nếu hôn nhân không tốt, năm đó e rằng có hình thương, phân ly, đương số nếu vợ chồng không khắc, thì năm đố phối ngỗi có tai nạn.

Tử Vi

Người phối ngẫu tính cương, có dục vọng thống trị, hội sát tinh, ở nhà bá đạo, thiếu giao lưu tình cảm, nhất định phải kết hôn muộn, thì đôi bên mới sống với nhau đến già. Hội Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, chủ khắc, nếu kết hôn muộn có thể tránh khắc.

Tử Vi ở Tí Ngọ độc thủ, phối ngẫu đa phần lớn tuổi hơn mình, ở Ngọ cũng chủ kết hôn muộn. Không hội sát tinh, chủ hiền lương, đoan trang, xinh đẹp, sống với nhau đến già.

Hội một trong tứ sát Kình Dương Hỏa Linh, tất ly hôn.

Tử Vi Phá Quân tại Sửu Mùi, không hối át tinh cũng chủ khắc, hay tranh cãi, hội sát tinh tất ly hôn, tam phương cung Phu Thê hội sát tinh cũng chủ ly hôn. Hội Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, tát có ngoại tình, sinh ly.

Tử Vi Thiên Phủ tại dần thân, cũng không phải là điều tốt, đa phần bằng mặt không bằng lòng, hoặc sẽ tái hôn. Hội sát tinh thì ly hôn, nếu không khắc hình thương. Hội Tả Hữu Xương Khúc đồng cung hay hội chiếu, phối ngẫu và bản thân mình đều có ngoại tình, cũng chủ điềm phân ly. Tử Vi Tham Lang ở Mão dậu, phối ngẫu đa phần làm việc ở ngoài hay xã giao rộng, cũng chủ có điềm có người tình, ngoại tình (bản thân không nhất định biết được). Không hội sát tinh thì có thể sống với nhau đến già, hội sát tinh chủ sinh ly.

Tử Vi Thiên Tướng ở Thìn tuất, dễ lấy người nhỏ tuổi hơn mình. Phối ngẫu ôn hòa, nhưng vợ chồng tình cảm bạc, đồng sàng dị mộng. Hội Dương Đà vợ chồng hay đánh nhau, tất ly, thậm chí vài lần đò.

Tử vi Thất sát tại tỵ hợi, phối ngẫu cương cường, hay tranh chấp. Muộn hôn có thể tránh khắc, hỉ được nhiều cát tinh hóa giải. Đa phần lấy nhau vì tiếng sét ái tình.

Thiên Cơ

Nam chủ vợ nhỏ tuổi, nhỏ nhắn xinh xắn đáng yêu, tính cương cơ xảo, yêu và kết hôn khá sớm; nữ chủ chồng lớn tuổi. Hội các ác tinh Cự Môn, kình dương, đà la, hỏa tinh, linh tinh, thiên hình, hóa kị thì sinh ly, bất hòa, lạc hãm nếu kết hôn muộn có thể tốt hơn. Qua nhiều lá số chứng minh, thiên cơ nhập cung phu thê, hôn nhân dễ có trở ngại, cũng không phải điềm không tốt, có điều khiến người khác tiếc nuôi đó là, hoặc khẩu thiệt nhiều, vợ chồng khó tránh tranh cãi, hoặc 1 bên thường xuyên phải ra ngoài, 1 bên ở nhà đơn độc 1 mình, hội sát tinh ly dị.

Thiên Cơ tại Tí ngọ độc thủ, hòa hợp tốt đẹp, nam chủ vợ nhỏ nhắn xinh xắn, thông minh chăm chỉ giỏi việc nhà, nữ chủ chồng hiền.

Thiên Cơ tại sửu mùi độc thủ, phối ngẫu nếu cách tuổi xa thì vợ chồng không khắc, hoặc nhỏ hơn từ 5 tuổi trở lên, tốt đẹp hòa thuận. Hội sát tinh bất hòa hay tranh chấp, sát tinh nặng thì sinh ly.

Thiên Cơ Thái âm ở dần thân, nam lấy được vợ đẹp, được giúp đỡ. Nữ lấy được chồng tuấn tú. Yêu sớm, hôn nhân lãng mạn, nhưng phối ngẫu có tư tình ngoại tình. Hội sát tinh hoặc hóa kị, bất hòa sinh ly, hội tả hữu xương khúc cũng khó sống đến bạc đầu.

Thiên Cơ cự môn tại mão dậu, nữ chủ có chồng thông minh hơn người, nam chủ vợ tính hấp tấp, hay tính toán, vợ chồng hay khẩu thiệt tranh chấp, tình cảm không được mỹ mãn, hội cát tinh thì vợ giỏi chăm lo gia đình. Hội sát tinh hình khắc.

Thiên Cơ thiên lương tại thìn tuất, phối ngẫu lớn tuổi hơn thì có thể sống với nhau đến bạc đầu. Hội sát tinh muộn hôn, trước khi kết hôn bị thất tình hay lùi ngày cưới.

Thiên Cơ tại Tỵ hợi độc thủ, chủ hòa hợp tốt đẹp, hội Đà La Hỏa Linh Không kiếp sinh ly.

Thái Dương


Chủ hòa hợp, hội tứ sát nam nữ đều khắc, muộn hôn thì tốt, hội nhiều cát tinh thì nam mệnh chủ lấy vợ tính hào sảng, tính nóng vội, có chí khí nam nhi, được giúp đỡ, kinh tế địa vị nhà vợ tốt, quý nhờ vợ, nữ mệnh chủ vinh như nhờ. Thái dương nhập miếu vượng không hội sát tinh thì mỹ mãn, hội sát tinh thì không hòa thuận. Thái Dương lạc hãm không tốt, hội sát tinh hình khắc, nếu không ly dị, thì có phối ngẫu bệnh tật yếu ớt, thương tật hay có khả năng bị khắc chết. Hóa Kị, phối ngẫu tính hấp tấp đa nghi, nữ mệnh chủ chồng có bệnh. Thái dương hãm địa hội sát tinh hóa kị, cực đoan không tốt.

Thái Dương ở Tí, dù không hội sát tinh cũng không tốt, có khắc, hội Dương Hỏa Linh không Kiếp chủ sinh ly. Hóa Kị vợ chồng trở mặt thành thù, sinh ly.

Thái Dương thái âm ở sửu mùi, nam nữ đều chủ yêu sớm, tình đầu bất thành. Dương Đà Hỏa Linh Hóa kị đồng cung thì sẽ tái hôn. Hóa lộc quyền khoa ân ái giúp đỡ lẫn nhau. Nam chủ vợ đẹp, hiền, giúp đỡ được mình, sống với nhau đến già, hội cát tinh càng đẹp. Hội sát tinh nên muộn hôn thì có thể sống với nhau đến già. Nữ chủ yêu người yêu nhiều nhưng tất có thất tình, không hội sát tinh thì sống với nhau đến già, hội sát tinh thì dâm đãng, hôn nhân không tốt.

Thái Dương Cự môn tại dần thân, vợ chồng hay tranh cãi, không hội sát tinh Kị có thể sống với nhau đến già. Dù có hội cát tinh, nếu phùng Hóa Kị cũng chủ phối ngẫu ngoại tình, sinh ly.

Hội Đà La Hỏa Linh Kị, tất ly hôn. Nữ mệnh thì thường là sư tử hà đông.

Thái Dương Thiên lương ở mão dậu, nam nên lấy vợ lớn tuổi lơn, nữ nên lấy chồng nhỏ tuổi hơn. Hội Khôi việt xương khúc lộc tồn, nam lấy được vợ con nhà giàu có, vợ lấy được chồng nhiều tiền.

Không hội sát tinh có thể sống với nhau đến già. Hội Dương Đà hóa Kị sinh ly, Hỏa Linh cũng khắc, bất hòa, hay nghi ngờ vô căn cứ.

Thái Dương tại Thìn Tỵ Ngọ, không hội sát tinh, nam quý vì vợ, nữ lấy được chồng hiền lành giàu có. Thái Dương hóa lộc, cát mà có tiền tài. Thái dương hóa quyền, phối ngẫu tính cương, khó tránh khẩu thiệt, có thể sống với nhau đến già. Hóa Kị bất hòa, hội sát tinh sinh ly. Cung Ngọ hội Dương Hỏa linh, vợ chồng mỗi người 1 lòng riêng, thậm chí đấm đá lẫn nhau.

Thái Dương ở Tuất hợi, điềm không tốt. Muộn hôn có thể tránh hình khắc, tảo hôn bất hòa. Hóa Kị hoặc hội Dương Đà, nữ lấy phải chồng bất tài, nam chủ vợ bệnh, tính cách cương cường, sinh ly. Thái dương ở Tuất, tỉ lệ ly hôn rất cao.

Vũ Khúc


Vũ Khúc nhập cung phu thê đa phần là điềm không tốt, bất luận có cát tinh hay không đều chủ hình khắc bất hòa, chỉ có điều độ không tốt nặng nhẹ khác nhau. Vũ khúc nhập cung phu thê, đa phần hôn nhân khá chậm trễ. Cuộc sống gia đình thường nhạt nhẽo, giữa vợ chồng ít có tình cảm, nếu muộn hôn có thể tránh hình khắc, nữ mệnh dù đã kết hôn, nhưng thường 1 mình đơn độc trong nhà, đồng thời cũng nên làm vợ hai hay sống chung phi pháp thì có thể hóa giải. Vợ chồng tuổi tác tương đương. Nam chủ bị vợ đoạt quyền, tính hấp tấp, nữ chủ chồng quý, hội tứ sát sinh ly khắc hại, nên muộn hôn. Hội cát tinh nam chủ có tiền nhờ vợ. Hễ Vũ Khúc hội 1 trong tứ sát hay Hóa Kị đều chủ ly hôn, sát tinh nhiều ly hôn không dừng ở 1 lần.

Vũ Khúc thiên phủ ở Tí ngọ, vợ chồng bất hòa hay khẩu thiệt, muộn hôn có thể tránh khắc. Hội nhiều cát tinh, phối ngẫu tài vận tốt. Hội Dương Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kị tất ly hôn, hội Hình Diêu cũng chủ sinh ly, bản cung tham lang có tứ sát đồng thủ, cũng chủ ly hôn.

Vũ Khúc Tham Lang tại sửu mùi, bất luận nam nữ đều chủ yêu sớm, cũng là dấu hiệu không tốt. Phối ngẫu xã giao bên ngoài nhiều, không thích về nhà. Hội sát tinh Kị nam nữ hình khắc, cũng có tư tình dâm dục, tất ly hôn. Hội Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, tất người thứ 3 xen vào, nếu bản thân đoan chính, tất người phối ngẫu có đào hoa.

Vũ Khúc Thiên Tướng tại dần thân, vợ chồng cùng tuổi hay tuổi tác chênh lệch ít, có tình yêu thanh mai trúc mã hay hôn nhân nhờ người tác hợp mà thành. Không có sát tinh hoặc có cát tinh chủ có thể sống với nhau đến đầu bạc răng long. Hội Đà la hỏa linh hóa kị không kiếp chủ sinh ly.

Vũ Khúc Thất Sát tại mão dậu, điềm hôn nhân cực kì xấu. Phối ngẫu thái độ ngang ngược, vợ chồng đánh nhau, dù không hội sát tinh cũng chủ hình khắc bất hòa. Hội tứ sát không kiếp tất ly, cũng sẽ vì phối ngẫu mà rước họa, lại phùng Hóa Kị, nam mệnh kết hôn vài lần, nữ mệnh tất lấy phải chồng vô dụng, nên làm vợ hai, nếu không tất vài lần đò, tuy rằng như vậy nhưng cả đời cũng không được mỹ mãn.

Vũ Khúc tại Thìn Tuất, hội Xương Khúc hoặc Hóa Khoa, nam chủ vợ hiền lành giỏi giang, giỏi quản lý nhà cửa cũng có thể kiếm tiền ở ngoài, nữ chủ lấy chồng giàu có, đều nên muộn hôn. Hội tả hữu xương khúc, hoặc hội dương đà hỏa linh, điềm ly hôn, cũng chủ phối ngẫu ngoại tình. Hội Dương Đà Hỏa Linh Kị thì hình khắc nặng.

Vũ Khúc Phá quân tại tỵ hợi, vận hôn nhận kém, vợ chồng không hòa thuận, phối ngẫu ngoan cố, thô bạo, nhân duyên không tốt. Hình khắc cực nặng, nam nữ đều chủ kết hôn vài lần, hội sát tinh loạn luân. Phùng Lộc Mã hội chiếu, phối ngẫu phóng đãng đa dâm.

Thiên Đồng


Phối ngẫu ôn hòa. Nam chủ vợ nhỏ nhắn, thông minh kết hôn sớm, vợ săn sóc gia đình, dịu dàng, có chút hơi nhỏ mọn. Nam chủ lấy chồng lớn tuổi sống với nhau đến già, ở nhà chồng biếng nhác, không thích làm việc. Hãm địa chủ khắc, hội ác tinh tứ sát thiếu hòa khí cũng chủ sinh ly. Miếu vượng hòa thuận không khắc. Hãm địa hội tứ sát không kiếp thiên hình, vợ chồng có hình khắc, hoặc sống riêng, hoặc thương bệnh, hoặc ly dị.

Thiên Đồng Thái Âm ở Tí, nam tất lấy vợ đẹp, nữ lấy chồng tuấn tú, sống với nhau đến già. Hội sát tinh bất hòa.

Thiên Đồng Thái Âm ở ngọ, dễ gặp cảnh thất tình, hoặc có quan hệ xác thịt bất chính, tiền hôn hậu thú.

Thiên Đồng Cự Môn tại sửu mùi, nam chủ có vợ chăm chỉ, dung mạo bình thường, vợ chồng thiếu hòa khí, bản thân hoặc phối ngẫu tất có ngoại tình. Không hội sát tinh có thể sống với nhau đến già.

Bất luận nam nữ, phối ngẫu đều nên kết hôn với người lớn tuổi hơn nhiều, hoặc trước khi kết hôn có yêu người đã kết hôn rồi.

Thiên Đồng Thiên Lương ở dần thân, hòa hợp, không khắc. Phối ngẫu nên lớn tuổi hơn nhiều. Hội Lộc mã, vợ chồng tụ ít ly nhiều. Hội tả hữu xương khúc là điềm ngoại tình. Hội sát tinh thì tái hôn có thể lấy được vợ hiền.

Thiên đồng ở mão dậu, chủ có tình yêu tay 3, đa phần muộn hôn/ Phối ngẫu có thể đào hoa.

Thiên Đồng ở Thìn Tuất, phối ngẫu lớn tuổi hơn nhiều. Không hội sát tinh sống với nhau đến già. Hội sát tinh khẩu thiệt nhiều, hôn nhân không mỹ mãn.

Thiên Đồng tại Tỵ Hợi, vợ chồng tình cảm, hôn nhân hòa hợp tốt đẹp. Hội đà la ly hôn.

Liêm trinh

Dấu hiệu tình cảm không mỹ mãn, yêu khá sớm, phối ngẫu tính cương, dễ cực đoan, vợ chồng không hòa thuận. Dù không hội sát tinh cũng chủ vợ chồng tình cảm bạc, hoặc không hòa thuận, nam khắc vợ tái hôn, nữ khắc chồng tái giá, hội tứ sát hóa kị hình khắc đặc biệt hung, hỉ vào cung Thủy hoặc đồng chiếu củng chiếu với sao hành Thủy thì tai họa nhẹ. Liêm trinh hóa lộc, tuy rằng vợ chồng ân ái, tình cảm nồng nhiệt, nhưng phòng bản thân được hâm mộ. Liêm trinh hóa kị, không những sẽ ly hôn, mà còn có nhiều tình cảm vướng mắc với người khác phái.

Liêm Trinh thiên tướng tại Tí ngọ, thiên tướng thủy chế hóa hỏa của liêm trinh, không hội sát tinh, không khắc, đa phần chủ phối ngẫu có thành tựu, có thể sống với nhau đến già, nên muộn hôn. Hội sát tinh hình khắc sinh ly.

Liêm Trinh thất sát tại sửu mùi, nam mệnh chủ vợ tình tính cương nghị, không đủ dịu dàng. Hôn nhân không có gì thú vị, vợ chồng bất hòa hay tranh chấp, hội tứ sát hóa kị tất ly hôn. Muộn hôn có thể tránh, những vẫn không mỹ mãn.

Liêm trinh tại dần thân, phối ngẫu dữ dằn, cãi nhau không ngừng, phối ngẫu ngoại tình hay (?) có thể tránh khắc, hội sát tinh hóa Kị thì vài độ kết hôn, hội Lộc tồn cũng khắc. Hội tả hữu xương khúc khôi việt, khó tránh cảnh tư thông, sinh ly.

Liêm trinh phá quân tại mão dậu, hôn nhân không tốt, vợ chồng tình cảm ít, gia đình không có gì thú vị, hội sát tinh ly dị.

Liêm trinh thiên phủ tại thìn tuất, phối ngẫu cương cường, bất hòa, không hội sát tinh không khắc, hội 1 trong đà la hỏa linh hóa kị tất ly hôn, hội tả hữu xương khúc e ngoại tình, cũng ly hôn.

Liêm trinh tham lang tại tỵ hợi, nam nữ đều yêu sớm. Quan hệ hôn nhân không bình thường, không hội sát tinh cũng là điềm ly hôn, đôi bên đều có chuyện ngoại tình tư tình, người phối ngẫu đặc biệt phong lưu, hội sát tinh kết hôn nhiều lần.

Thiên Phủ


Chủ cát, thông thường phối ngẫu giỏi giang, nam mệnh vợ giỏi quán xuyến việc nhà, quản lý tiền bạc rất tốt, ở ngoài cũng có thành tựu nhất định trong sự nghiệp.

Nam chủ vợ kém tuổi mình khá nhiều, cũng chủ lấy được vợ hiền, được vợ giúp đỡ, vợ béo tốt. Nữ chủ chồng lớn tuổi, hôn nhân hòa hợp tốt đẹp. Hội sát tinh thì khó tránh có khắc. Hội tả hữu xương khúc khôi việt, trong tình yêu hay hôn nhân tất có người thứ 3 vào cuộc.

Thiên Phủ tại sửu mùi, không hội sát tinh chủ cát, vợ chồng đến đầu bạc. Hội Dương Đà phối ngẫu ngang ngược, thích ra mệnh lệnh, sinh ly, nam lấy người đã từng có chồng, nữ lấy người từng có vợ thì có thể tránh hình khắc. Hội hỏa linh cũng ly hôn, muộn hôn có thẻ tránh. Hội xương khúc, bản thân cũng nhiều lần yêu đương, đôi bên đều có tư tình.

Thiên phủ tại mão dậu, mệnh cung tất là liêm trinh tham lang, bản thân bản tính phong lưu, đối cung vũ khúc thất sát, không hội sát tinh cũng chủ bất hòa, hoặc sinh ly, hội ác sát tất ly hôn. Thiên phủ tại tỵ hợi, không hội sát tinh chủ cát, sống với nhau đến già. Hội tứ sát không kiếp thiên hình, sinh ly, bản thân có ngoại tình, nam chủ có thê thiếp, nữ chủ tư thông với người khác. Mệnh có đào hoa tinh diệu hoặc tứ sát cũng chủ ly dị.

Thái Âm


Nhập miếu nam lấy vợ thông minh hoặc xinh đẹp, vợ nhỏ tuổi, hội Xương khúc đồng cung chủ vợ dung nhan xinh đẹp; nữ chủ chồng lớn tuổi, anh tuấn, hôn nhân viên mãn. Hội tứ sát chủ sinh ly, lạc hãm chủ hung, nam nữ đều khắc, hỉ cát tinh hóa giải. Nam mệnh thái âm nhập miếu và văn xương hay văn khúc ở cung Phu thê, làm về học vấn hay kỹ nghệ có thể thành danh, hoặc nhờ sự giúp đỡ của nữ giới mà công thành danh toại, hoặc được vợ hiền lành xinh đẹp, vì vợ mà được phú được quý.

Thái Âm Hóa Lộc ở cung Phu thê, chủ được tiền của vợ mà thành sự nghiệp, nhưng có lúc e bị nói là ăn bám. Tả Hữu Khôi Việt và Thái Âm đồng cung, dễ có tình yêu tay ba hay có người thứ 3 chen chân vào.

Thái Âm ở Mão Thìn Tỵ hãm địa không tốt, không mỹ mãn, hội chiếu Dương Đà Hỏa Linh Thiên Hình Đại Hao Không Kiếp Hóa Kị thì chủ sinh ly, hoặc phối ngẫu bệnh tật tai ương.

Thái Âm hãm địa, chủ là người thường bị thất tình, nữ mệnh chủ chồng tầm thường, tiêu cực, sớm già.

Thái Âm ở Dậu Tuất Hợi miếu vượng chủ cát, hội tứ sát không kiếp hóa kị bất hòa hay sinh ly, nếu như muộn hôn, có thể tránh được ly hôn, nhưng vẫn bất hòa.

Tham lang


Là điềm không tốt, chủ hình khắc hoặc sinh ly, nam chủ muộn vợ có thể tốt, kết hôn sớm có khắc, hội tứ sát sinh ly; nữ chủ chồng lớn tuổi, cũng nên muộn hôn thì tốt. Hãm địa hội sát tinh thì nam nữ đều kết hôn vài lần.

Hễ Tham lang nhập cung phu thê, đều chủ phối ngẫu thân hình đầy đặn, nên kết hôn muộn hay trước khi kết hôn chuyện tình cảm gặp trục trặc trắc trở, hoặc hôn sự từng bị hủy, hỏng thì thích hợp, nếu không khắc thương. Dương đà hỏa linh đồng cung hoặc hội chiếu chủ ly dị. Hội chiếu với Đào Hoa Thiên Diêu Liêm Trinh hóa kị, chủ có tranh chấp tình trường.

Nam mệnh hội đào hoa tinh diệu, bản thân có ngoại tình, hoặc sau khi có tiền thì phạm đào hoa.

Nữ mệnh cung phu thê có tham lang, chủ hình khắc hoặc sống riêng, nếu chồng ngoại tình thì có thể tránh khắc nặng, nên làm vợ hai, sống chung phi pháp hoặc có con trước rồi kết hôn sau, hoặc cưới người lớn tuổi hơn nhiều, kết hôn muộn. Hội đào hoa tinh diệu, chồng ngoại tình, bản thân cũng không giữ được sự trong trắng liêm khiết.

Duy Tham Lang và Thiên hình, không diệu (kiếp không, tuần không, triệt không) đồng thủ cung phu thê, có thể tránh ly hôn, nhưng vẫn thiếu hòa khí, không tốt. Tham lang hóa kị, sinh ly, bất luận nam hay nữ, đều chủ bất mãn với phối ngẫu, trình độ học vấn, gia cảnh, tuổi tác hoặc dung mạo của 2 người có chỗ không tương xứng.

Cự Môn


Thích hợp lấy người lớn tuổi hơn nhiều. Vợ chồng không hòa thuận, cũng hay tranh cãi ác ý, hôn nhân không tốt, hội sát tinh sinh ly tử biệt, hoặc ngoài mặt hòa thuận, trong lòng cũng khó tránh cảnh thất tiết ô danh, bản thân không có tư tình thì phối ngẫu sẽ có tư tình, hoặc cả 2 đều ngoại tình. Nam chủ hình vợ, đôi bên tính cương, thường xuyên bất hòa, cả đời tổ ấm không được yên bình; nữ chủ chồng lớn tuổi hơn có thể tốt, hội tứ sát sinh ly, hội xương khúc cũng chủ ly khắc.

Cự nhập cung phu thê, không ít người lấy người hơn mình nhiều tuổi. Nam mệnh nên lấy vợ nhiều tuổi hơn mình, nữ mệnh nên lấy chồng già hơn mình, chênh lệch tuổi tác giữa 2 vợ chồng lớn thì tốt. Đặc trưng nổi bật là vợ chồng hay tranh cãi, phối ngẫu cá tính cực đoan, tự cho mình đúng. Lộc tồn đồng cung, phối ngẫu tự tư keo kiệt.

Cự Môn hóa lộc hoặc hóa quyền, hoặc có các cát tinh lộc tồn tả hữu hội chiếu, chủ tốt đẹp không khắc.

Cự Môn đồng cung hay hội chiếu với tứ sát không kiếp cô thần quả tú, sinh ly, sống riêng, khẩu thiệt.

Cự Môn ở thìn tuất sửu mùi có sao CÔ thần, ở dần thân tỵ hợi có Cô thần, thì “cách trở”, chủ sống riêng, sinh ly.

Cự Môn hóa kị, phối ngẫu hẹp hòi, đa nghi, giả dối, thường xuyên cãi nhau, trách móc lẫn nhau, sinh ly.

Cự Môn ở Tí Ngọ có Tả Phụ hoặc Hữu Bật đồng cung cũng chủ sống riêng, ly dị.

Thiên Tướng


Nam nữ đều tốt, đa phần kết hôn với đồng nghiệp hay bạn học, hoặc người quen biết từ nhỏ, hoặc do người thân bạn bè giới hiệu mai mối mà thành, tức lấy người thân thiết với mình.

Nam nên lấy vợ nhiều tuổi hơn hoặc tuổi tác chênh lệch không nhiều, vợ đa phần là vợ hiền mẹ tốt, cùng chồng dạy dỗ con, khí chất nội tại tốt, hiền từ thông minh, không hay nói nhiều; nữ lấy được chồng chân thực đoan chính, tình cảm bền lâu, không có sát tinh thì có thể sống với nhau đến già. Hỉ được nhiều cát tinh củng chiếu, hội dương đà hình khắc.

Thiên tướng ở mão dậu (đối cung Liêm Phá) tỵ hợi (đối cung vũ phá) độc thủ, hội tứ sát không kiếp chủ hình khắc, sinh ly, là số tái hôn, thậm chí phối ngẫu nhiều tai họa.

Thiên Lương

Nam nữ đều tốt, nam chủ vợ lớn tuổi, hiền lành mà cương nghị, nữ lấy được chồng lớn tuổi cũng tính cương, hội quyền lộc thì tốt, hội tả hữu khôi việt cũng tốt. Hội tứ sát bất hòa, sát tinh nhiều thì sinh ly. Nam mệnh sẽ tìm người nào giống như mẹ mình, nữ mệnh tìm chồng giống cha. Thiên lương nhập cung phu thê, nam chủ lấy vợ lớn hơn 2, 3 tuổi, hoặc nhỏ hơn từ 8 tuổi trở lên, vợ ổn trọng già dặn, hiền thục nội trợ. Nữ mệnh chủ chồng lớn tuổi hơn mình, thanh cao, từ bi hiền lành, vợ chồng hòa thuận tốt đẹp.

Thất sát


Điềm không tốt, vợ chồng tính cách không hợp, hay tranh cãi. Chỉ có muộn hôn mới có thể thuận lợi, sống với nhau đến già. Tảo hôn nam nữ đều khắc, hội tứ sát, hôn nhân bi thảm, nam khắc tam thê, nữ khắc tam phu.

Thất sát ở Tí Ngọ Dần Thân, hội Lộc tồn, hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, chủ phối ngẫu thông minh có thành tựu, có thể giúp đỡ được mình. Nhưng vẫn chủ yêu đương không thuận, trước hôn nhân lắm trắc trở, nếu không sau hôn nhân cũng không được mỹ mãn. Hội tả hữu xương khúc, chủ phối ngẫu tính ổn trọng, có uy, được người khác kính phục, vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau. Vẫn nên kết hôn muộn thì có thể sống với nhau đến già, vợ chồng tụ ít ly nhiêu, hoặc có tình trạng sống riêng, thì có thể tránh hình khắc, sinh ly. Hội 1 trong dương đà hỏa linh, chủ tái hôn, lại hội các ác diệu hóa kị, thiên hình, không kiếp, đại hao thì nam nữ đều kết hôn vài lần, cũng có khả năng phối ngẫu thương bệnh, tù ngục, tử vong, nếu cả 2 đều hòa thuận tốt đẹp, thì phối ngẫu khó tránh thương bệnh, trung niên tử vong.

Có kình dương, hỏa linh và thất sát đồng thủ cung phu thê, không những tái hôn, mà bản thân 1 đời lắm đào hoa.

Thất sát ở thìn tuất, tình cảm đạm bạc, sống riêng, ly dị. Thất sát ở Tí ngọ, phối ngẫu cá tính mạnh mẽ. Thất sát ở Tí ngọ dần thân, đồng cung với tả phụ, hữu bật, văn xương, văn khúc, thiên khôi, thiên việt, tình cảm của bản thân cũng không chuyên nhất, có thể phối ngẫu cũng có ngoại tình, cũng chủ tái hôn. Nữ mệnh vũ khúc tọa mệnh mà thất sát ở cung phu thê, sau khi ly dị có khuynh hướng chủ nghĩa độc thân.

Nữ mệnh thất sát thủ cung phu thê, chồng tính cách mạnh mẽ mà cố chấp, khăn khăng giữ ý mình, chỉ nên muộn hôn, sống chung phi pháp hay cưới người ly hôn hay làm tình nhân, vợ 2. Nam mệnh có vợ đoạt quyền chồng, nữ nhân thì tham gia chính sự. Bất luận nam hay nữ, tình đầu nhất định không có kết quả, cũng dễ gặp tiếng sét ái tình, kết hôn nhanh như chớp, hội xương khúc càng ứng.

Phá quân


Điềm hung, hôn nhân không tốt, hữu danh vô thực. Nam nữ đều khắc, tứ sát đồng cung, ngoại tình, sinh ly, tái hôn. Nữ mệnh tình yêu không thuận lợi, vợ chồng tranh cãi không hòa thuận, vợ tính tình ngoan cố, tự cho mình đúng, e đoạt quyền chồng, cuộc sống hôn nhân không thú vị, cũng không được sự giúp đỡ từ vợ. Nữ mệnh chủ yêu sớm, tính cách chồng ngang ngược, dễ nổi giận, không thấu tình đạt lý. Tình cảm vợ chồng nhạt nhòa, không mãnh liệt. Bất luận nam nữ yêu đương hay hôn sự đều sẽ gặp cảnh người thân bạn bè phản đối, đều nên muộn hôn, sau khi kết hôn sống riêng, nhường nhịn lẫn nhau thì có thể tránh hình khắc.

Phá quân ở Tí ngọ dần thân thìn tuất, là độc thủ, đồng cung với dương đà hỏa linh không kiếp đều chủ hình khắc, sinh ly, hội tả hữu khôi việt chủ phối ngẫu ngoại tình, hội xương khúc phối ngẫu thú vị. Nữ mệnh cung phu thê có phá quân ở thìn tuất hóa lộc, chồng phóng đãng, đa dâm.

Hễ phá quân nhập cung phu thê, hôn nhân tuyệt đối sẽ không bình thường, trước và sau khi kết hôn có hiện tượng sống chung với người khác. Tất ly hôn, hoặc phối ngẫu chết trước, bản thân mình 2 lần đò.

Văn xương, văn khúc


Nam chủ vợ ít tuổi, nữ chủ chồng nhiều tuổi. Hôn nhân yêu đương đều có khuynh hướng lãng mạn, phối ngẫu thông minh thú vị. Miếu vượng không hội sát tinh thì sống với nhau đến già, hội sát tinh sinh ly. Lạc hãm phối ngẫu hay nói suông, lời lẽ khoa trương, hội sát tinh hay tranh cãi, hình khắc, ly dị. Văn xương ở cung phu thê, nam mệnh vợ tất ít tuổi, nữ mệnh chồng có thể vinh quý. Văn khúc ở cung phu thê, dễ kết hôn sớm, nam mệnh vợ hiền, đồng thủ với thái âm miếu vượng, có thể nhờ sự giúp đỡ của vợ hoặc nữ nhân mà thành sự nghiệp. Nữ mệnh chủ chồng lớn tuổi.

Nam mệnh văn xương văn khúc đồng cung phu thê, chủ có tình nhân, ngoại tình. Văn xương hay văn khúc đồng cung với hóa lộc, hóa quyền, thiên cơ, thái âm cũng có ngoại tình, nữ mệnh trước khi kết hôn yêu nhiều lần hoặc sau khi kết hôn đi quá giới hạn, nếu không chồng không chung thủy.

Bất luận miếu hãm, hội tứ sát không kiếp hóa kị đều chủ sinh ly, hóa kị vợ chồng kiện cáo.

Hỏa Linh, Linh Tinh

Chủ hung không chủ cát, nam nữ đều khắc, đa phần muộn hôn. Tình yêu không thuận, sau khi kết hôn đôi bên lời lẽ ác ý, đánh nhau. Nếu muộn hôn có thể hóa giải, nhưng không hòa thuận, hội hung tinh thì chủ phân ly. Nếu gặp chính tinh hãm địa đồng cung tất ly, hội dương đà không kiếp kị vũ khúc liêm trinh cự môn thất sát phá quân tham lang, bất luận miếu hãm, tất hình khắc, sinh ly. Hỏa Linh hãm địa chủ khắc. Hễ hỏa linh nhập cung phu thê, tất chủ sinh ly tử biệt, ở góa, cô độc.

Đồng cung với Vũ, Liêm, Tham, Cự, Sát, Phá, Dương Đà không kiếp, kị, chắc chắn ly hôn.

Tả phụ, hữu bật

Có khuynh hướng tình yêu tay 3, phối ngẫu dung mạo đoan chính, tính tình rộng rãi, vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau, viên mãn. Nam mệnh chủ vợ nhỏ tuổi đôn hậu, hội xương khúc dung mạo đẹp, hội thiên cơ, thái âm hoặc tam hợp thiên cơ, thái âm, chủ bản thân có ngoại tình, hội sát tinh

Hễ Tả Phụ hoặc Hữu Bật nhập cung phu thê, nam nữ bất luận có sát tinh đồng cung hay không, đều chủ hai lần kết hôn. Đồng cung với Sát, Phá, Tham, Vũ, Liêm, Cự, Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Kị, chắc chắn tái hôn. Nếu muộn hôn hay trước khi kết hôn tình cảm nhiều trở ngại thì có thể tránh sinh ly.

Thiên khôi, Thiên Việt

Nam chủ lấy được vợ con nhà giàu có, nữ chủ chồng giàu có, gia đình êm ấm hòa thuận, sống với nhau đến già. Không hợp hội tứ sát hoặc hội Không Kiếp, hung, nam nữ bất hòa, nặng thì sinh ly.

Hễ khôi việt nhập cung phu thê, khi trẻ e yêu người khác phái lớn tuổi hơn mình.
Kình Dương, Đà la

Chủ hung không chủ cát, nam nữ đều khắc, vợ chồng đấu đá nhau. Tảo hôn không tốt, muộn hôn có thể giảm hung. Nhập miếu hình thương, bất hòa, tình cảm lúc tốt lúc xấu. Đồng cung với chính tính hãm địa, tất hình khắc sinh ly. Đồng cung với Tử Vi, Thiên Cơ, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, thiên phủ, thái âm, tham lang, cự môn, thiên tướng, thiên lương, thất sát, phá quân, hóa kị, tỉ lệ ly hôn rất cao. Sát tinh nhiều thì càng xấu, nam cô nữ quả. Hễ Dương đà nhập cung phu thê, đều là điềm ly hôn, cả đời không được mỹ mãn, đồng cung với vũ, liêm, tham, cự, sát, phá, hỏa, kị, không, kiếp, chắc chắn ly hôn.

Địa Không, Địa Kiếp

Chủ hung không chủ cát. Miếu vượng hội nhiều cát tinh, nam nữ đều tốt, có điều cũng nên muộn hôn thì tốt, hội tứ sát, liêm, sát, phá, tất khắc nặng, sinh ly tử biệt. Không kiếp nhập cung phu thê, sau hôn nhân tình cảm không nồng nhiệt, tình cảm có xu hướng lạnh nhạt dần. Phối ngẫu có khuynh hướng bi quan hay không tưởng, hội hung tinh đồng cung, phối ngẫu giả dối gian trá, lãng phí.

Lộc Tồn

Nam nữ đều chủ muộn hôn thì tốt, nữ hội thất sát làm vợ hai, hội Hỏa Linh không kiếp tất khắc, sinh ly, phùng triệt không hay không kiếp nam nữ khó lấy vợ chồng, kết hôn chậm trễ. Lộc tồn nhập cung phu thê, phối ngẫu thân hình đầy đặn, béo tốt, thích dành dụm, chi tiêu bủn xỉn, không thích lãng phí, là người ổn trọng có kế hoạch. Lộc tồn đơn thủ, phối ngẫu là người quản lý tiền bạc, 1 đồng cũng không bỏ ra, cuộc sống hôn nhân đơn điệu, vợ chồng bên nhau không có cảm giác thú vị, hôn nhân không tốt, mệnh có hung tinh chủ sinh ly.

Hóa Lộc

Đắc địa không hội không kiếp đại hoa vong thần hóa kị, mà được nhiều cát tinh củng chiếu, nam lấy được vợ con nhà quan quý hay giàu có, nữ chủ lấy được chồng quý hoặc phát tài. Hội các ác tinh tứ sát nam nữ có khắc, phân ly. Phối ngẫu hài hương giỏi xã giao, có nhân duyên tốt, danh lợi đều tốt, không hội sát kị, hôn nhân hạnh phúc.

Hóa Quyền

Đắc địa không hội không kiếp đại hoa vong thần hóa kị, mà được nhiều cát tinh củng chiếu, nam lấy được vợ con nhà quan quý hay giàu có, nữ chủ lấy được chồng quý hoặc phát tài. Hội các ác tinh tứ sát nam nữ có khắc, phân ly. Phối ngẫu hành sự ổn trọng, là người cố chấp, nắm quyền trong nhà, có khuynh hướng chuyên chính.

Hóa Khoa

Nam chủ vợ nhỏ tuổi, thông minh xinh đẹp, nữ chủ chồng tuấn tú phát đạt. Miếu vượng hội xương khúc khôi việt càng tốt, hội các ác tinh tứ sát thì nam nữ có khắc.

Hóa Kị

Hóa Kị là thần đa quản, chủ hung không chủ cát, thường chủ tái hôn, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên tranh cãi. Các sao ở hãm địa Hóa Kị đa phần không tốt, tối kị Vũ, Liêm, Cự, Xương, Khúc Kị. Duy ở cung Tí sửu miếu vượng, đồng cung với cát tinh,lại được nhiều cát tinh tam phương củng chiếu, nam nữ đều tốt, hoặc muộn hôn, thường sống riêng có thể tránh khắc. Phối ngẫu có bệnh vê thần kinh, đa nghi, tự tư, nhỏ mọn, nói dối, bệnh thương, đồng cung với
vũ, cự, liêm, sát, phá, nhất định hình khắc ly dị. Hội tứ sát không kiếp, nam nữ cô quả.

Nam mệnh hóa Kị ở phu thê, bản thân hay quan tâm đến thị phi, nghi ngờ vô căn cứ. Nữ mệnh hóa kị ở phu thê, bản thân lắm ưu tư, quản lý lời lẽ hành động của đối phương, thích đố kị, đang yên lành thì sinh chuyện.

Thiên mã

Nam chủ lấy được vợ hiền, hội cát tinh, chủ được sự giúp đỡ từ nhà vợ, hoặc lấy được vợ có tiền, hoặc nhờ có sự giúp đỡ của vợ mà phát tài. Nữ mệnh thiên mã nhập cung phu thê hội cát tinh, chủ vượng phu, có thể hưởng phú quý từ chồng, là số quý phu nhân. Hội nhiều cát tinh thì nam nữ đều quý mỹ. Hội lộc tinh tốt nhất. Hội sát kị không kiếp, nam nữ cô quả, sinh ly. Thiên mã nhập cung phu thê, chủ phối ngẫu ở nhà chịu khó, ở ngoài bôn ba, có dấu hiệu sống riêng khá lâu.

Thiên Hình
(Người sinh giờ mão, Thiên Hình tất ở cung phu thê) miếu vượng nam chủ muộn hôn mà vợ tính cương, nữ chủ ức hiếp chồng, hội tứ sát thì nam nữ đều cô quả, được cát tinh đồng chiếu vẫn bất hòa. Thiên Hình nhập phu thê chủ phối ngẫu thân thể có thương tật.
Thiên Riêu
(Người sinh giờ hợi, Thiên Riêu tất ở cung phu thê) cuộc sống hôn nhân thú vị, bản thân e có chuyện ngoại tình vụng trộm. Nếu bản thân đoan chính thì phối ngẫu phong lưu, đa nghi, thích ăn diện, có lúc có ý niệm tà dâm.
ST

VẬN ĐÀO HOA DUYÊN KỲ NGỘ PHU THÊ

0

Vận đào hoa duyên kỳ ngộ phu thê

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

1/ Cơ hội do đào hoa bẩm sinh:
– Trước hết, ta cần xét xem người đó có đào hoa hay không, cơ hội tự quen người khác phái của họ có hay không, qua các sao Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái. Tình duyên là quan hệ giữa người và người nên bắt buộc các sao này phải của ta, ở môi trường mà ta tiếp xúc, môi trường người – người. Nghĩa là cư Mệnh, Quan, Nô, Di.
– Khi Đào Hồng Hoa Cái đi kèm Cô Quả, Thiên Không, Tử Phù, Thiên Hình thì không còn ý nghĩa đào hoa ở người này nữa. Tiểu hạn mà gặp các bộ sao này thì mang ý nghĩa chia tay, chấm dứt 1 mối quan hệ nam nữ xuất phát từ quyết định của ta (đi kèm Cô Quả), xuất phát từ quyết định của người khác (đi kèm Thiên Không, Thiên Hình), bị đau khổ vì tình, thất tình (đi kèm Tử Phù)

– Khi Tuần Triệt cư tại các cung Mệnh Quan Nô Di, dù 3 sao này được hành cung đó sinh vượng thêm thì cơ hội quen người khác phái vẫn sẽ giảm đi rất nhiều, gặp các chính tinh hãm cũng thế. Trường hợp này ta cũng không gọi họ là “đào hoa”, nhưng họ vẫn tự có cơ hội quen người khác phái, tuy chỉ vài ba người (Các chính tinh mình sẽ nói đến ở phần sau)

Phân biệt ý nghĩa về mặt tình duyên của Đào Hoa – Hồng Loan – Hoa Cái:

– Đào hoa là tình cảm đến từ 2 phía, yêu thích lẫn nhau.
– Hồng Loan chỉ tình cảm đối phương dành cho ta nhiều hơn ta dành cho họ, yêu ta nhiều hơn ta yêu họ
– Hoa Cái là sự thu hút, quý mến đơn thuần mà người khác phái dành cho ta, tùy từng trường hợp có thể tiến xa hơn thành người yêu, người chồng, hoặc chỉ dừng lại ở tình bạn. Tình cảm bắt đầu từ tiểu hạn có Hoa Cái là 1 tình cảm không rõ ràng, nửa bạn nửa yêu. Như ngoài đời chúng ta thường nói “…chưa phải người yêu, chỉ đang tìm hiểu thôi”
Có 2 cách đào hoa: đào hoa ngoại tường và đào hoa nội tường (Phần này mình áp dụng từ bài viết về tứ trụ của chú thanhlonghungtran vào tử vi, thấy vẫn chính xác. Đây là link bài viết của chú: “Vận đào hoa – bài trả lời chung”www.lyso.vn/diendan/viewtopic.php?f=39&t=9768&start=10, các bạn có thể đọc để hiểu kỹ hơn. Mình chỉ trích dẫn ngắn gọn dưới đây thôi)

– Trên thiên bàn lá số, căn cứ vào trụ năm, trụ tháng, trụ ngày, trụ giờ thì:

Dần Ngọ Tuất kiến Mão
Tỵ Dậu Sửu kiến Ngọ
Thân Tí Thìn kiến Dậu
Hợi Mão Mùi kiến Tí
ví dụ 1:người sinh giờ tỵ 11-02 -1986 (Đinh tỵ-Quý Hợi-Tân Mão-Bính Dần)
Tứ trụ này lấy chi Năm để tra đào hoa trong đó trên chi năm tìm thấy đào hoa tại chi ngày gọi là đào hoa trong tường
ví dụ 2:Người sinh giờ Dậu 04-04-1986 (Đinh Dậu-Bính Thìn-Quý Tỵ-Bính Dần)
Chữ Dần chi Năm không có Mão của trụ này nên không có dào hoa, Nhưng Thân Tí Thìn Kiến Dậu-> là có Đào hoa.đó là trụ ngày tìm thấy đào hoa trên giờ là chữ Dậu gọi là hoa ngoài tường

a.Đào hoa nội tường:

– Người có cách này thường có được những tình cảm lâu bền, thắm thiết nhiều năm mà đối tượng khác phái dành cho họ. Khi tìm tiểu hạn mà người đó gặp Phu Thê tương lai, ta cần đặc biệt chú ý. Nhất là khi ngoài cách đào hoa nội tường này, họ có 3 sao Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái được sinh vượng bởi hành cung Mệnh, Quan Nô, Di. Sẽ có những quan hệ nam nữ ngắn ngủi đan xen giữa mối quan hệ lâu dài này. Nhưng người mà họ đi đến hôn nhân lại thường là người có mối quan hệ lâu năm nhất. (Mình sẽ nói rõ ở phần dưới)
b.Đào hoa ngoại tường:
– Người có cách này thường có những tình cảm sớm nở tối tàn, cả thèm chóng chán, thật nồng nhiệt ban đầu rồi lạnh nhạt chỉ trong thời gian ngắn, “lắm mối tối nằm không”. Có thể gọi là lận đận tình duyên. Khi tìm tiểu hạn mà người đó gặp Phu Thê tương lai, ta cần đặc biệt chú ý. Nhất là khi ngoài cách đào hoa ngoài tường này, họ có 3 sao Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái được sinh vượng bởi hành cung Mệnh, Quan Nô, Di. Sẽ có cùng lúc nhiều quan hệ nam nữ ngắn ngủi. Khi thấy có Điếu Khách tại tiểu hạn sau đó, ta đừng vội kết luận họ trở thành “lính phòng không”. Nếu trên lá số vẫn có cơ lập gia đình, thì điều kia chỉ phản ánh những mối quan hệ khác, không phải với vợ/chồng tương lai.

2/ Cơ hội do môi trường:

– Khi các sao chỉ cưới hỏi Thanh Long, Long Trì, Phượng Các, Thiên Đức + Phúc Đức cư tại các cung Quan, Nô, Di.

3/ Cơ hội do người khác tạo (mai mối gián tiếp hoặc trực tiếp):

– Nếu xét bước 1,2 thấy lá số không có cách đào hoa nào cả, ta cũng đừng vội kết luận họ sẽ “ế”. Cần xét thêm các sao hỉ tín trợ hôn. Nếu các sao này an tại các cung chỉ người như Quan, Nô, Di, Phúc, Phụ, Huynh thì những người trong mối quan hệ này là “ông mai, bà mai” trong việc tạo cơ duyên gặp gỡ cho đương số. Cần kết hợp với vị trí của các sao cưới hỏi để luận giải mềm dẻo cho từng trường hợp, sâu sát với thực tế hơn.

4/ Vận đào hoa:

Ta thường bắt đầu mối quan hệ với người khác phái khi có sự thu hút từ người này, hoặc thấy ưng ý, hoặc ham muốn sinh lý, hoặc muốn có chồng có vợ. Do đó nhận biết vận đào hoa khởi từ đại vận, lưu hạn nào qua:
– Sao tình duyên, sao tình dục, yêu đương:
* Đào hoa, Hồng Loan * Thiên riêu, Thai * Mộc Dục, Hoa Cái – Sao chỉ bộ phận nhục thể của nữ và nam: * Văn Xương, Văn Khúc * Kình Dương
– Sao cưới hỏi: Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức
– Sao chỉ sự ưng ý:
* Thiên Khôi
* Thiên Việt
– Thái Dương
– Thái Âm
– Thiên Lương – Thiên Cơ hoặc Thiên Đồng (chủ sự thay đổi) – Tham Lang – Liêm Trinh. – Thiên Phủ + TỬ – Thất Sát
– Dựa vào ý từ vận đào hoa theo tứ trụ, khi đại vận đó chỉ có 1 phụ tinh hoặc chính tinh kể trên, ta có thể loại bỏ bớt những lưu hạn nào không cần phải chú ý.
Ví dụ:với người sinh năm 1985, tuổi Ất Sửu, tại đại vận 12 có Thái Âm, màTỵ Dậu Sửu kiến Ngọ, thì bắt đầu tìm khởi vận đào hoa (mối tình đầu) của đương số từ năm Ngọ (sau 12t) của đương số, tức lúc 17t (năm Nhâm Ngọ 2002).
– Tại lưu hạn nào có Liêm Tham thì đây là năm đương số có yêu đương, mối tình đầu. Lưu ý: lưu hạn là tuổi DL. Ví dụ lưu hạn tại năm 17t với người sinh năm 1970 là năm 1987 có mối tình đầu.
– Nếu muốn biết rõ hơn tháng bắt đầu yêu đương, an nguyệt hạn theo năm đó, Thiên Hỉ ứng với nguyệt hạn nào thì đó là tháng hỉ
– Để xét đoán tình cảm năm đó ra sao và rõ ràng hơn, ta kết hợp cung lưu hạn + cung tiểu hạn tương ứng giải đoán.

II. Duyên kỳ ngộ Phu Thê:

– Để tìm năm đương số gặp hôn phối, ta cần xác định hạn hôn nhân trước. Cách xác định mình đã viết trong topic “Hạn hôn nhân”.
– Từ năm có hôn sự này, ta đi ngược dòng thời gian của lưu hạn để tìm năm gặp gỡ (Đào Hồng Hoa Cái), năm yêu đương.
– Nếu ở giữa lộ trình từ năm yêu đương đến năm kết hôn, có Thiên Đức + Phúc Đức hoặc Thanh Long, sẽ có sự hỏi cưới, cầu hôn giữa 2 người.
Lưu ý:
– Với người “đào hoa ngoài tường, nội tường” các bạn nên kết hợp xem xét cả tiểu hạn để tránh nhầm lẫn.
III. Luận đoán mở rộng chi tiết về mối quan hệ và môi trường gặp gỡ:
– Kết hợp mềm dẻo các sao hỉ tín để luận, thường là các sao đôi chúng ta thường nhắc chung khi đề cập. Lưu ý các sao này phải ở các cung có sự hiện diện của con người. Cung Phúc ý nghĩa khá rộng, chỉ anh chị em họ, cô bác, ông bà… nên hạn chế áp dụng hỉ tín để luận tại các cung này. Trừ khi lá số các cung kia không có, ta mới kết hợp cung Phúc.
– Trong lá số, ta có thể kết hợp khéo léo cả cung Điền để luận đây là 1 nơi gặp gỡ buổi đầu. Duy có cung Tật ta không áp dụng.
– Sao hỉ tín, sao trợ hôn: * Thiên hỷ – Hỷ thần * Thanh Long – Lưu Hà * Hóa Lộc – Hoá Kị
* Thiên Quan – Thiên Phúc * Thiên Mã – Tràng Sinh * Thiên Mã – Điếu khách – Thiên Khốc * Ân quang – Thiên Quý * Tả Phù – Hữu Bật * Long Đức – Nguyệt đức
* Văn Xương – Văn Khúc – Các sao đôi này, 1 phải ở cung Phu Thê hoặc ở cung có “ông mai, bà mối” gián tiếp hoặc trực tiếp cho ta, 1 phải “kết nối” qua cung khác thì mới áp dụng được. Kết hợp sao cưới hỏi, sao Đào Hồng Hoa Cái làm gốc luận môi trường gặp gỡ. Vài gợi ý về cách luận:
– Ở cung Quan: gặp tại nơi làm việc của 1 trong 2 người, hoặc kết hôn với đồng nghiệp, hoặc được đồng nghiệp mai mối… – Ở cung Di: quen người xa lạ ngoài xã hội, đi đâu gặp…
– Ở cung Nô: cưới bạn cùng lớp học, bạn qua bạn, người bạn bè mai mối cho…
– Ở điền: gặp tại nhà 1 trong 2 người…

Vợ chồng trong tử vi

Các sao trong Tử vi phân bố theo những qui luật nhất định, một trong các qui luật đó là cung Mệnh và cung Phối. Nhiều trường hợp hễ Mệnh có sao này thì cung Phối nhất định phải là sao khác, tức là các sao trong tử vi yêu nhau rất bài bản !
Mệnh Thất Sát thì phối luôn có Thiên Tướng,  Sát nóng nảy khắc nghiệt thì Tướng trung hậu hòa hoãn để bù lại. Tướng có cái thẳng thắn giống Sát nhưng tình cảm, khéo léo. Sát lạnh lùng giá băng nhưng gặp Tướng là “này em ơi em đẹp quá đi thôi, mắt rực tình xé nát tim tôi”! Vẻ hào hoa, phong lưu của Tướng là điều mà một kiếm khách thiện nghệ như Sát rất mơ ước.
Nhưng Tướng lại yêu Tham Lang, Tướng cầu toàn, khó tính nên thích Tham Lang khéo chiều, giỏi giao tiếp. Tham Lang vơ vào để bù lại tính công bằng, vô tư của Tướng. Tướng còn ưa đào kép phong lưu, Tham Lang cũng tham dục vô bờ, nên thành một cặp rất hợp.
Tham Lang lại luôn yêu Thiên Phủ, Tham giàu óc thực tế, trọng vật dục thì người yêu lý tưởng đúng là Phủ rồi. Bản thân đầy đào hoa tính, dễ rung tình thì cần tìm đối tượng bình ổn mà yêu. Phủ vừa có điều kiện vừa ôn hậu chính là mơ ước của Tham Lang. Trong các sao Phủ tốt hàng đầu, không như Tử vi là vua chung, Phủ trực tiếp quản lý tài sản, có tính vượng tài nên là đối tượng của nhiều sao. Tham Lang có lẽ là thợ săn thiện nghệ, vồ ngay Thiên Phủ làm phối ngẫu !
Nhưng Thiên Phủ lại chỉ yêu Phá Quân, điều này thật lạ lùng, kẻ hữu sản, tính cách thâm trầm như Phủ lại đi yêu Phá vừa xấu vừa nóng nảy, tự đắc. Phủ không cần tiền tài ở Phá nhưng có lẽ thích “cá tính” mạnh, ưa độc đáo mới lạ của Phá. Phá luôn mới mẻ, cập thời, có khả năng chủ động cao, thêm tính kiêu căng tự đắc, ưa tiêu xài để cân bằng lại tính ôn hòa, hữu sản của Phủ. Phá còn ham lao động, cần cù chăm chỉ nên càng hợp ý Phủ.
Phá Quân tự mình lại không yêu riêng ai. Lúc thì yêu Tử Vi, khi thì Vũ Khúc, Liêm Trinh. Tức là Phá tạp loạn, ghen ghét Tử vi chính thống nhưng thực ra vì Phá luôn mơ ước cái ghế của Tử vi, nên có khi lại lấy Tử vi. Còn Vũ Khúc kho tài Phá yêu để có ngân quỹ cho chiến dịch tranh cử lật đổ Tử vi là đúng rồi. Nhưng Liêm Trinh nghèo thế sao Phá lại yêu ? Đó là vì khi đó Phá cư Thìn Tuất đại bất lương, nên vì thế chỉ ôm được Liêm cơ hàn, các sao khác đều sợ mà tránh xa. Khi đi cùng chính tinh khác, như Vũ Phá, Tử Phá, Liêm Phá thì cung Phối lại luôn vô chính diệu, tức là Phá bản chất sân hận đố kị nên ông không ưa lựa chọn của tôi thì tôi cũng chả cho ông yêu ai, thế là đành lấy vô chính diệu không cá tính, vô tâm vô địa để tha hồ chỉ huy lên mặt. Các cặp sao đôi của Phá đều xấu nên chỉ yêu được vô chính diệu là hợp lý vì vô chính diệu không đủ tầm nhận ra cái dở của cặp đó !
Thiên Cơ luôn yêu Thái Dương, kẻ cơ hội linh hoạt mưu mẹo thì thích ông triết lý bài bản, có uy quyền. Cơ như mưu sỹ đi tìm quyền lực mà nhờ cậy thì Thái Dương chính là hình ảnh mơ ước trong lòng. Cơ gặp Nhật lập tức rên rẩm ôi ánh sáng của đời tôi là đây rồi, chả cần gì hơn !
Nhưng Thái Dương lại chỉ yêu Thiên Đồng, kỳ lạ thay, kẻ ưa triết lý lại thích cô vui vẻ đỏng đảnh, có lẽ để bù lại cái tính khắc nghiệt của bản thân. Nên ngày xưa các cụ đồ nho nhã thế mà rất ưa những trò tom chát, thích gái má phấn môi hồng, vì đó là cách để cân bằng lại mớ chữ nghĩa rối rắm trong lòng. Thiên Đồng chỉ cần tung tẩy phe phẩy cái áo mớ ba mớ bảy là Thái Dương xổ tung hết chữ nghĩa, lăn vào chết mê chết mệt. Ấy bao nhiêu chữ cũng chả hay bằng em đây !
Thiên Đồng chả yêu riêng ai, bản tính dễ thay đổi, lông bông vô định, đứng riêng thì yêu vô chính diệu hoặc Thiên Lương, đi cặp với sao khác thì yêu chung người tình của sao đó. Tức là cô em xinh đẹp vui vẻ được Thái Dương rất yêu nhưng để em tự chọn thì em lại chả yêu riêng ai, vậy Thiên Đồng có tính đa duyên, dễ yêu, dễ kết hôn.
Thiên Lương luôn yêu Cự Môn, lại là sự bất ngờ, kẻ hiền lành đạo đức lại đi  thích Cự Môn đa ngôn bép xép lắm lời. Lương ôn nhu, thành thực nên có lẽ thật thà thường thua thiệt, vì thế yêu Cự Môn đa xảo điêu trá để cân bằng lại. Cự mờ ám bất tường mà làm Lương yêu thì suy ra Thiên Lương óc xét đoán kém, không mạnh về tinh thần. Lương có thể là ông thầy giỏi lý thuyết hơn là tham gia vào các hành động thực tế.
Cự Môn lại yêu Thái Âm, kẻ đa ngôn giảo hoạt mờ ám cần có Nguyệt chiếu sáng để đỡ âm ám, rất hợp lý. Cự còn là sao cá tính cực đoan hay bất mãn nên cần Nguyệt mềm yếu nhu thuận, để khỏi xảy cãi vã mâu thuẫn, do Cự lúc nào cũng sẵn sàng tuôn hàng tràng những lời khó nghe.
Thái Âm chả yêu riêng ai vì Nguyệt bản chất đa cảm, ướt át, đa tình, dễ rung động. Tại Mão Dậu Nguyệt yêu Thiên Cơ nhanh nhẹn linh hoạt. Còn các vị trí đơn thủ khác hoặc đi với Thiên Đồng, Nguyệt chỉ yêu vô chính diệu, để tỏa sáng bản thân mình sang đối tác dù có khi đang mờ mịt u ám (Nguyệt cư Thìn, Tỵ, Ngọ). Từ đó suy ra Thái Âm chỉ yêu chính mình nhất. Nguyệt có tính mê hoặc, ánh trăng có ảnh hưởng rất mạnh đến sự hứng tình của nhiều sinh vật, điều này đã được khoa học biết đến.
Liêm Trinh có tính nghèo lại khắc nghiệt ít tình cảm nên tình ít, khi đi cặp với các sao khác Liêm yêu chung bồ ruột của các sao kia. Còn một mình ở Dần Thân Liêm yêu Thất Sát vì Sát cũng nóng nảy, mạnh mẽ. Sách vở cho Liêm có tính đào hoa, vậy tại sao tình lại ít, vì Liêm chính trực, lý trí mạnh mẽ nên không để tình cảm chi phối. Tình yêu của Liêm nặng vì nghĩa hơn vì tình !
Vũ Khúc không yêu riêng sao nào, đi cặp với Phá, Sát, Tham, Phủ, Tướng thì cung Phối là các sao tình nhân của sao đi cùng. Đi với Phá thì yêu vô chính diệu, tức Vũ Khúc không có tình cảm rõ ràng, thêm tính khắc kỷ nên cô độc. Riêng tại Thìn Tuất đơn thủ thì Vũ yêu Thất Sát, y như Liêm Trinh, vậy Liêm và Vũ phải có tính cách gì đó giống nhau, đó là lý trí mạnh, là sự tiêu xài cẩn thận, yêu Sát vì Sát luôn rạch ròi rõ ràng, không sợ bị lập quỹ đen !
Tử Vi đế tinh thường đi kèm chính tinh khác, nên cung phối là tình nhân của sao đó. Khi đứng riêng một mình ở Tí Ngọ, Tử vi chỉ yêu Thất Sát, ngôi sao nóng nảy mạnh mẽ. Điều này thật kỳ lạ vì Thất Sát được tới 3 sao đơn thủ yêu, đó là Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc. Vậy Sát phải có cái gì đặc biệt hơn các sao khác, đó là cá tính độc lập, chủ động, mạnh mẽ quyết đoán. Sát giỏi nghề thạo việc, đương đầu tốt với nghịch cảnh, chả bao giờ yếu đuối ngã lòng. Sát có sức sống mạnh, là một ưu thế trong đấu tranh sinh tồn, Sát hấp dẫn các sao mạnh mẽ giống mình.
Cuối cùng là Mệnh vô chính diệu, tình như gió bay, yêu đương lung tung, chả có chủ kiến gì cả. Lúc thì yêu chính tinh, đó là Thiên Lương, Thiên Cơ, Vũ Sát, Liêm Sát, Tử Sát, lúc lại yêu vô chính diệu. Vô chính diệu hợp Nhật Nguyệt mà không bao giờ Mệnh vô chính diệu cung Phối là Nhật Nguyệt cả, điều kỳ lạ này càng cho thấy tính hạn chế trong đầu óc của vô chính diệu. Nguyệt yêu nhất vô chính diệu để lợi cho cả hai, nhưng vô chính diệu thì không biết thế. Trăng soi sân nhỏ làm khoảng sân sáng rực nhưng chính cái sân trống rỗng đó lại không tự biết thế là hay. Nguyệt in bóng nước lung linh tuyệt đẹp mà nước không tự biết, thay vì yêu trăng, nước lại mê mải với những bóng mây trôi ngang…
Tổng hợp lại, có thể rút ra một số qui luật đặc biệt. Mệnh có Tử Phủ Vũ Tướng thì phối luôn là Sát Phá Liêm Tham và ngược lại. Hai bộ sao mạnh mẽ hàng đầu này yêu nhau thắm thiết, vậy phải có cái gì tương đương nhau ở cá tính, sự mạnh mẽ. Và để bù trừ, các cặp sao đó cũng có những điểm trái ngược.
Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương luôn chỉ yêu Cự Nhật, hoặc xen vào vô chính diệu, sự nhu hòa thiếu cá tính mạnh mẽ của bộ sao này thể hiện cả trong tình yêu. Nhưng nếu vì thế mà không yêu Tử Phủ Vũ Tướng hay Sát Phá Liêm Tham thì thật kỳ lạ. Có lẽ vì tình yêu, hôn nhân xuất phát từ cái gì đó sâu xa hơn hẳn là tình cảm cá nhân của con người !
Tử vi cũng chỉ ra nguyên nhân của các mối tình tay ba. Rõ ràng là anh yêu tôi nhất nhưng tôi lại yêu người khác nhất. Sát yêu Tướng nhưng Tướng yêu Tham, Tham lại yêu Phủ, Phủ thì yêu Phá, cứ như đèn cù nó chạy vòng quanh.
Như vậy, việc phân bố sao Tử Vi vào Mệnh Phối tuân theo các đặc điểm rất rõ ràng thể hiện qua các cặp sao, bộ sao. Từ đó suy ra con người trong xã hội theo quan niệm Á Đông cũng có những thể tạng khác biệt, có thể phân loại giống như khoa học phương Tây đang làm. Chỉ có điều Tử vi đã làm điều đó từ hàng ngàn năm trước phương Tây…

ST

LUẬN BÀN Họa Hôn Nhân Trắc Trở

0

LUẬN BÀN Họa Hôn Nhân Trắc Trở

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Phục Binh: nếu đóng hay chiếu vào cung Phu Thê, chỉ sự cản trở. ở vị trí tọa thủ, sự cản trở mạnh mẽ hơn, gây trở ngại lớn hơn ở vị thế hội chiếu. Sao này tượng trưng cho sự đổi ý của người con trai hay con gái, sau khi yêu nhau rồi mới khám phá những chỗ kẹt, chỗ ngang trái khiến không thể lấy nhau. Nó cũng tượng trưng cho sự chống đối mạnh mẽ của cả hai bên nhà trai nhà gái hoặc của một bên và sự chống đối này do cha mẹ chủ xướng, tức là những người có quyền quyết định tối hậu cuộc tác thành. ở vị thế hội chiếu, có thể ban đầu chống đối rồi sau cũng thuận cho.

Hóa Kỵ: ý nghĩa tương tự như Phục Binh nhưng nhẹ hơn. Hóa Kỵ ở Phu Thê thường là sự bất hòa giữa hai họ để rồi trai gái phải xa nhau, bắt nguồn từ những câu nói vụng về của nam hay nữ hoặc của họ bên này chê bai họ bên kia hoặc cũng có thể bắt nguồn từ một đệ tam nhân ngoại cuộc vụng lời, thêm bớt.

Cự Môn: dù đắc hay hãm địa, Cự Môn ở Phu Thê bao giờ cũng khó khăn dài dài, trước khi lấy nhau và sau khi thành hôn. Cự Môn chủ đa nghi: bên nọ nghi ngờ bên kia, thôn tính con dâu hoặc sắp xếp cho con mình vào tròng để lợi dụng. ở vị trí đắc địa, sự việc có thể tiền hung hậu kiết nhưng ở thế hãm địa thì có thể tiền hậu đều hung.

Thiên Không: chỉ sự cản trở, chủ yếu là do sự bố trí có thủ đoạn của một bên cho bên kia mắc kẹt. Trò chơi của Thiên Không rất nguy hiểm, nếu có thêm sao xấu đi kèm, hôn nhân rất nhạy rã đám.

Thiên Hình: ở Phu Thê, Hình báo hiệu sự hình thương gia đạo, có thể là sự trắc trở hôn nhân buổi đầu. Mặt khác, vì Hình chỉ sự xét nét quá tinh vi cho nên ngụ ý rằng có một bên tính kỹ quá, đòi hỏi điều kiện chặt chẽ, khó khăn khiến bên nọ không với tới làm cho hôn nhân bị hỏng hoặc trì trệ kéo dài. Cuộc thương thuyết có Thiên Hình hẳn phải hết sức gay go và đầy cạm bẫy.

Khốc, Hư, Tang, Hổ: hai trẻ phải nhiều lần điêu đứng, rơi lệ, đau khổ, phải đấu tranh cho sự hòa hợp bằng nước mắt. Nếu có cả 4 sao thì 4 dòng lệ đều chan hòa, duy có riêng một sao cũng mệt sức lắm rồi. Trong một ý nghĩa khác, 4 sao này còn có nghĩa là cưới xin trong tang khó.

  1. Tình trạng gia đạo bất hòa:

–      cung Phu Thê phải có hao bại tinh, ám tinh, hình tinh, cụ thể là Cự Môn, Phục Binh, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ.

–      cung Phu Thê phải có sao cô độc như Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân; sao khắc khẩu như Thái Tuế, Trực Phù.

–      cung Phu Thê phải có sao ghen tuông, cãi vã, khó tính, câu chấp, ngỗ ngược, ngoan cố, lấn át, bướng bỉnh – nguyên nhân của mọi bất hòa.

–      hai lá số của nam nữ có Bản Mệnh khắc nhau.

–      có thể chính tinh ở cung Mệnh số người này mà nghịch cách với chính tinh ở Phu/Thê của số người kia thì cũng xung khắc.

Hạn hôn nhân

Lập gia đình chỉ là một biến số chỉ liên quan đến hạn mà thôi, không phải là sự kiện xảy ra mãi mãi trong đời. Vì thế, xem việc lập gia đình là xem hạn, tức xét tất cả các cung ở thể đồng cung, xung chiếu, tam hợp, nhị hợp và cả nhị hại với cung Phu Thê.
Khi nào đại hạn, lưu niên đại hạn hoặc tiểu hạn vào đúng các cung này thì việc lập gia đình mới xác quyết. Tất cả các yếu tố này đều thể hiện rõ việc lập gia đình qua các nhánh tam hợp của chúng (lưu niên đại hạn và lưu niên tiểu hạn).
Muốn xét hôn nhân, phải kết hợp nhiều loại sao liên hệ: các sao chỉ tin vui, các sao tình duyên, các sao cưới hỏi, các sao hao tài. Cần nhất là trong hạn đó, phải tránh các sao cản trở.
1. Tìm đại hạn:
– Nếu cung Phu Thê có chỉ số cung là 2_ (ví dụ mệnh Thủy nhị cục là 22) thì thường lập gia đình không trễ hơn 31t (tuy nhiên vẫn có 1 số trường hợp đặc biệt, mình sẽ đề cập ở phần tình trạng không chồng không vợ).
– Nêu cung Phu Thê có chỉ số cung là 10_ (ví dụ mệnh Thủy nhị cục là 102) thì thường lập gia đình không sớm hơn 31t.
Đây chỉ là nhận định sơ bộ, cần kiểm chứng lại qua các đại vận kế cận liền kề. Phải cân nhắc các đại vận trươc đó để tránh lầm lẫn do có 1 số lá số hạn xảy ra ở đại vận trùng cung Huynh, chứ không phải cung Phu.
Tìm đại vận có hôn nhân qua phụ tinh và chính tinh. Phụ tinh đóng vai trò quan trọng hơn chính tinh.
a. Qua phụ tinh:
– Sao cưới hỏi: Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức
– Sao hỉ tín, sao trợ hôn:
* Thiên hỷ, Hỷ thần
* Thanh Long, Lưu Hà
* Thanh Long, Hoá kị
* Thiên Mã, Tràng Sinh
* Thiên Mã, Điếu khách, Thiên Khốc
* Ân quang, Thiên Phúc
* Tả Phù, Hữu Bật
* Long Đức, Nguyệt đức
– Sao tình duyên, sao tình dục, yêu đương:
* Đào hoa, Hồng Loan
* Thiên riêu, Thai
* Mộc Dục, Hoa Cái
– Sao chỉ bộ phận nhục thể của nữ và nam:
* Văn Xương, Văn Khúc
* Kình Dương
Tuy nhiên, ý nghĩa của các sao này khá yếu, cần thêm sự bổ trợ của các phụ tinh, chính tinh báo hỉ khác. Thường những cặp lập gia đình tại các đại vận có 3 sao trên luôn có sự chung sống (sống thử) trước khi tổ chức lễ cưới thật sự, hoặc theo đuổi tình dục trước rồi mới tính đến hôn nhân.
– Sao chỉ trạng thái khi ta có lập gia đình:
* Thiếu Dương + Thiên Không


b. Qua chính tinh:
– Thái Dương (miếu, vượng). Thái Dương tuy có ở thế hãm địa nhưng khi đi chung với Lộc Tồn, hoặc với nhiều sao trợ hôn cũng báo hỉ sự
– Thái Âm (miếu, vượng). Thái Âm tuy có ở thế hãm địa nhưng khi đi chung với Lộc Tồn, hoặc với nhiều sao trợ hôn cũng báo hỉ sự.
– Thiên Lương
– Thiên Cơ hoặc Thiên Đồng (chủ sự thay đổi)
– Tham Lang
– Liêm Trinh.
– Thiên Phủ + TỬ
– Thất Sát
c. Qua sao hối thúc:
Thông thường các hành Hỏa và Bắc đẩu là hai loại sao hối thúc, khiến hôn nhân dễ thành. Đặc biệt là những sao Phi Liêm, Hỏa Tinh, Linh Tinh có tác dụng hối thúc. Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự bất thần, đột ngột.
– Khi đại vận VCD có các sao này, được xung chiếu bởi Thái Dương, Thiên Lương thì càng xác quyết.
– Đại vận có sao hối thúc cần đi kèm sao chỉ quan hệ giao hợp nam nữ như Xương Khúc, Kình Dương, Thai, hoặc sao hao tài song Hao, Hóa Lộc, hoặc sao Thiên Khôi, Thiên Việt chỉ sự vừa ý, thì mới mang ý nghĩa hỉ sự.
Tuy nhiên những hôn nhân xảy ra vào đại vận thế này cũng ít khi tốt đẹp.
Lưu ý:
– Ngày nay, hôn nhân chủ yếu là do 2 người quyết định, nên đại vận có hôn nhân không được có các sao Cô Thần (hành Thổ), Quả Tú (hành Thổ), hoặc Đẩu Quân (hành Hỏa), vì ba sao này chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trử việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp những sao tình duyên bù chế. Hành của cung đại vận cần xét không nên sinh ra hành của các sao này.
Ví dụ: Đại vận 16t-25t, tại cung Tuât có Quả Tú, nhưng không gây nguy hại, hôn nhân vẫn thành do Quả Tú cùng hành với cung Tuất.


2. Tìm năm :
– Tìm qua các sao chỉ lễ cưới: Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức. Mỗi lá số, ta đều có 2 dạng vòng tam hợp: 1 vòng tam hợp có chứa Thiên Đức + Phúc Đức (mà mọi người thường gọi là tam hợp Đào Hồng Hỷ), và 1 vòng tam hợp Long Phượng Thanh Long (không nhất thiết phải có đủ 3 sao này). Có 1 số trường hợp cả 2 vòng tam hợp này đều mang ý nghĩa hôn sự yếu ớt, bị nhiều sao cản trở hôn nhân gây hại, thì việc kết hôn ta tìm theo vòng tam hợp có chứa Quang Quý và các sao hỉ sự trợ hôn. Đám cưới có Quang Quý thường tình cảm đôi lứa khi tiến đến hôn nhân có phần khiên cưỡng, không nồng thắm. Ở lá số 2 đời vợ chồng, ta tìm hạn hôn nhân lần đầu qua tam hợp này. Ta sẽ thấy khi ấy Quang Quý hoặc năm có hôn sự luôn đi kèm, đồng cung cùng Khốc Hư, Phá, Cô, Quả, Điếu Khách, Tang Hổ, Phá Toái, Phục Binh.
– So sánh vòng tam hợp nào tốt đẹp hơn thì chọn. Đối với trường hợp đương số 2 đời chồng/ vợ, đời thứ 1 ta chọn hạn có tam hợp xấu hơn, đời thứ 2 chọn tam hợp tốt đẹp hơn.
– Năm âm lịch có hôn sự nằm 1 trong 3 gốc tam hợp này, và phải ở 1 trong các vị trí ảnh hưởng đến cung Phu Thê như đồng cung, xung chiếu, tam hợp, nhị hợp, nhị hại. Chi năm là lưu niên tiểu hạn an tại cung đó.
– Khi lưu niên tiểu hạn không ở các vị trí này thì 1 trong 3 gốc tam hợp của lưu đại hạn phải ảnh hưởng đến cung Phu, phải ở các vị trí này thì mới có hôn sự.
Đây là ý nghĩa mà mọi người thường nói “tiểu hạn và lưu đại hạn trùng phùng”
– Cưới theo tam hợp Thiên Đức + Phúc Đức, đôi lứa tự lo liệu việc cưới hỏi, từ vật chất đến việc tổ chức lễ tiệc.
– Cưới theo tam hợp Long Trì, Phượng Các, Thanh Long:
* Tam hợp là Dần (+) Ngọ (+) Tuất (+), trùng cung Phúc Di Phu, có sự hỗ trợ về mặt tài chính lẫn việc lo liệu của họ nhà chồng/ vợ, mà điển hình là người nam, người cha chồng/ cha vợ.
* Tam hợp là Thìn (+) Thân (+) Kim (+), ta cũng luận tương tự.
– Kiểm chứng lại gốc lưu niên tiểu hạn tìm được qua lưu đại hạn. Các nhánh tam hợp của lưu đại hạn đều phản ánh hỉ sự, và đều gây ảnh hưởng đến cung Phu Thê (qua xung chiếu, nhị hợp, nhị hại), không nhất thiết phải ở thể tam hợp với Phu Thê. Lưu đại hạn là cung ứng với tuổi dương lịch của đương số vào năm ta cần xét có cơ lập gia đình.
– Căn cứ vào sao chính tinh tọa thủ tại cung đại vận ta đã xác định được ở phần 1.
* Nếu là sao Bắc đẩu, 5 năm cần chú ý để xét hạn là 5 năm đầu của đại vận.
* Nếu là sao Nam đẩu, là 5 năm cuối.
* Trường hợp có cả Nam đẩu và bắc đẩu tọa thủ, dùng ngũ hành để tính sự tương khắc, tương sinh giữa hành của sao chính tinh và hành của cung đại vận. Ưu tiên chọn sao được hành cung tương sinh, hoặc không bị tương khắc.
* Trường hợp cung đại vận VCD, ta dùng chính tinh tại cung xung chiếu để xét. Nếu cung xung chiếu có cả 2 chính tinh thì cũng áp dụng ngũ hành như trên.Sao Bắc Đẩu
-Tử Vi -Liêm Trinh
-Vũ Khúc
-Thái Âm
-Tham Lang
-Cự Môn
-Phá Quân
Sao Nam Đẩu
-Thiên Đồng
-Thiên Cơ
-Thái Dương
-Thiên Phủ
-Thiên Tướng
-Thiên Lương
-Thất Sát
– Đổi năm lưu niên tìm được sang năm dương lịch rồi lấy lá số an theo năm đó để xem và tìm nguyệt hạn, nhật hạn.
– Khi cung Phụ mẫu ở vào thể nhị hại hoặc nhị hợp, lại có các sao hối thúc tọa thủ thì hôn nhân năm đó xảy ra nhanh hơn dự tính ban đầu của đôi lứa. Phụ Mẫu an tại cung (-) thì bị hối thúc bởi mẹ chồng/ mẹ vợ, cung (+) thì cha chồng/ cha vợ.


3. Tìm nguyệt hạn:
– Việc tìm tháng cũng dựa chủ yếu trên sao chỉ lễ cưới: Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức hoặc Nguyệt Đức. Nếu có thêm sao hao tài Tiểu Hao, Đại Hao, Hóa Lộc thì càng xác quyết. Ba sao này vừa chỉ các chi phí vừa chỉ sự thay đổi, ngụ ý là thay đổi trong cuộc đời.
– Tuy nhiên, cần chú ý các sao bất lợi cho hôn nhân như sau:
* Cô Thần, Quả tú hay Đẩu Quân: Ba sao này chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trửo việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp những sao tình duyên bù chế.
* Thái Tuế, Quan phù, Quan phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng, vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan phù, Quan phủ chỉ sự phản bội, sự ruồng dãy trong tình yêu.
* Phục Binh: Sao này chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ bên trai hay gái không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Nếu sao này an tại cung (-) chỉ sự chê bai lúc đầu về đối tượng hôn phối từ phía người mẹ của đương số. Nếu sao này an tại cung (+) là từ phía người cha của đương số. Mặt khác, sao này còn chỉ cả sự phá hại, rình rập, bắt ghen, bắt xấu.
* Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: Không Kiếp hãm chỉ sự xui xẻo Triệt mọi phương diện. Ứng vào hạn của hôn nhân Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
* Phá Quân hãm địa: Sao này không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ. Ngoài ra, nếu hạn rơi vào cung nào có Chính Tinh hãm địa thì cũng bất lợi cho tình duyên.
* Tuần, Triệt: Dù riêng rẽ hay đồng cung mà Tuần, Triệt đi chung với các sao hôn nhân kể trên sẽ có tác dụng phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn, đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm. Tuy nhiên nguyệt hạn vẫn an tại cung này, Tuần Triệt chỉ mang ý nghĩa gây chậm trễ về nhật hạn mà thôi.
– Cung ta cần chọn để xác định nguyệt hạn phải có Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Thiên Đức + Phúc Đức, Nguyệt Đức (Nguyệt Đức bắt buộc phải có các sao hỉ tín, trợ hôn đi kèm, và không bị gây hại bởi các sát tinh thì mới mang ý nghĩa hôn sự, nếu không chỉ là nguyệt hạn về tháng có lễ dạm hỏi, nói chuyện giữa 2 bên thông gia thôi)
– Cung cần chọn không nên có các sao gây bất lợi hôn nhân kể trên, hoặc có Thiên Hư, Tuế Phá, Phá Toái, Tử Phù. Nếu có, các sao này cần bị khắc chế bởi hành cung, hoặc cùng hành với hành cung thì mới không gây ảnh hưởng đến nguyệt hạn này. Cung này mình gọi là cung  để tránh lầm lẫn.
– Từ cung nguyệt hạn  đã chọn, ta sẽ có 2 chỉ số đều mang tính âm lịch: chỉ số tiểu hạn tại cung và chỉ số nguyệt hạn an theo năm dương lịch có hôn sự. Ta phải xét lại lần nữa để chọn 1 trong 2 chỉ số này => Đây mới là nguyệt hạn cần tìm.
– Tháng Dần tương ứng với tháng 1 âm lịch. Từ chỉ số nguyệt hạn, ta đổi sang tháng dương lịch của năm đó (có thể dùng trình http://www.nomna.org để tra nhanh và chính xác hơn). Lá số có 12 cung, tương ứng với 12 tháng dương lịch. Từ chỉ số tháng dương lịch đã đổi sang, xét cung có chỉ số tháng tương ứng. Nếu ý nghĩa chỉ lễ cưới của cung này rõ rệt hơn cung , ta phải chọn cung này và ngược lại.
– Khi chọn cung , ta đổi chi tháng hôn nhân (Tí, sửu, dần….) có sẵn trên lá số sang tháng dương lịch.
– Khi chọn cung kia, chỉ số nguyệt hạn tại cung này sẽ là tháng âm lịch có hôn sự.

  1. Tìm nhật hạn:

– Ngày có hôn lễ sẽ gây ra hao tài, nên các sao cần quan tâm để tìm nhật hạn là Tiểu Hao, Đại Hao, Hóa Lộc.

– Trước tiên, ta cũng xác định khoảng 15 ngày âm lịch nào cần chú ý, dựa trên chính tinh an tại cung của nguyệt hạn đã tìm được ở bước 3. Nếu có Tuần Triệt, cho dù Bắc đẩu tinh tọa thủ, nhật hạn cũng vẫn rơi vào 15 ngày cuối của tháng.

Chọn theo thứ tự các ưu tiên sau (Phần này hơi trừu tượng 1 chút):

1/ Phải thấy được sự hiện hữu của các sao này qua cung đó.

2/ Không bị khắc, làm yếu đi bởi hành cung. Không được sinh xuất từ hành cung.

3/ Không bị các sao gây bất lợi cho hôn nhân đồng cung.

Ví dụ:Lá số có Tiểu Hao tại cung Tỵ, Đại Hao tại Hợi, Hóa Lộc tại Dần, lưu niên tại Dần là Thìn. Do Tiểu Hao cùng hành Hỏa với cung Tỵ, nên tuy có mặt, nhưng ta không thể thấy sự hiện diện của nó tại cung Tỵ. Đại Hao ở cung Hợi có thể thấy được do khác hành với cung Hợi, nhưng lại bị khắc chế làm yếu đi. Duy có Hóa Lộc ở Dần là không bị suy chuyển, có thể thấy được sự hiện diện của sao này tại Dần => Nhật hạn tại cung Dần. Chi nhật hạn là ngày Thìn (ngày cưới).

– Từ nhật hạn tìm được, ta dùng trình www.nomna.org để kiểm tra lại và đổi sang ngày dương lịch cần tìm. Hiện nay, mọi người thường cưới hỏi vào thứ 7, chủ nhật nên ngày tìm được nếu không trùng cuối tuần, cần dời lại 1 chút.

Lưu ý:

– Hiện nay, việc xem và tổ chức cưới hỏi đúng y theo nguyên tắc “có kiêng, có lành”, với những đôi lứa không thực hiện tuyệt đối, ngày cưới thật sự của họ khi nghiệm lý lại ta sẽ thấy không đúng nguyệt hạn và cả nhật hạn. Tuy nhiên, tháng có hôn sự, xét lại, vẫn đảm bảo nguyên tắc có sao hỉ tín, trợ hôn.

ST

Luận Cách Cục Sao Ngoại Tình Trong Tử Vi

0

Luận Cách Cục Sao Ngoại Tình Trong Tử Vi

 

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)
+ Điều kiện về tính chất:
      lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá …
      phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.
      ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.
+ Điều kiện về sao:
      nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) …
      phải có sao đa phu, đa thê
      phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang

      phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:
      sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.
      sao tình dục phải có ở cung Phu Thê
      sao tình dục phải có ở cung Nô, Di
      nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó
      cung Tử có những sao hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ
+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
      lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không
      nếp sống đương số có sa đọa hay không;
      cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.
+ Những dè dặt cần thiết:
      sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;
      lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;
      gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;
      gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.
g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:
      cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung;
      cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm;
      cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;
      cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ;
      cung Tử có những sao chỉ con dị bào;
      lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau;
      cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);
      cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;
      có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di;
      thiếu sao giải mạnh và nhiều
Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:
– Những bộ sao của Tử Vi:
Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:
Tử Sát: nếu hôn nhân bị trắc trở buổi đầu hoặc nếu muộn lập gia đình thì có thể tránh được chia ly. Tuổi muộn thông thường là quá ba mươi. Thất Sát vừa chỉ sự không may, vừa chỉ sự chậm chễ.
Tử Phá: Phá Quân chỉ sự hao tán phu thê cho nên dù đi với Tử Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ chồng phải bị chia ly, hình khắc sau khi hiềm khích, giận hờn, gây gổ nhau.
– Những bộ sao của Liêm Trinh:
Liêm ở Dần, Thân: vợ hay chồng phải chắp nối nhiều lần, có họp rồi lại tan, chưa kể việc lấy chồng/vợ nghèo.
Liêm Tướng: hai người không từ biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ nhau thường xuyên.
Liêm Tham: cũng chia ly, thông thường có một người bị hình tù.
Liêm Sát: vừa chậm gia đình vừa chia ly.
– Những bộ sao của Thiên Đồng:
Đồng ở Thìn, Tuất: thông thường là bất hòa, nếu không hoặc tử biệt hoặc chia ly.
Đồng, Âm ở Ngọ: nếu muộn gia đạo có thể tránh chia ly. Thường người vợ có lỗi vì Âm hãm ở Ngọ.
Đồng Cự: Vợ chồng hay gây gổ nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự chỉ ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã, thị phi.
– Những bộ sao của Vũ Khúc:
Vũ Sát: sự khắc kỵ gia đạo hết sức nặng nề, mang lại tai họa cho vợ chồng lúc sống chung, một sống một chết, nếu không cũng chia ly.
Vũ Phá: chia ly xảy ra nếu sớm lập gia đình. Vì có Phá Quân, nên có thể hai lần tác hợp.
– Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
Dương hãm địa hay Âm hãm địa: nếu muộn gia đình thì tránh được chia ly, duy vợ chồng hay bất hòa và trước khi lấy nhau thường gặp trắc trở.
Cự Dương ở Thân: ý nghĩa như trên.
Âm Dương đồng cung: nếu muộn gia đình thì có thể tránh được cảnh chia ly.
– Những bộ sao của Thiên Cơ:
Cơ Cự: chia ly nếu sớm gia đạo. Sự hiện diện của Cự Môn thường bất lợi cho gia đạo, thường báo hiệu việc bất hòa, gây gổ, hai vợ, hai chồng.
Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong việc cưới xin và nếu sớm lập gia đình dễ chia ly.
– Những bộ sao của Tham Lang:
Tham ở Thìn, Tuất: sớm lập gia đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay ghen tuông, chồng thì chơi bời.
Tham ở Dần, Thân: vợ chồng dâm đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp nhau cũng dễ chia ly.
– Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.
– Những bộ sao của Thiên Tướng:
Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: sớm lập gia đình thì sẽ bất hòa và dễ chia ly. Đời sống vợ chồng rất cần sự nhịn nhục, vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và lấn át.
Tướng ở Mão, Dậu: ý nghĩa tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp cản trở.
– Những bộ sao của Thất Sát:
Sát ở Thìn Tuất: phải vài lần lập gia đình, khó tránh được chia ly.
Sát ở Tý Ngọ: nếu sớm gia đạo, dễ chia ly. Vợ chồng là con trưởng, cả hai rất ghen tuông.
– Những bộ sao của Phá Quân:
Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm thành gia đạo thì chẳng những phải chia ly mà còn phải nhiều lần lập gia đình.
Phá ở Dần, Thân: ý nghĩa càng nặng hơn; vợ chồng chắc chắn phải chia ly vì nguyên nhân ngoại tình.
Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ: vợ chồng tối thiểu cũng có lúc xa nhau rất lâu.
– Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu ThêTuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những saThiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.
– Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.
– Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên  có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.
 Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có “mạ lỵ thậm từ” và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.
– Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ …
h. Trường hợp tử biệt:
      cung Phu Thê có Tuần, Triệt riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ, hội với sát tinh, có thể hội thêm với hình tinh, hao bại tinh, ám tinh;
      cung Mệnh đương số có Cô, Quả, Đẩu Quân, Tang, Hổ;
      số của hai vợ chồng đối khắc Bản Mệnh và một trong hai lá số rơi vào đặc điểm đầu tiên;
      những bộ sao chỉ họa cho tính mệnh xuất hiện trong lá số của một người;
      có những bộ sao chỉ tình trạng chia ly kể trên;
      có những sao chỉ tình trạng hai đời vợ/đời chồng trong lá số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu tố phụ đới, chỉ có giá trị quyết đoán khi gặp trường hợp đầu tiên.
i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:
      một trong hai lá số có những sao sát, nói lên sát nghiệp của người đó, trong khi lá số người kia có những bộ sao chết vì án mạng hoặc yểu. Trong cả hai trường hợp, đều thấy xuất hiện sát tinh hạng nặng như Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Kiếp Sát, Kình Dương, Đà La. Đôi khi có những sao như Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn, Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị hãm địa, nói lên nghiệp chướng.
      cung Phu Thê của hai lá số đều gặp nhiều trường hợp bất lợi kể ở các đoạn nói về chia ly, tử biệt, họa cá nhân, họa ngục hình;
      xét về nguyên nhân, án tình thường bắt nguồn từ sự phản bội của vợ/chồng. Vì vậy, trong số phải có những bộ sao phản bội, lăng loàn, ngoại tình, con dị bào …
      xét về hậu quả, án tình, nếu thủ phạm còn sống sót, thường hay đưa đến hình ngục, kiện cáo …
      xét về sự trùng phùng, cần quan tâm đến sự hội tụ của sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đồng cung hoặc xung chiếu với các sao tình duyên trong một đại hạn hay tiểu hạn nào đó;
      sự đối khắc giữa hai Bản Mệnh trong trường hợp này nhất định phải có;

      cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê …

ST

BỘ SAO CÔ THẦN -QUẢ TÚ

1

Bộ sao CÔ THẦN -QUẢ TÚ

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cô Thần

Cô có nghĩa là mồ côi (mồ côi cha sớm gọi là “cô”) , còn có nghĩa là cô độc, (như “cô lập vô trợ” trơ trọi một mình không ai giúp), không cùng hòa hợp, đứng riêng một mình, trơ trọi
Thần có nghĩa là bầy tôi, kẻ thuộc dưới quyền, đồng thời có nghĩa là thiên thần, thần thánh hoặc tinh thần, thần khí.

Quả Tú
Quả có nghĩa là góa chồng, hoặc phụ nữ năm mươi tuổi mà chưa có chồng cũng gọi là quả. Tú có nghĩa là ngôi sao.
Hai sao này đại đa số các sách cho là hành Thổ, nhưng Việt Viêm Tử cho là hành Hỏa, Cô Thần thì Dương Hỏa, Quả Tú thuộc Âm Hỏa. Cô Thần chỉ đóng ở Tứ Sinh (Dần Thân Tỵ Hợi) và Quả Tú chỉ đóng ỏ Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi).
Cô Quả có ý nghĩa cô độc, trơ trọi, lẻ loi, đơn chiếc, lạnh lẽo, hiếm hoi nhưng cần xét kỹ vì Cô Quả cũng giống như Tả Hữu, là trợ tinh nhưng cường độ yếu hơn, gặp cát thì phù cát, gặp hung thì phù hung, theo hung tinh mà tác hại nhưng ảnh hưởng không mạnh mẽ. Đây là đặc điểm cần chú ý, chớ nên gặp Cô Quả thì cho là xấu, phải xét kỹ, nếu gặp nhiều hung tinh thì xấu thêm một chút, gặp nhiều cát tinh thì hóa cát thêm một chút vì cường độ chi phối không mạnh lắm và chỉ có ý nghĩa mạnh thiên về tinh thần khi ở Mệnh, Thân, Phối và Hạn, thiên về vật chất khi ở Điền Tài. Chú ý đặc tính của Cô Quả chỉ có nghĩa khi tọa thủ và đủ bộ (hai sao này luôn luôn tam hợp chiếu với nhau), còn hội chiếu, nhất là chỉ có một sao chiếu thì ý nghĩa bị giảm thiểu rất nhiều. Tính chất cô độc của Cô Quả tăng lên khi đồng cung với Đẩu Quân, Lộc Tồn, Vũ Khúc.Cô Quả hội với nhiều quí tinh, văn tinh thì là bậc học thức uyên thâm, tính tình nghiêm trang, cẩn thận. Hội với phú tinh và quyền tinh gặp thêm nhiều sao tốt thì là bậc đứng đầu thiên hạ vì cô còn có nghĩa là trội lên hết tất cả. Ở cung Tài Điền và Quan Lộc sáng sủa là hợp cách nhất khiến cho công danh, tiền tài, điền sản được bền vững hơn.

Thủ tại Mệnh, Thân thì :
Khó tính, kỹ lưỡng, mình làm việc gì cho chính mình thì ưng ý, còn người khác làm thì không cảm thấy hài lòng. Có khả năng ăn uống khó tính, không thích thì không ăn. Sống nội tâm, thường có sở thích riêng nào đó. Không chia Sẻ tình cảm, không thổ lộ tình cảm, khó ai hiểu được tính ý của bản thân cho dù là người rất thân với mình như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái. Bạn bè thì có thể có nhiều, và thông thường có nhiều bạn, nhưng bạn thân thì ít. Giao thiệp rộng rãi, nhưng chỉ là giao thiệp mà thôi, ít kết thân, kỹ lưỡng trong vấn đề chọn bạn (Cho dù có Tả, Hữu đồng cung cũng ít bạn thân). Nếu ai không hợp ý thì thông thường sẽ xa lánh không giao thiệp hoặc không thèm quan tâm đến. Lạnh lùng (rõ nét khi đồng cung với Vũ Khúc). Thường ít người thích do lạnh lùng, khó tính.

Trên vấn đề hôn nhân tình cảm thì thường chậm trễ bắt nguồn từ sự khó tánh của bản thân, sự kén chọn, nếu có Đào Hồng chiếu thì vẫn có người theo đuổi nhưng lại quá kén chọn bỏ qua nhiều dịp. Gặp thêm Vũ Khúc thì càng rõ nhưng cần phân biệt rằng Vũ Khúc ảnh hưởng mạnh hơn Cô Quả. Nữ nhân Vũ Khúc, Kình, Quả đồng cung thì dễ không chồng do quá khó tính. Nam nhân có Cô Thần, nữ nhân có Quả Tú thủ Mệnh, nếu không được cát tinh hóa giải, thì dễ đưa đến đơn độc, khắc cha mẹ, hoặc khắc vợ chồng, hoặc khắc anh em như không ở gần cha mẹ, vợ chồng anh em, ly cách với họ, hoặc không vợ không chồng không con, hoặc góa vợ, góa chồng (Nam kị Cô, Nữ kị Quả). Nếu Nam Quả nữ Cô thì đỡ xấu nhiều hơn, có con thường chỉ tối đa là hai người, thường là hoặc nam hoặc nữ và con cái không gần với cha mẹ. Đồng cung với Vũ Khúc thì gia tăng tính cô độc. Mọi cát tinh, nhất là hành Mộc, dều có thể hóa giải tính chất cô độc của Cô Quả, càng nhiều cát tinh thì càng hóa giải mạnh.

Các bộ sao kết hợp
Cô hay Quả gặp Vũ Khúc: nữ Mệnh gặp thì tối kị, lận đận về đường chồng con. Quả Tú Đào Hoa gặp Thiên Mã: nữ Mệnh thì tình duyên lận đận, số phận chìm nổi lênh đênh. Cô Thần, Thiếu Dương đồng cung tại Dần Thân Tỵ Hợi: sáng suốt, nhân hậu. Cô Thần gặp Hồng Loan, Thiên Không đồng cung tại Dần Thân Tỵ Hợi: từ thiện, đạo đức.

Cô Quả tại các cung:
Hai sao này ảnh hưởng đến tinh thần là chủ yếu khi đóng ở Bào, Phụ Mẫu, Tử Tức, Thiên Di, Phối, Nô, Phúc Đức. Vì có ý nghĩa cô độc, trơ trọi, lẻ loi, đơn chiếc, lạnh lẽo, hiếm hoi nên nếu không gặp cát tinh (chú ý điều này) thì có hại cho việc cầu hôn nhân, cưới hỏi, đoàn tụ, gây bất lợi cho cá nhân trong quan hệ ngoài xã hội, trong gia đình như trong tương quan giữa cá nhân với bạn bè, người giúp việc, người hôn phối, cha mẹ, con cái, anh em, họ hàng.

Cung Nô
Ít bạn thân cho dù thông thường có nhiều bạn bè, bạn bè thường không hiểu nhau. Nô tốt thì bạn bè nhiều nhưng không quan hệ lâu dài được phải xa cách bạn bè vì một lý do gì đó, bạn bè tụ rồi tan.

Huynh Đệ
Anh em mỗi người mỗi ý nhưng cũng không có nghĩa là xung khắc. Chủ giảm số lượng anh em, không có nghĩa là không có anh em, nhưng anh em dễ xa cách nhau. Không hay thổ lộ tình cảm với anh em hoặc anh em không hiểu tính mình. Huynh Đệ xấu hoặc không cát tinh thì hoặc hiếm anh em (hai người là nhiều, nhiều hơn thì không hợp tính, hoặc không ở gần nhau), không nhờ cậy được anh em, hoặc ở xa cách anh em, hoặc anh em bất hòa. Huynh đệ tốt thì cũng được anh em giúp đỡ, thông thường nhiều anh em nhưng anh em ly tán.

Phụ Mẫu
Thường con cái và cha mẹ mỗi người một ý nhưng chưa hẳn là khắc nhau. Phụ Mẫu xấu thì hoặc không hợp tính với cha mẹ, cha mẹ và con cái không hiểu tính nhau, hoặc không được cha mẹ giúp đỡ, hoặc có cha hoặc mẹ chết sớm (khi có hung sát tinh tại Phụ Mẫu). Phụ Mẫu tốt thì cha mẹ lại hay quan tâm đến con cái, được cha mẹ quan tâm nhưng thường sớm xa cách cha mẹ (Phụ Mẫu có Cô Quả Tuần hay Triệt án ngữ là một cách sớm ly hương hoặc xa cách cha mẹ một thời gian).

Phối Thông thường chậm hôn nhân, hoặc sống độc thân, hoặc vợ chồng không hiểu tính nhau, không hợp ý nhưng không có nghĩa là xung khắc.
Phối xấu thì bất hòa, chửi nhau, hoặc sống với chồng vợ cảm thấy lẻ loi, cô đơn, không chia xẻ tình cảm, nếu gặp hung sát tinh thì có thể đưa đến vợ chồng sinh ly hoặc tử biệt, hoặc vợ chồng phải xa cách một thời gian, hoặc vợ chồng ít khi gặp nhau, không ỏ gần nhau, lâu lâu mới gặp gỡ. Phối tốt thì cũng tốt nhưng vợ chồng thường ít chia sẻ tình cảm cho nhau, không hợp tính nhưng không xung khắc. Nếu vợ chồng sống hợp nhau thì thông thường lại không có con cái .Vũ Khúc gặp Cô Quả thì cho dù có rất nhiều sao tốt vợ chồng cũng không hợp tính.

Tử Tức
Giảm số con nhưng chưa hẳn là hiếm con hoặc khắc con. hông thường hay chăm sóc cho con cái. Tử Tức xấu thì hoặc ít con (thường chỉ hai con là nhiều), hoặc muộn con, hoặc con không gần cha mẹ, hoặc không hợp tính với con, hoặc xa con khi con còn nhỏ, hoặc con lớn lên không ở gần cha mẹ.
Tử tức tốt thì con cái cũng đông và tốt như thường,có nhiều quí tinh thì con đỗ đạt và rất chăm sóc con cái.

Phúc đức
Gây ra sự ngăn cách giữa bản thân và họ hàng, thông thuờng không hợp tính với họ hàng nhưng không có nghĩa là khắc. Họ hàng hoặc ít người, hoặc không gần gũi họ hàng. Phúc Đức tốt thì cũng không nhờ cậy họ hàng được cho dù họ hàng khá giả.

Thiên Di
Ra ngoài ít bạn thân nhưng thông thường có nhiều bạn, thông thường có quan hệ rông rãi, nhưng ít kết bạn thân, chọn lọc kỹ lưỡng. Di xấu thì ít được người giúp đỡ, thường phải tự lực là chủ yếu. Di tốt thì cũng được người giúp.

Tài và Điền
Là sao giữ của, tiền của không bị hao tán, điền sản bền vững nhưng không có nghĩa là bần tiện keo kiệt. Thông thường ăn tiêu dè xẻn. Tài và Điền sáng sủa thì của cải điền sản rất bền vững. Tài Điền xấu thì giảm xấu đi một chút.

Quan
Tùy theo tốt xấu mà gia giảm đi một chút.

Hạn
Đại Hạn có Cô Quả thì thông thường khó lập gia đình nhưng tiểu hạn có Sát Phá Tham gặp Đào Hồng Cô Quả Thiên Mã thì hết đơn côi, nghĩa là lập gia đình
Cô Quả thủ mà Hồng hoặc Đào chiếu thì được người theo để ý nhưng lại kén chọn, không ưng ý.

CÔ THẦN (Thổ) QUẢ TÚ (Thổ)

1. Ý nghĩa tính tình: – lạnh lùng trong việc giao thiệp – khó tính, câu chấp, khắt khe, nệ tiểu tiết, ai trái ý không muốn chơi, không biết chiều chuộng – lập dị, khắc kỷ, vô duyên – cô độc, không thích giao thiệp, ít ưa bạn bè, bạn bè cũng ít ưa đương sự (giống như sao Đẩu Quân)2. Ý nghĩa phúc thọ: Cô Quả chỉ sự cô đơn, chiếc bóng, nhất là đối với phái nữ. Đây là một yếu tố của sự góa bụa của phái nữ. Do đó, Cô Quả có hại cho hôn nhân, cho sự cầu hôn, cho sự đoàn tụ, chung sống của vợ chồng.

3. Ý nghĩa liên quan đến tài sản: Tại cung Điền và Tài, Cô Quả chủ sự cầm của, tức là gìn giữ được của cải bền vững nhờ sự so đo, suy tính hơn thiệt trước khi xài, xài kỹ lưỡng, nếu không nói là hà tiện. Về điểm này, Cô Quả giống sao Đẩu Quân.

4. Ý nghĩa của cô quả ở các cung:
a. ở Phúc, Tử, Bào: – hiếm anh em, có thể là con một – hiêm con cái, có thể rất chậm vợ/chồng.
b. ở Phu Thê: – cô đơn, không được chiều đãi, cô độc, dù có vợ/chồng nhưng vẫn thấy lẻ loi, thiếu tình thương. – bị bỏ rơi, thất tình – có thể góa bụa hay không vợ/chồng nếu gặp hung sát tinh, nếu cùng chiếu vào Phúc và Phu, Thê. – phải xa vợ/chồng một thời gian rất lâu.
c. ở Di, Nô: – ít bạn bè, không thích giao thiệp, khó tính – không thích nghi với xã hội – thiếu hạnh phúc ngoài đời, miễn cưỡng sống ở đời, không cảm thấy hanh thông. Đi với Đẩu Quân, ý nghĩa nói trên càng thêm rõ.

5. Ý nghĩa cô quả và các sao khác:
– Quả, Phục: bị nói xấu, bị gièm pha bởi tiểu nhân; nói xấu, gièm pha người khác. – Quả, Kị, Tuế : bị ghen ghét, ruồng bỏ, thất sủng; bị nhân tình bỏ. – Quả, Đào, Mã: đàn bà số phận lênh đênh, có nhiều nhân tình mà không ở lâu được với người nào. Nếu Mệnh, Thân xấu, có thể là gái giang hồ.

CÔ THẦN VÀ QUẢ TÚ QUA 12 CUNG

0

Cô Thần và Quả Tú qua 12 Cung

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Thường thường các bạn nghiên cứu về Tử-Vi đều có thành kiến không hay về hai sao Cô Thần và Quả Tú, cho rằng hai sao này chỉ hợp với các cung Tài Bạch và Điền Trạch mà thôi. Vì vậy tôi cố ý đăng bài này trong số tất niên KHHB mà không dám dời qua năm Quý Sửu, sợ các bạn cho là điềm xấu cho năm mới, mặc dầu sau khi đọc bài này quí bạn không thấy Cô Thần – Quả Tú là “đáng nghét”. Và cũng vì lý do này mà tôi không ngần ngại dành bài trên cho số tất niên KHHB là số báo cũng cần đem lại cho quí độc giả những niềm hy vọng tốt đẹp cho năm tới, đồng thời tôi cũng mong rằng trong năm Quý Sửu nếu quý bạn nào gặp hai sao này sẽ hội được đủ yếu tố hay như tôi trình bầy dưới đây.

—– o0o —–

Cô Quả tại Mệnh, Thân

Bình thường nếu hai sao này chiếu Mệnh Thân thì đúng như các sách tử-vi đã ghi, nghĩa là chủ về cơ đơn, khắt khe, lạnh lùng, kỹ lưỡng, câu nệ, đa nghi…Nhiều người còn phân biệt “nam Cô, nữ Quả” cho rằng đàn ông kị Cô Thần, đàn bà kị Quả Tú tại Mệnh, nhưng rồi nghiệm thấy rằng vì hai sao này bao giờ cũng chiếu nhau cho nên Mệnh Thân nếu có bất luận sao nào cũng bị ảnh hưởng theo những nghĩa trên đây, chỉ có khác vấn đề nặng hay nhẹ mà thôi. Tôi chưa thấy một người đàn bà nào mạng có Cô Thần mà sung sướng về tình cảm, hôn nhân, hoặc một người đàn ông nào có Quả Tú mà thoải mái về hạnh phúc vợ chồng (trừ trường hợp đặc biệt dưới đây), đấy là chưa kể tới trường hợp gặp thêm sao Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn là những sao cũng chủ về cô đơn. Chỉ có một sự khác biệt nhỏ là nếu gặp đúng sao kị mình thì thời gian trắc trở hoặc xa cách dài hơn, hoặc đau thương hơn. Ngoài ra tôi cần nói thêm rằng khi Mệnh Thân đã có một trong hai sao này thì đừng ham có sao Đào Hoa đồng cung để chế hóa bớt. Vì như thế còn tăng thêm sự khó khăn về tình yêu , hôn phối (Cô Quả thuộc Hành Thổ- có sách nói thuộc Hỏa – không hợp với Đào Hoa thuộc Mộc, và nếu Cô Quả là Hỏa chăng nữa cũng không tốt, vì Đào Hoa là Mộc sinh Hỏa thì lại càng tăng thêm sự cô đơn hơn nữa) hãy mong Đào Hoa ở cung khác để vớt vát được phần nào lãnh vực tình cảm (như ở Thiên Di chẳng hạn). Nếu trường hợp trên có thêm Hóa Kị đồng cung nữa thì thực là bất hạnh vì sẽ trở thành người đồng tính luyến ái…

Như vậy chắc là hai sao Cô Quả chiếu mạng, Thân toàn là xấu chăng? Tôi xin thưa ngay là không. Nếu quý bạn gặp trường hợp Cô Quả hội đủ bộ sao tốt, quyền quí như bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Quang Quý, Long Phượng, Khôi Việt, Khoa, Quyền, Lộc… thì phải nói rằng Cô Quả đã đứng đúng chỗ, đã có môi trường làm cho công danh của mình lên cao mạnh mẽ. Đó là cách vua chúa, lãnh tụ, chỉ huy (vua chúa ngày xưa, nhất là trong các truyện Tàu, thường tự xưng là cô- gia hoặc quả-nhân), nhưng có điều là độc tài thái quá vì hai sao Cô Quả lúc đó chủ về “duy ngã độc tôn” rồi. Còn vấn đề cô đơn thì gần như không có xẩy ra, vì Cô Quả đã có môi trường khác (vua chúa ngày xưa có bao nhiêu cung tần mỹ nữ không có lẽ còn bị cô đơn).


Cô Quả tại Phụ Mẫu

Nhiều vị đoán tử-vi cho rằng hai sao này khi ở cung Phụ Mẫu có nghĩa là cha mẹ ít khi sống gần nhau hoặc dễ bị ly di, nhưng theo kinh nghiệm riêng tôi nhận thấy trường hợp cung Phụ Mẫu có Cô Quả thường chủ về:
– Cha hoặc mẹ ít anh em trai (không kể gái), nhất là khi có thêm Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn đồng cung. Nếu có Thái Dương đồng cung thì chắc chắc cha ít anh em trai, nếu có Thái Âm thì chính mẹ ít anh em trai :
– Cha hoặc mẹ là con trưởng trong gia đình, trong trường hợp có nhiều em trai, nhất là khi có Tử-Vi hoặc Thiên Phủ hội Hóa Quyền hoặc Khôi Việt đồng cung. Về điểm muốn phân biệt cha hoặc mẹ thì có vị cho rằng khi Tử-Vi hoặc Thiên Phủ cư cung Dương thì cha là con trưởng, còn cư cung Âm là mẹ. Tuy nhiên điểm này tôi nghiệm thấy không đúng mấy. Chỉ dễ đoán khi có Nhật hay Nguyệt. Nếu 4 sao trên đều không có thì hơi bí.
Trường hợp cả hai điểm trên đây đều không ứng nghiệm, thì đành phải đoán rằng lúc đương số ra chào đời, cha mẹ bị tang tóc hoặc xa cách nhau một thời gian ngắn, nhất là có Thiên Mã ngộ Tuần Triệt. Nếu có Thái Dương thì cha đi xa hay có tang, nếu có Thái Âm thì chính là mẹ. Còn Nhật Nguyệt đồng cung thì tùy theo sinh ngày hay đêm, nhưng trường hợp này lại không bao giờ có Thiên Mã vì Mã chỉ cư Dần Thân, Tỵ, Hợi chứ không cư Sửu Mùi được.

Cô Quả tại Phúc Đức

Về cung này, các sách đều nói là trong giòng họ hiếm người nhưng tôi nghiệm thấy nhiều trường hợp không phải hiếm người, mà thực ra vì dòng họ phân tán đi các nơi nên mới hiếm, hoặc là có trường hợp không phân tán thì mạnh ai người ấy sống, chẳng ai giúp ai được việc gì, anh em “kiến giải nhất phận”. Ngoài ra, tôi cần nói thêm rằng nếu có thêm Đào Hồng, Nhật Nguyệt hội chiếu thì phải đoán rằng trong dòng họ có nhiều đàn bà hiếm con trai, hoặc sống trong cảnh góa bụa, độc thân suốt đời. Tôi chưa nghiệm được sao gì thì chủ về đàn ông trong giòng họ bị như vậy, tuy có vị cho rằng khi có Nam Đẩu Tinh (chính tinh) thì chủ về đàn ông, nhưng nhiều khi sai.

Cũng vì 2 sao này có ý nghĩa nêu trên, cho nên khi cung Phúc Đức của mình nếu có Cô Quả thì tuyệt đối mình không nên sống chung đụng với họ hàng, kể cả anh em ruột thịt để tránh sự hiềm khích, va chạm có thể đi tới chỗ tuyệt tình. Ở xa thì 2 sao này đã có môi trường hoạt động nên trong giòng họ có thể thuận hòa với nhau được, tuy không ai hết lòng với ai.

Cô Quả tại Điền Trạch

Thường thường trong các sách tôi đã có dịp đọc, tôi nhận thấy sách nào cũng chỉ nói rằng: Cô Quả rất lợi ích cho cung Điền và Tài (Cô Quả yếu thủ Điền Tài) mà thôi, nhưng tôi cho rằng cần phải phân biệt như sau để biết lợi hại ra sao:
– Nếu Cô Quả hội với nhiều sao tốt như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Hóa Quyền, Long Phượng, Thai Tọa, Khôi Việt, Đào Hồng (nhưng cần Mệnh là Hỏa hoặc Thổ mới tốt) thì có nghĩa là mình có biệt thự khang trang, nguy nga, đồ sộ, có vườn cây xung quanh, ở nơi thanh tịnh, biệt lập, vì Cô Quả lúc đó ứng vào cô-gia, và vẫn có nghĩa giữ vững được nhà cửa lâu dài. Như thế mới thực là tốt đẹp. Cũng có khi ứng vào việc mua bán nhà với một người góa, hoặc được thừa hưởng tài sản nhà cửa của chú bác, cô dì không có con thừa tự (với điều kiện cung Điền có chính tinh tốt và hợp mệnh, đồng thời không bị Tuần Triệt án ngữ).
– Còn trường hợp Cô Quả hội với các sao xấu, hãm địa, khắc Mệnh và cung Mệnh Thân, Tài Quan cũng không được tốt thì thực là bất hạnh, nghĩa là mình phải ở một căn nhà lụp xụp, vừa ở nơi hẻo lánh, xa xôi (vùng ngoại ô chẳng hạn), mà lại không bao giờ bán đi được, như thế chứng tỏ là mình nghèo hèn suốt đời. Vì vậy đừng có thấy Cô Quả cư Điền đã vội mừng.


Cô Quả tại Quan Lộc

Tôi không thấy trong các sách Tử-vi nói đến Cô-Quả ở cung Quan-Lộc một cách rõ rệt, do đó tôi lấy kinh nghiệm riêng mà bàn với quý bạn như sau:
– Bình thường Cô Quả ở cung Quan chủ về soi mình làm việc không có những người đồng liêu hoặc đồng nghiệp, đồng chí hướng với mình, mà đa số đều ích kỷ, hay giấu nghề, giấu việc. Nếu không thì chính những người trên của mình đều khắt khe, tỉ mỉ quá làm cho mình mất hết tự do, sáng kiến. (gặp trường hợp này mà xin thăng cấp, tăng lương chắc là hơi khó và hơi lâu).
– Bù lại, nếu Cô Quả gặp các sao quyền quý như Khoa Quyền Lộc, Tướng Ấn, Long Phượng, Quang Quý, Thai Tọa, Khôi Việt, Tả Hữu… thì lại rất tốt, như thế có nghĩa là mình làm chức lớn ngồi riêng một văn phòng đẹp đẽ, khang trang. (như bây giờ có máy lạnh là cái chắc), không phải ngồi chung với nhân viên, có điều gì cần là bấm chuông gọi.

Cô Quả tại Nô Bộc

Thường thường cung Nô Bộc nếu có bộ sao Cô Quả chiếu được giải đoán như sau:
– Nếu không hội với nhiều sao tốt, mình nên dùng những người dưới quyền góa bụa, độc thân, thì họ trung thành hơn. Nhất là trường hợp có thêm Thiên Hình, Đẩu Quân thì lại càng chắc chắn hơn nữa, nhưng những người này cần phỉa có mang tật gì ở thân thể (như vết thẹo ở mặt, chân, tây, mắt lé, thọt chân…) thì họ sẽ trở thành những người dưới quyền có lương tâm, làm ăn cẩn thận.
– Nếu hội với nhiều sao tốt, nhất là có thêm Hóa Quyền, thì người dưới tay, hay âm mưu phản phúc, lấn quyền một cách khéo léo, gián tiếp (vì lúc đó Cô Quả chủ về thâm trầm, ích kỷ, kín đáo…)
– Nếu hội với Nhật Nguyệt, lúc mình sa cơ thất thế, chẳng có đàn em nào giúp đỡ, đoái hoài tới, nhất là có thêm Hóa kị mà không có sao nhân hậu hội chiếu như Thai Tọa, Tả Hữu, Quan Phúc.

Cô Quả tại Thiên Di

Thường thường những người có địa vị cao trong xã hội ít khi có sao Cô Quả chiếu Thiên Di, vì những sao này chủ về vấn đề ít giao thiệp, ít người cộng tác, hoặc cùng nữa là chính mình không ưa giao thiệp rộng một điều trái ngược với cách làm lớn. Ngoài ra, về phương diện tình cảm, nếu Cô Quả chiếu Thiên Di lại hội với Đào Hoa, Hóa Kị thì hết hy vọng chinh phục được những người khác phái, dù cho mình đẹp trai hoặc có nhan sắc diễm lệ (đối với nữ) chăng nữa. Tôi đã từng được coi những người mệnh có nhiều sao thu hút được người khác phái (như Tham Lang, Đào Hồng Hỷ, Quang, Quý, Thanh Long….) mà lúc nào cũng bị thất bại trong vấn đề chinh phục người yêu, chỉ vì cung Thiên Di có Cô Quả (I) có chàng chinh phục được thì lại bị người yêu bỏ đi lấy chồng, vì gia đình bắt buộc, có nàng làm cho ý trung nhân say mê mình được thì đùng một cái bị một cô khác đẹp hơn cướp mất chồng tương lai của mình…, Vì vậy thanh thiếu nên nam nữ bây giờ nếu muốn có tài “ thu hút” ở ngoài xã hội thì phải tránh được hai sao Cô Quả chiếu Thiên Di. Thà rằng hai sao này chiếu Mệnh còn đỡ hơn, vì như thế mình chỉ cô đơn khi ở nhà, còn khi bước chân ra ngoài là “ hấp dẫn” (Nếu Thiên Di có Đào Hoa chẳng hạn).

Cô Quả tại Giải Ách


Vì Cô Quả là các sao tiết chế, giới hạn nên khi chiếu cung Giải Ách lại thành ra hay, có nghĩa là mình ít bệnh tật, tai nạn, nhất là khi hội với Thiên Không lại càng tốt thêm nữa. Tuy nhiên, vì hai sao này vẫn có tính cách, duy trì, gìn giữ nên mình vẫn dễ bị những bệnh tuy không hiểm nghèo nhưng triền miên suốt đời mà người ngoài không nhận thấy. Thí dụ như hội với Hóa Kị (tượng trưng cho bộ tiêu hóa, ruột) lại thêm Song Hao thì nhất định phải đeo bịnh đau bụng, khó tiêu, no hơi lu bù, vì Cô Quả dù là Hỏa hay Thổ cũng đều không hợp với Hóa Kị, là thủy và Song Hao nếu có là thủy chăng nữa vẫn không hợp với Cô Quả là Thổ ( thường thường ta đều cho rằng Song Hao thuộc Hỏa, và nếu như vậy còn hùa với Cô Quả khác Hóa Kị nữa). Ngoài những điểm trên, Cô Quả chiếu Giải Ách còn chủ về vấn đề ưu tư trong thâm tâm, những nỗi buồn xa xôi mà chỉ có tiềm thức của mình mới nhận thấy, và nhiều khi mình lại khó khăn với chính mình.

Cô Quả tại Tài Bạch

Trong khi Hóa Khoa được tôn là đệ nhất giải thần, thì Cô Quả được tôn là thần giữ của, cho nên ở cung Tài Bạch là hợp. Đó là một nhân định chủ quan quá, vì tôi đã nghiệm thấy những người muốn buôn to bán lớn cần phải có sự hùn hạp, cộng tác với người khác về tiền tài nếu có Cô Quả thì cứ khư khư giữ tiền làm sao có thể khuếch trương lớn, như vậy chỉ có thể giới hạn trong một tiệm buôn nhỏ hoặc một lãnh vực thu hẹp mà thôi. Nếu may ra có Phá Quân (cư Tí Ngọ mới tốt) hoặc Song Hao hội chiếu lại rất hay, vì như thế mỗi khi mình muốn tung tiền ra kinh doanh, bao giờ cũng chắc ăn, thận trọng nhờ sao Cô Quả.
Tuy nhiên, đối với những người không có óc thương mại, nếu Cô Quả lại hội với Thiên Phủ, Vũ Khúc ( đều tượng trưng cho kho chứa). Tướng Ấn, Tả Hữu, Thai Tọa… thì lại chủ về những người chuyên về giữ tiền bạc, tài chánh (nếu có thêm Song Lộc và một số cách tốt nữa có thể làm chủ ngân hàng). Nếu quý bạn làm giám đốc xí nghiệp, học cơ quan nào, nên giao cho những người có cách này giữ két bạc thì chẳng sợ thất thóat, sai lầm với điều kiện đừng có Hỏa Linh, Không Kiếp đi với Tham Lang chiếu cung Tài Bạch của những người đó.

Cô Quả tại Tử Tức

Chiếu cung Tử Tức ,Cô Quả thường chủ về một trong những điểm như sau ( ít khi ứng nghiệm cùng một lượt) :
– Con cái lúc mới sinh, nhất là đối với đứa đầu lòng, hay bị bịnh tật, tai nạn làm cho cha mẹ phải vất vả, lo âu. Nhưng khi lớn lên thì vẫn dễ nuôi nếu không có thêm hung sát tinh. Về điểm này có câu phú “Cô thần, Quả tú hai sao, gian truân vất vả về hài nhi sinh”.
– Sinh con trễ, nghĩa là sau khi lập gia đình thường thường không thai nghén liền, mà ít ra cũng phải nhiều tháng sau mới có tin mừng.
– Thận trọng và hay kiêng cữ để tiết giảm sinh đẻ. Nhưng cặp vợ chồng nào có Cô Quả tại cung Tử Tức, có thể áp dụng mọi phương pháp hạn chế sinh đẻ một cách hữu hiệu mà không trái số. Nếu thêm nhiều sao xấu đừng kiêng cữ nữa kẻo bị tuyệt tự.
– Nếu có nhiều sao văn học, quyền quý, con cái khi lớn lên hay ở xa cha mẹ, vì chức vụ, hoặc ngay trong thời gian đi học cũng dễ xuất ngoại hoặc ở nội trú.


Cô Quả tại Thê Thiếp (hay Phu Quân)

Cũng giống như trường hợp tại cung Phụ Mẫu, Cô Quả ở cung Thê Thiếp (hay Phu Quân) chủ về người vợ (hay chồng) ít anh em trai hoặc làm con trưởng trong gia đình. Ngoài ra hai sao này còn có nghĩa là vợ chồng, hay có thời gian xa cách nhau. Nếu có sao tốt là vì công vụ nghề nghiệp, nếu có nhiều sao xấu vợ chồng có thể bị cảnh chia ly vĩnh viễn. Trong trường hợp có sao tốt mà vợ chồng không bao giờ xa cách nhau thì phải hiểu rằng vợ chồng giữ gìn nhau rất chặt chẽ, khó lòng có chuyện ngoại tình nổi và nhất là cả đôi bên cùng độc đoán, cương quyết và đa nghi. Nếu có Đào Hồng đồng cung thì rất có thể gặp phải người dở duyên (nghĩa là có vợ hoặc chồng rồi) đang ở góa. Trường hợp Đào Hồng tại Mệnh Thân thì rất khó kết hôn sớm hoặc có sớm được cũng không bền, như sương đọng ban mai mà thôi. Đây mới đúng là cách “trăm mối tối nằm không”.

Cô Quả tại Huynh Đệ

Về cung này tôi chưa tìm ra được điều gì khác lạ, chỉ có điểm là anh em không nên sống gần nhau, hoặc phải có người sống xa cách hoặc vì ngoại cảnh gây nên (như vấn đề di cư khiến cho anh em kẻ nam người bắc chẳng hạn). Ngoài ra hai sao này cũng tiết chế bớt số anh em, chị em. Nếu có Đào Hồng, Thiên không thì chị em gái dễ bị dang dở, trắc trở nhiều lần về hôn phối, hoặc lấy chồng không cưới hỏi.

Trước khi chấm dứt bài này tôi thấy cần nêu ra một điểm nữa: nhiều người nhờ tôi coi dùm tử – vi có thành kiến xấu về hai sao Cô Quả đến mức là khi thấy tới Đại Tiểu Hạn có Cô Quả chiếu là đâm lo về vấn đề chia ly, cô đơn, hạnh phúc vợ chồng xáo trộn. Thậm chí có những quân nhân thấy gặp hạn Cô Quả là lo bị cắm trại 100% thực sự, bị đổi đi xa, bị giam giữ tại quân lao v..v…
Kể ra họ lo ngại như thế cũng đúng vì ít khi gặp hai sao này ở đại tiểu nguyệt hạn mà thật yên lành, ngoại trừ trường hợp có nhiều sao tốt hội chiếu thì có nghĩa là mình có chức lớn được ở phòng riêng (như đã nói ở cung Quan Lộc), được chính phủ cấp nhà ở, hoặc mình tạo được nhà ra ở riêng không sống chung với cha mẹ, anh em nữa, tùy theo trường hợp đại tiểu hạn liên hệ tới cung nào (về điểm này nên kết hợp địa bàn với thiên bàn mới đúng). Ngoài ra, dù biết rằng mình bị ảnh hưởng xấu của hai sao này rồi vẫn còn phải xét tới ngũ hành, nghĩa là xem Cô Quả (Thổ) nếu sinh mạng mình (như Kim chẳng hạn) hoặc khắc mạng mình (như Thủy) thì mới đáng ngại, còn trường hợp mạng mình khác hai sao đó thời vấn đề cô đơn, chia ly không còn đáng ngại nữa. Nếu mạng mình sinh hai sao là xấu nhất, thì mình đã bị tiết khí nhiều lại còn bị hai sao đó quặt ngược trở lại, thì kể như chắc chắn cô đơn, chia lìa nếu Mệnh Thân có thêm cách khắc khổ, cô độc (như có Vũ Khúc, Lộc Tồn, Kiếp Sát, Thái Tuế..v..v…).

MẪU NGƯỜI “MỆNH THÂN ĐỒNG CUNG” VÀ THÂN CƯ PHÚC

0

MẪU NGƯỜI “MỆNH THÂN ĐỒNG CUNG” và THÂN CƯ PHÚC

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Nếu khoa Phong Thủy chia căn nhà ra làm 8 cung và mỗi cung là lãnh vực trong đời sống con người, và cũng là biểu tượng của mỗi thành viên trong gia đình, thì khoa Tử Vi Đẩu Số cũng cùng một quan niệm như vậy. Khoa Tử Vi còn chi tiết hơn chia lá số ra thành 12 cung và mỗi cung cũng là một nét sinh hoạt, là một khoản thời gian nào đó của một đời người. Như chúng ta đã nói ở chương trước, 12 cung của khoa Tử Vi theo thứ tự gồm có Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Lộc, Tử Tức, Phu Thê, và Huynh Đệ. Nhưng thực tế một lá số không chỉ có 12 cung mà còn có một cung thu 13 gọi là cung Thân. Đặc biệt cung Thân không đóng riêng rẽ ở một vị trí nào trên lá số mà nó luôn luôn đóng chung với 1 trong sáu cường cung là Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di hoặc Phu Thê.


Trong 13 cung, cung Mệnh và cung Thân là quan trọng nhất. Đầu tiên là cung Mệnh. Khi nói về chữ “mệnh” chúng ta thấy nó mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Cái ý nghĩa thứ nhất của chữ mệnh đó chính là bản thân của đương số. Xung quanh cuộc đời của cá nhân đương số còn có cha mẹ (Phụ Mẫu), anh em (Huynh Đệ) vợ chồng (Phu Thê) con cái (Tử Tức) rồi tới bạn bè đồng nghiệp, thuộc hạ (Nô Bộc) và cả cái xã hội mà đương số phải đương đầu va chạm hằng ngày (Thiên Di)
Ý nghĩa thứ hai của chữ “mệnh” là Thiên Mệnh, là số trời, là cái quan niệm mỗi người sinh ra vào giờ nào, ngày nào, tháng nào, năm nào thì cuộc đời đã được an bài sắp đặt sẳn rồi. Bởi vậy Mệnh được xem như nền móng của một căn nhà. Nếu nền móng không vững chắc, kiên cố thì những gì xây dựng trên đó cũng không thể nào tồn tại lâu dài được. Đó là trường hợp của những người có các cung chính như Quan Lộc, Tài Bạch, Diền Trạch v.v… tốt đẹp, sáng sủa, nhưng Mệnh yếu thì tiền tài, danh vọng, của cải cũng chỉ như cái bóng to lớn trên tường mà thôi.
Tuy nhiên, dù là môn khoa học huyền bí nhưng ngoài quan niệm chủ yếu “Thiên Mệnh” khoa Tử Vi không quên một yếu tố thứ hai sẽ dự phần vào đời người, đó là quan niện “nhân định” Vì thế Tử Vi Đẩu Số mới có một cung di động gọi là cung Thân, là cung quan trọng thứ nhì trong một lá số.
Khoa Tử Vi cho rằng cung Mệnh là căn bản của một đời người. Nhưng cung Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ nhất vào giai đoạn của một đời người hay gọi là ”tiền vận”. Tiền vận là khoản thời gian từ lúc sinh ra cho đến khoản 30 tuổi. Nhưng có người tính tiền vận theo Cục. Ví dụ:

Thủy Nhị Cục thì tiền vận từ 1 đến 32 tuổi
Mộc Tam Cục thì tiền vận từ 1 đến 33 tuổi
Kim Tứ Cục     ……………..1 đến 34 tuổi
Thổ Ngủ Cục   ………………1 đến 35 tuổi
Hỏa Lục Cục   ………………1 đến 36 tuổi
Chúng ta thấy quan niệm này của Tử Vi rất hợp lý vì con người từ lúc sinh ra cho đến khoản 30 tuổi hầu như sống dưới mái ấm của gia đình, bên cạnh tình thương yêu của cha mẹ, và sự dùm bọc của anh em. Mãi cho đến khi 30 tuổi trở lên là lứa tuổi trung bình cho hầu hết mọi người để tự lập thân, bước chân vào bương trải với đời. Đó là lúc ứng vào cung Thân của lá số.


Sau tiền vận thì cung Thân ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoản thời gian còn lại của cuộc đời, nó bao gồm cả trung vận và hậu vận của mỗi người. Bởi vậy khi nói đến sự quan trọng của cung Mệnh và Thân, chúng ta thấy có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất chú trọng cung Thân hơn cung Mệnh và luận cứ của quan điểm này là trong khỏan tiền vận chúng ta thường sống dưới mái ấm gia đình, trong vòng tay che chở của cha mẹ cho nên nếu cung Mệnh có tốt thì cũng chưa làm nên cơm cháo gì được. Ngược lại nếu cung Thân tốt thì sẽ hữu hiệu hơn cho cái tuổi “tam thập nhị lập” tức là tuổi bắt đầu lăn lộn vào đời lập nghiệp cho nên rất cần có một cung Thân tốt đẹp.
Quan điểm thứ hai thì cho rằng, cuộc đời như một cái cây mà Mệnh là gốc rễ, Thân là những nhánh cây, cành lá. Nếu gốc rễ không vững chắc thì cành lá cũng khó mà xanh tươi, đơm hoa kết qủa được. Người viết đồng tình với quan điểm này. Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ ở tiền vận nhưng vẫn luôn là căn cơ, cốt lỏi là nền tảng của một đời người. Và khi nói về cung Thân, chúng ta phải nhớ một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là khi cung Thân đóng chung với cung nào thì những ý nghĩa tốt xấu của cung ấy sẽ là những nét chính yếu trong cuộc đời của ngưòi ấy. Như vậy thì người có Thân cư Mệnh là mẫu người như thế nào?
Sắc nét đặc biệt đầu tiên của người này là lòng tin vào thiên mệnh rất mạnh. Vì như chúng ta đã nói ở trên, cái ý nghĩa đầu tiên của chữ Mệnh là ý trời = mọi việc đều do Trời định, là định mệnh. Mẫu người này ít tin vào quan niệm “Nhân định thắng thiên” cho nên khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, trắc trở họ thường nhắm mắt buông tay mặt cho số phận xoay vần vì thuyền đời của họ đã lỡ neo vào bến Mệnh rồi, chỉ còn biết trong nhờ đục chịu mà thôi.
Một đặc điểm thứ hai đáng kể của người Thân Mệnh đồng cung là không có những khúc quanh cũng như những biến đổi lớn lao nào trong suốt cuộc đời của họ. Như đã bàn ở trên, Mệnh ảnh hưởng mạnh vào tiền vận. Thân ảnh hưởng mạnh vào trung vận và hậu vận. Bởi vậy khi Thân và Mệnh đồng cung thì Mệnh và Thân đều ảnh hưởng chung vào cả cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa đời. Có nghĩa là nếu đương số giàu có thì suốt đời giàu có, nếu nghèo thì sẽ nghèo suốt đời chứ không giống như những người khác chẳng hạn nếu cung Mệnh xấu thì tiền vận có thể cực khổ nhưng cuộc đời về sau có thể thay đổi khá hơn nếu cung Thân tốt đẹp hơn cung Mệnh. Hay ngược lại nếu cung Mệnh tốt đẹp thì cuộc đời của đương số có thể sung sướng từ lúc lọt lòng mẹ cho đến tuổi lập thân. Rồi sau đó có thể đổi đời, trở nên vất vả, cực khổ nếu cung Thân xấu hơn cung Mệnh.
Và điểm đặc biệt cuối cùng là có người cho rằng nếu Mệnh Thân đồng cung tại tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và hai cung Tí Ngọ thì đó là những vị trí không tốt cho người Mệnh Thân đồng cung.
Tóm lại, cuộc đời của những người Thân Mệnh đồng cung là một con đường tương đối bằng phẳng. Dù đường đời của họ có đầy hoa lá hay chỉ toàn sỏi đá, chông gai thì cũng không có những khúc quanh đột ngột, hay những biến động lớn làm thay đổi cả cuộc đời.
MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ PHÚC ĐỨC”

Những người sinh vào giờ Sửu (1am đến 3am) và những người sinh vào giờ Mùi (1pm đến 3pm) đều có số Thân cư Phúc Đức. Trước khi nói đến những nét đặc biệt của mẫu người này chúng ta hãy bàn qua vài ý nghĩa căn bản của cung Phúc Đức. Trong những chương trước chúng ta có nhắc đến một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là nếu Thân cư vào cung nào thì cung đó trở thành lãnh vực chính yếu trong cuộc sống của đương số. Bởi vậy, ý nghĩa đơn giản đầu tiên của cung Phúc Đức là nói về phước đức của đương số có được là do chính bản thân tạo dựng nên hay là do thụ hưởng từ ông bà, cha mẹ, hay của giòng họ nói chung. Cho nên, từ quan niệm đó, khoa Tử Vi xem cung Phúc Đức như nền tảng của một lá số. Nó có thể cứu giải hay làm chiết giảm đi độ số tốt xấu của cung Mệnh hay của một đại hạn, tiểu hạn v.v…Nói một cách khác, cung Phúc Đức cũng như gốc rễ của một cái cây, nếu gốc rễ tốt thì cho dù một vài nhánh cây hư hỏng thì cây cũng có thể ra hoa, kết trái. Nếu gốc rễ đã bị úng thối thì cành cây bên trên dù có xanh tươi thì cũng chẳng được là bao lâu. Cũng có thể đơm hoa kết qủa những cũng không thể tồn tại lâu dài được.
Từ đó chúng ta có một quan điểm đặc biệt đầu tiên của người Thân cư Phúc Đức. Cuộc đời của họ sướng hay khổ, thành hay bại không hoàn toàn do chính khả năng của họ mà phần nào do những trợ lực khác như được người nâng đở, hay thường gặp những vận hội may mắn nào đó. Điều này dễ nhìn thấy ở các lá số Thân cư Phúc Đức mà cung Phúc Đức lại được mọi điều tốt đẹp thì cuộc dời của những người này thường gặp được những may mắn kỳ lạ, giúp họ thành công dễ dàng, hoặc họ có thể vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, tai nạn mà không ai có thể ngờ được. Ngược lại, chúng ta cũng thấy có những người Thân cư Phúc Đức nhưng cung Phúc Đức lại xấu xa mờ ám, cho dù các cung chính yếu Mệnh, Tài, Quan…đều tốt đẹp nhưng chắc chắn cuộc đời của họ vẫn gặp nhiều cảnh thăng trầm.
Như vậy, phải chăng đối với người Á Đông chúng ta thì Phúc Đức là một yếu tố siêu hình đã ảnh hưởng phần nào trong cuộc sống của một đời người?

Một quan niệm khác của khoa Tử Vi đối với cung Phúc Đức là cung này biểu tượng cho cả một giòng họ. Qua cung Phúc Đức mà chúng ta có thể nhìn thấy một cách đại cương về giòng họ của đương sự. Như vậy, những người có Thân cư Phúc Đức thì đặc điểm thứ hai chính là sự liên hệ chặc chẽ của cá nhân đương số với giòng họ của mình. Tùy theo sự tốt hay xấu và ý nghĩa của cung Phúc Đức. Có người tuy khả năng, tài đức không có gì đáng nói cả nhưng vẫn có địa vị chức tước hay bổng lộc nhờ vào sự nâng đở của bà con. Ngược lại, cũng có người được may mắn, có công danh sự nghiệp, giàu sang phú quý, cũng vì cái tình gia tộc mạnh mẽ, họ phải vươn dài cánh tay đễ cưu mang cho cả giòng họ. Đó là trường hợp mà ông bà chúng ta thường nói: “Một người làm quan, cả họ được nhờ.”
Và một điểm đặc biệt sau cùng của mẫu người này là những gì tốt xấu của cung Phúc Đức sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ sau khoản tiền vận, nghĩa là thời điểm đương số thực sự lăn lộn vào đời. Cung đối diện Phúc Đức là Tài Lộc, và đó cũng là cung đầu tiên chịu ảnh hưởng nặng nề những sự tốt, xấu của cung Phúc Đức. Cho nên người Thân cư Phúc Đức sẽ có những thay đổi khá rõ rệt trong khoản thời gian lập thân. Cuộc sống của họ có thể sung sướng hơn nếu cung Phúc Đức tốt đẹp, hoặc cực khổ hơn nếu cung Phúc xấu, nhất là trên vấn đề tiền bạc.
Tóm lại, mẫu người Thân cư Phúc Đức là những người có tinh thần gia đình, gia tộc rất mạnh. Họ thích cuộc sống đại gia đình và giữ được những liên hệ mật thiết với tất cả bà con trong giòng họ dù gần hay xa.   Đây là mẫu người rất nặng tình quê hương. Họ thường lớn lên và sống suốt đời tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình chứ không muốn ly hương hay sống rời xa giòng họ của mình.
Đi xa hơn, cung Phúc Đức trên một lá số cũng tương tự như lãnh vực âm trạch của khoa Phong Thủy, tức là chuyên về mộ phần. Qua cung Phúc Đức, chúng ta có thể nhìn thấy những nét tổng thể về mộ phần của một giòng họ, như mộ phần của một người nào phát, mộ phần của ngườ nào hư, hoặc có thể biết được mộ phần của người nào đó trong giòng họ đã kết phát và đang đặc biệt phò trợ cho đương số.
- Advertisement -